
1
PHỤ LỤC 2
BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến
I- Sơ lược lý lịch tác giả
- Họ và tên: Nguyễn Văn Thông Nam, nữ: Nam
- Ngày tháng năm sinh: 25/05/1990.
- Nơi thường trú: xã Long Giang, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đơn vị công tác: Trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu.
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên
- Lĩnh vực công tác: Giảng dạy bộ môn GDQP-AN.
II. Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị
- Trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu dưới sự chỉ đạo của Ban giám Hiệu, trường có
tổng số 36 lớp trong đó có 6 lớp cơ bản, giáo viên có chuyên môn cao, học sinh chăm ngoan
học giỏi và có nề nếp học tập rất tốt.
- Thuận lợi
+ Được sự quan tâm giúp đỡ từ Ban Giám hiệu nhà trường, đã tạo điều kiện thuận lợi
về mọi mặt cho tổ bộ môn, nên việc triển khai cho công tác giảng dạy môn QPAN rất tốt.
+ Học sinh đa số đều có học lực giỏi, nên bản thân khi đứng lớp truyền đạt những kiến
thức chuyên sâu cho các em. Các em cũng hứng thú trong việc học tập và tích cực luyện tập
ở những nội dung thực hành.
+ Cơ sở vật chất đáp ứng đầy đủ tạo điều kiện rất thuận lợi cho cả thầy và trò.
+ Học sinh trong trường được đảm bảo kỷ cương, nề nếp, chăm ngoan học tập.
- Khó khăn
+ Bản thân là giáo viên trẻ mới ra trường nên kinh nghiệm còn học hỏi rất nhiều từ
đồng nghiệp.
+ Một số học sinh nghĩ đây là môn học phụ nên còn lơ là trong việc học.
+ Trang thiết bị chủ yếu là súng mô hình nên dễ bị hư hỏng và luyện tập có phần
không như những thiết bị thật (súng tiểu liên AK).
Từ những thuận lợi và khắc phục được những khó khăn trên tôi mạnh dạn thực hiện
sáng kiến: “Vận dụng đồ dùng dạy học tự làm để giảng dạy bộ môn GDQP-AN ở trường
THPT”.
Tên sáng kiến: Vận dụng đồ dùng dạy học tự làm để giảng dạy bộ môn GDQP-AN ở
trường THPT.
Lĩnh vực: sáng kiến sáng tạo đồ dùng dạy học.
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THPTC TNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
An Giang, ngày 19 tháng 09 năm 2018

2
III- Mục đích yêu cầu của sáng kiến
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
- Bộ môn GD.QPAN đã từ lâu được đưa vào chương trình dạy học chính khóa trong các
trường THPT. Thời gian gần đây nhất, Thông tư 32/2018/TT/BGDĐT ban hành ngày
26/12/2018 về việc ban hành “Chương trình giáo dục phổ thông mới” môn GDQP-AN là
một trong 5 môn được giảng dạy bắt buộc chính khóa. Vị thế của bộ môn ngày một nâng cao
đòi hỏi giáo viên giảng dạy phải đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp, áp dụng hiệu quả
ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy để đa dạng hóa nội dung môn học.
- Nắm bắt được sự đổi mới đó, trong những năm qua các trường THPT đã được cung
cấp khá nhiều trang thiết bị và đồ dùng dạy học, các thiết bị đồ dùng dạy học hết sức đa dạng
để phục vụ cho bộ môn GDQP-AN. Thế nhưng, thống kê theo danh mục thì số lượng thiết bị
để giảng dạy vẫn chưa đáp ứng đầy đủ thực tế giảng dạy.
- Bên cạnh đó, những bậc phụ huynh hay các em học sinh vẫn còn thờ ơ và xem môn
học này là môn học phụ. Vì thế, các em chỉ học một cách qua loa, học để lấy điểm, để khỏi
bị khống chế, còn giáo viên là nguồn kiến thức duy nhất cho các em ghi nhớ bài học, các em
chỉ ghi chép tóm tắt hoặc là ghi nhận lại dòng thời gian học tập để nắm kiến thức do thầy cô
truyền thụ…Chính vì thế, một số giáo viên cảm thấy bất mãn với bộ môn của mình giảng
dạy hoặc nếu giảng dạy thực thụ thì chỉ cung cấp dưới dạng sự kiện, học thuộc lòng, chỉ
dừng lại ở dạng câu hỏi và trả lời, dẫn đến nguồn kiến thức hạn hẹp.
