
SỞ GD&ĐT NINH BÌNH
TRƯỜNG THPT NGUYỄN HUỆ
SÁNG KIẾN
TÊN ĐỀ TÀI:
“Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Học sinh
Thông qua bài tập thí nghiệm Vật lí ”
TÁC GIẢ:
Phạm Thị Lan
Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Huệ
Năm học 2020/2021
1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến Sở giáo dục đào tạo Ninh Bình
Tôi ghi tên dưới đây:
TT Họ và tên
Ngày
tháng năm
sinh
Nơi công tác
Chức
vụ
Trình độ
chuyên
môn
Tỷ lệ (%)
đóng góp
vào việc
tạo ra
sáng kiến
1Phạm Thị Lan 23/08/1980
Trường THPT
Nguyễn Huệ TPCM Cử nhân 100
I. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng.
Là tác giả đề nghị công nhận sáng kiến:
“Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Học sinh
thông qua bài tập thí nghiệm Vật lí trong các tiết học tự chọn”
Lĩnh vực áp dụng: Giáo dục
II. Nội dung sáng kiến
1. Lí do chọn đề tài
Một trong những vấn đề cấp thiết của giáo dục Việt Nam hiện nay là nâng
cao chất lượng dạy học ở các cấp học nhằm phát triển năng lực phẩm chất cho Học
sinh. Bộ GD-ĐT đang có những đổi mới mạnh mẽ về nội dụng, phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học. Chất lượng dạy học sẽ chuyển biến đáng kể khi kích thích
được hứng thú, nhu cầu, sở thích và khả năng độc lập, tích cực của học sinh. Để
đạt được điều đó bên cạnh sự đổi mới nội dung, phương pháp thì việc xây dựng
những bài tập gắn liền với tình huống thực tiễn luôn góp phần định hướng học sinh
và phát huy năng lực phẩm chất học sinh một cách đáng kể.
2

Xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là phát huy tính tích cực, chủ
động sáng tạo ở người học, hướng việc tìm tòi khám phá tri thức về phía người học.
Trong dạy học tích cực, người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là
chủ thể của hoạt động học, người học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do
giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều chưa rõ,
những điều mới mẻ, tự mình trực tiếp quan sát, làm thí nghiệm, giải quyết những
vấn đề đặt ra theo cách nghĩ của mình, chứ không phải thụ động tiếp thu những kiến
thức đã được giáo viên sắp đặt sẵn theo khuôn mẫu. Dạy học theo cách này, người
giáo viên không chỉ đơn giản là người truyền đạt kiến thức mà phải là người tổ
chức, chỉ đạo và hướng dẫn người học hoạt động theo hướng tích cực.
Vì vậy, việc lựa chọn các hình thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học mới, hiện
đại phù hợp để có thể phát huy được tính tự tin, tính tích cực chủ động và sáng tạo
trong hoạt động học tập của học sinh, phát triển năng lực người học là điều hết sức
quan trọng của quá trình đổi mới.
Thế nhưng việc dạy học Vật lý ở trường phổ thông hiện nay có một thực trạng
là học sinh chủ yếu học lí thuyết và vận dụng lí thuyết để giải bài tập mà ít có cơ hội
tham gia tích cực vào các hoạt động nhóm, hoạt động khám phá hoặc các mô hình
ứng dụng thực tế trong khoa học kỹ thuật, trong sản xuất. Đặc biệt hơn nữa, trong
môn vật lý trung học phổ thông có rất nhiều phần kiến thức trùng lặp với các cấp
học dưới nên Bộ giáo dục cho phép giảm tải cho học sinh. Vì vậy trong phân phối
chương trình giảng dạy Sở yêu cầu nhà trường tự xây dựng phân phối chương trình
nhà trường. Từ đó, môn vật lý chúng tôi tự xây dựng PPCT riêng cho tổ, trong đó có
phần giảm tải kiến thức, thay vào đó là tăng thêm tiết bài tập cho học sinh (tiết dạy
tự chọn). Môn vật lý, cả ba khối 10, 11, 12 (khối A và A1) đều có 36 tiết tự chọn.
Tuy nhiên, qua quá trình giảng dạy của các GV trong tổ, tôi thấy tiết dạy tự chọn
thường nhàm chán như tiết bài tập thông thường, học sinh không có hứng thú,
không chủ động, tích cực học tập. Đa số Giáo chỉ đưa ra những bài tập thuần túy,
không gây hứng thú cho HS, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo
từ học sinh.
Để cải thiện thực trạng này và đáp ứng yêu cầu của xã hội thì chúng ta cần
phải áp dụng những phương pháp dạy học tích cực như tổ chức hoạt động ngoại
khóa, thực tập thiên nhiên, tổ chức dạy học giải quyết vấn đề... và đặc biệt là
phương pháp dạy học dự án, một phương pháp dạy học đang rất phát triển trên thế
giới.
3