Cho nên, giảng dạy bộ môn GDQP-AN trong giai đoạn đổi mới phải thực hiện một
cách toàn diện và đồng bộ cả về phương pháp giảng dạy và vận dụng tất cả các trang thiết bị
đồ dùng dạy học sẵn có, kể cả đồ dùng dạy học tự làm để tăng thêm tính hứng thú khi học
sinh lên lớp.
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
- Theo Thông tư 32/2018/TT/BGDĐT ban hành ngày 26/12/2018 về việc ban hành
“Chương trình giáo dục phổ thông mới” và Nghị quyết 29-NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, sau khi Quốc hội thông qua Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo
dục phổ thông, Bộ GD-ĐT tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường bồi dưỡng, nâng
cao năng lực cho đội ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu đổi mới, trong đó vận dụng và
sáng tạo đồ dùng dạy học tự làm là một trong những vấn đề cần được thực hiện và áp dụng.
Một trong những yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng hoạt động dạy học nói
chung và dạy học môn GDQP nói riêng là phương pháp dạy học. Chính vì vậy, trong những
năm gần đây việc đổi mới phương pháp dạy học đã được triển khai và thực hiện rộng khắp
hệ thống giáo dục trong tỉnh. Tuy nhiên, do đội ngũ giáo viên GDQP-AN ở các trường
THPT mới bắt đầu làm quen với hoạt động dạy học môn GDQP-AN và do tính đặc thù của
môn học này, việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn GDQP-AN ở các trường
THPT còn chậm.

3
Đổi mới giảng dạy môn GDQP phải gắn với đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực gắn với tận dụng “đồ dùng dạy học”. Trong các môn giảng dạy có phần thực
hành nói chúng và môn GDQP-AN nói riêng thì “đồ dùng dạy học” vừa là nguồn cung cấp
tri thức, vừa là công cụ hữu ích để hỗ trợ hướng dẫn thực hành, luyện tập thực hành và kiểm
tra đánh giá. “Đồ dùng dạy học” làm bộc lộ những khái niệm và quy trình trừu tượng phức
tạp trong môn GDQP-AN; thu hút sự chú ý và tạo hứng thú học tập của học sinh, từ đó nâng
cao chất lượng hoạt động dạy và học môn GDQP-AN. “Đồ dùng dạy học” còn hỗ trợ phát
triển khả năng quan sát, phân tích, tổng hợp, từ đó phát triển năng lực hoạt động trí tuệ của
học sinh.
Nhận thức được ý nghĩa to lớn của việc sử dụng “đồ dùng dạy học” trong dạy học
môn GDQP, trong thời gian gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), Sở giáo dục trong
tỉnh đã quan tâm đến việc thúc đẩy ban hành “Hội thi làm đồ dùng dạy học” trong đó bộ môn
GDQP-AN là môn học có rất nhiều đồ dùng được áp dụng.
Những năm gần đây, đồ dùng dạy học đặc thù sử dụng trong dạy học môn GDQP-AN
được cải thiện cả về mặt số lượng lẫn chất lượng; các cơ sở giáo dục đã cố gắng trong việc
cải thiện cơ sở vật chất, đầu tư sáng tạo và tự làm thiết bị để đáp ứng yêu cầu sử dụng; các
giáo viên dạy môn GDQP-AN đã quan tâm hơn đến việc sử dụng đồ dùng dạy học trong
giảng dạy.
Từ những lý do nêu trên, tôi nhận thấy nghiên cứu: “Vận dụng đồ dùng dạy học tự làm
để giảng dạy bộ môn GDQP-AN ở trường THPT” là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa
thực tiễn.