Xuất phát từ những tồn tại trên,và từ một số thành công nhất định trong công
tác đổi mới phương pháp dạy học, tôi xin chia sẻ kinh nghiệm của mình trong mộtsố
tiết học tự chọn: “Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Học sinh
thông qua bài tập thí nghiệm Vật lí trong các tiết học tự chọn”
2. Giải pháp cũ thường làm
Đối với hình thức dạy học truyền thống trên lớp
2.1. Mục tiêu dạy học
- Chú trọng hình thành kiến thức, kỹ năng hàn lâm.
2.2. Nội dung dạy học
- Nội dung được lựa chọn dựa vào các khoa học chuyên môn, được quy định chi
tiết trong chương trình.
- Chú trọng hệ thống kiến thức lý thuyết, sự phát triển tuần tự của các khái niệm,
định luật, học thuyết khoa học. Sách giáo khoa được trình bày liền mạch thành hệ
thống kiến thức.
2.3 Phương pháp dạy học
- Người dạy là người truyền thụ tri thức, học sinh tiếp thu những tri thức được quy
định sẵn.
- Giáo án thường được thiết kế theo trình tự đường thẳng, chung cho cả lớp
- Giáo viên sư dụng nhiều PPDH truyền thống (thuyết trình, hướng dẫn thực hành,
trực quan…)
- Không sử dụng hoặc rất ít khi sử dụng Hoạt động ngoại khóa
2.4. Môi trường học tập
Thường sắp xếp cố định (theo các dãy bàn), người dạy ở vị trí trung tâm.
2.5. Kiểm tra - đánh giá
- Tiêu chí đánh giá chủ yếu được xây dựng dựa trên kiến thức, kỹ năng, thái độ
gắn với nội dung đã học.
- Người dạy được toàn quyền trong đánh giá.
2.6. Sản phẩm giáo dục
- Tri thức người học có được chủ yếu là ghi nhớ
- Do kiến thức có sẵn nên người học phụ thuộc vào Giáo trình/Tài liệu/Sách giáo
khoa.
2.7. Kết quả dạy học theo giải pháp cũ.
Học sinh chưa thật sự hứng thú học tập đối với bộ môn Vật lí vì kiến thức
khá trừu tượng .
Đa số học sinh THPT chưa có định hướng nghề nghiệp rõ nét nên ý thức
học tập bộ môn chưa cao, các em còn học theo cảm xúc và chưa hình thành thói
quen học tập chủ động sáng tạo nghiêm túc.
4

Chúng tôi đã làm một cuộc khảo sát lấy ý kiến về thực trạng của bộ môn
Vật lí của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Tam Điệp . Kết quả thu được từ
200 học sinh của trường THPT Nguyễn Huệ trong 2 năm học 2017-2018, 2018-
2019:
Chất lượng giảng dạy trung bình bộ môn Vật lí tại trường THPT Nguyễn
Huệ
Năm học
(0/0) Số HS
Loại giỏi
(0/0) Số HS
Loại Khá
(0/0) Số HS
Loại Trung bình
(0/0) Số HS
Loại Yếu
2017 - 2018 5,15 20,85 64,5 9,5
2018 - 2019 5,2 20,8 64 10
Bảng 1.1. Chất lượng môn Vật lí năm học 2018 - 2019
Sự yêu thích môn học Vật lí:
Năm học
Tổng số học sinh Số học sinh yêu thích môn Vật lí
Số HS Số HS ( % )
2017 – 2018 200 64 32
2018 - 2019 200 70 35
Bảng 1.2. Thực trạng sự yêu thích môn Vật lí trong hai năm học
Khả năng tiếp cận, ứng dụng môn Vật lí vào giải thích các hiện
tượng thực tế và đời sống:
Khảo sát việc vận dụng kiến thức lý thuyết giải thích
các hiện tượng thực tế của đời sống
Số ý
kiến Tỷ lệ %
Chưa biết cách học gắn với hành 20 10
Thường xuyên học gắn với hành 0 0
Áp dụng bình thường học gắn với hành 30 15
Rất ít khi áp dụng học gắn với hành 30 15
Chỉ học lí thuyết không liên quan đến thực tế, không
được trải nghiệm thực tế
120 60
Bảng 1.3. Ý kiến của Học sinh về việc tiếp cận và ứng dụng các phương
pháp dạy học gắn với thực tiễn đời sống năm học 2017 – 2018; 2018 - 2019
2.8. Ưu, nhược điểm của giải pháp cũ
a. Ưu điểm:
+ Phương tiện, thiết bị và đồ dùng dạy học:
5