3. Nội dung sáng
3.1. Tiến trình thực hiện
3.1.1. Ý nghĩa của đồ dùng dạy học đối với môn GDQP-AN
Môn học GDQP-AN có nhiều khái niệm trừu tượng, khái quát, phức tạp, có thể gây
khó khăn cho người học trong việc hiểu rõ bản chất của từng nội dung. Đồ dùng dạy học có
khả năng làm bộc lộ những thuộc tính của sự vật hiện tượng, mối quan hệ giữa chúng, từ đó
đơn giản hóa, cụ thể hóa những khái niệm trừu tượng, phức tạp. Chính nhờ vậy, việc minh
họa bằng đồ dùng dạy học giúp việc giảng giải của giáo viên rõ ràng hơn, hiệu quả hơn, từ đó
học sinh hiểu bài dễ dàng, sâu sắc hơn.
Người xưa đã từng nói:
“Nếu tôi nghe, tôi sẽ quên
Nếu tôi thấy, tôi sẽ nhớ
Nếu tôi làm, tôi sẽ biết”.
Trong quá trình nhận thức, học sinh sử dụng các giác quan để tiếp nhận thông tin, từ
đó thực hiện quá trình tư duy để hình thành khái niệm khái quát. Càng sử dụng nhiều giác
quan thì xác suất thông tin được tiếp nhận càng cao. Chính vì vậy, ý nghĩa đầu tiên của việc
sử dụng đồ dùng dạy học là kết hợp sử dụng thị giác và thính giác để tiếp nhận thông tin. Bên

4
cạnh đó, thông tin được tiếp nhận thông qua cả hai kênh (hình và tiếng) có khả năng giúp não
hình thành cùng một lúc hai loại biểu tượng, biểu tượng hình ảnh và biểu tượng ngôn từ, từ
đó giúp người học nhớ tốt hơn (theo Paivio, 1986).
Theo quan niệm thông thường, môn GDQP-AN là môn học khô khan, khó phù hợp
với đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học sinh. Mặt khác, học sinh cũng chưa ý thức nhiều về vai
trò, ý nghĩa của môn học. Chính vì vậy, bản thân môn GDQP-AN rất khó thu hút sự chú ý và
tạo hứng thú ở học sinh. Tuy nhiên, việc sử dụng đồ dùng dạy học trong dạy học môn
GDQP-AN có thể cải thiện được tình trạng này. Với hình ảnh sinh động, màu sắc, chuyển
động hấp dẫn…, đồ dùng dạy học có khả năng thu hút và duy trì chú ý của học sinh vào nội
dung bài học. Bên cạnh đó, tính sinh động, hấp dẫn của đồ dùng dạy học giúp tăng hứng thú
của học sinh đối với nội dung môn học và với hoạt động học tập môn GDQP-AN. Cả việc
tăng cường chú ý và hứng thú học tập đều tác động làm nâng cao hiệu quả hoạt động nhận
thức, chất lượng hoạt động học.
Ngoài ra, đồ dùng dạy học còn giúp người học phát triển khả năng quan sát, phân tích,
tổng hợp các hiện tượng để rút ra kết luận, đó đều là những thành phần quan trọng góp phần
phát triển năng lực trí tuệ của học sinh.
Với giáo viên, đồ dùng dạy học có thể là phương tiện dạy học, nguồn tri thức bổ sung,
hỗ trợ giáo viên trong quá trình điều khiển hoạt động học tập trên lớp, hướng dẫn học sinh tự
học ở nhà cũng như việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Thấy được việc sử dụng đồ dùng dạy học vô cùng phù hợp và đạt được hiệu quả cao
trong quá trình giảng dạy. Bản thân cũng được hiểu rõ thế nào là “đồ dùng dạy học”, thế nào
là “tư liệu trực quan” nên tôi mạnh dạn xây dựng kế hoạch, chủ động tự làm những đồ dùng
dạy dạy đặc thù ở bộ môn GDQP-AN đồng thời áp dụng ngay trên từng khối, lớp học. Vậy
thế nào “đồ dùng dạy học” và “đồ dùng dạy học” làm đổi mới phương pháp dạy học như thế
nào?
3.1.2. Khái niệm, chức năng và vai trò của đồ dùng dạy học
3.1.2.1. Khái niệm
Cụm từ “đồ dùng dạy học” được thể hiện rất nhiều tên gọi: có người gọi là đồ dùng dạy
học, cũng có người gọi là đồ dùng dạy học trực quan, có khi lại gọi là tư liệu trực
quan…nhưng cách thức diễn đạt khái niệm này cũng khác nhau.
Đồ dùng dạy học (ĐDDH) là phương tiện rất cần thiết cho GV và HS tổ chức và tiến
hành hợp lí có hiệu quả quá trình giáo dục và dạy học các môn học, cấp học.
ĐDDH là một vật thể hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người GV sử dụng với tư
cách là phương tiện để điều khiển hoạt động nhận thức, là phương tiện giúp HS lĩnh hội khái
niệm, định luật, thuyết khoa học…
ĐDDH là điều kiện để đảm bảo cho hoạt động dạy học, là thành tố chủ yếu và quan
trọng nhất của cấu trúc hệ thống cơ sở vật chất trường học.

5
ĐDDH theo Locx Klinbơ (Đức) thì ĐDDH hay còn gọi là thiết bị dạy học; dụng cụ dạy
học…) là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết cho giáo viên và học sinh tổ chức và
tiến hành hợp lí có hiệu quả trong quá trình giáo dưỡng và giáo dục ở các môn học cấp học.
Từ những khái niệm trên chuyên gia thiết bị của giáo dục Việt Nam đúc kết rằng:
ĐDDH là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc 1 tập hợp đối tượng vật chất mà người GV sử dụng
với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS, còn đối với HS thì đó là
các nguồn tri thức, là các phương tiện giúp HS lĩnh hội các khái niệm, định luật, thuyết khoa
học,… hình thành ở học sinh các kĩ năng, kĩ xảo, đảm bảo phục vụ mục đích dạy học…
Từ sự phân tích về bản chất của ĐDDH để nhằm đổi mới phương pháp dạy học trong
giai đoạn hiện nay chúng ta có khái niệm như sau: ĐDDH là một bộ phận của cơ sở vật chất
trường học, bao gồm những đối tượng vật chất được thiết kế sư phạm mà giáo viên sử dụng
để điều khiển hoạt động nhận thức của HS đồng thời thiết bị dạy học còn là nguồn tri thức,
là phương tiện giúp HS lĩnh hội hiệu quả tri thức, hình thành kĩ năng đảm bảo cho việc thực
hiện mục tiêu dạy học.
Theo quan điểm lí luận dạy học hiện đại thì ĐDDH là một trong 6 thành tố chủ yếu của
quá trình dạy học. Vậy ĐDDH có vị trí, chức năng và vai trò như thế nào trong quá trình đổi
mới phương pháp giảng dạy ở bộ môn?
3.1.2.2. Chức năng
- Trước tiên phải nói đến vị trí của đồ dùng dạy học: ĐDDH là vật dụng không thể
thiếu được vì nó đóng vai “người minh chứng khách quan” những vấn đề lí luận, liên kết
giữa lí luận và thực tiễn. Mặt khác, ĐDDH là phương tiện thực nghiệm, trực quan, thực
hành; trong khi đó, bất kì một hoạt động nào cũng luôn đi liền với tư duy và tư duy luôn gắn
kết với hoạt động. Vì thế thiết bị dạy học sẽ tạo ra sự toàn vẹn của hoạt động nhận thức;
đồng thời phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học và hơn nữa
ĐDDH góp phần to lớn vào việc vận dụng và đổi mới phương pháp – giáo dục và dạy học.
- Chức năng cơ bản và quan trọng nhất của ĐDDH là chức năng thông tin.
+ ĐDDH chức đầy đủ thông tin về nội dung dạy học. Người dạy hiểu biết về những
thông tin đó và sử dụng ĐDDH để chuyển tải thông tin đến người học.
+ ĐDDH chứa thông tin PPDH, nó hướng người dạy đến việc lựa chọn PPDH nào hợp
lí và hiệu quả.
- ĐDDH có chức năng phản ánh.
+ ĐDDH là thực hiện khách quan (hoặc mô tả hiện thực khách quan một cách ước lệ),
nó phản ánh các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các quy luật khách quan của xã hội của tự
nhiên và của tư duy. Các nội dung và chi tiết mà nó phản ánh sẽ được người dạy và người
học tiếp nhận trong quá trình dạy học và cùng nhau tương tác, phối hợp tổ chức thực hiện
các nhiệm vụ dạy học.
- ĐDDH có chức năng giáo dục

