SỬ DỤNG CHỈ SỐ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG
TRONG HOCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
NGÂN HÀNG: CÁCH TIẾP CẬN MÔ HÌNH THUYẾT
APPLICATION OF CUSTOMER SATISFACTION INDEX - CSI IN BUILDING
BANK BUSINESS STRATEGIES: APPROACHING THE THEORY MODEL
LÊ VĂN HUY
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TÓM TT
Chshài lòng của khách hàng (Customer Satisfaction Index CSI) được ứng dụng nhằm đo
lường sự thõa mãn của khách hàng đối với các ngành, các doanh nghiệp nhiều quốc gia
phát triển trên thế giới. Xây dựng và ứng dụng chỉ sCSI của các ngân hàng giúp cho việc
xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin vsự hài lòng của khách hàng, làm sở cho các vic
hoạch định chiến lược cạnh tranh, tiếp th, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại
nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh của ngành khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO).
ABSTRACT
The developed countries in the world have applied Customer Satisfaction Index –CSI to
measure customer’s satisfaction in their industries and enterprises. The building and
application of CSI in Vietnam’s banks will enable the banks to set up their customer’s
satisfactions information system as well. This system will be the basis to build competitive
strategies, launch marketing strategy, create brand name, promote trade and to increase
competitive capacity when joining into the World Trade Organization (WTO).
2. Ch số hài lòng của khách hàng
2.1. Nguồn gốc và việc sử dụng chỉ số hài lòng của khách hàng
Vic thỏa mãn khách hàng trthành một tài sản quan trọng đối với các doanh nghiệp
tchức trong n lực nâng cao chất lượng dịch vụ, givững sự trung thành, nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp [7]. m 1989, chỉ số (barometer) đo mức độ hài lòng đầu
tiên được ra đời tại Thụy Điển (Swedish Customer Satisfaction Barometer - SCSB) nhm
thiết lập chỉ số hài lòng của khách hàng đối với việc mua và tiêu dùng sn phẩm - dịch v nội
địa. Trong những năm sau đó, chỉ số này được phát trin và ứng dụng rộng rãi tại các nước
phát trin như Mỹ - ACSI [4], Na Uy NCSI [2, 3], Đan Mạch - DCSI và các quc gia EU
ECSI (1998) [8]. Ch số này ththực hiện trên phương diện quốc gia (các doanh nghiệp,
các ngành sthỏa mãn như thế nào đối với khách hàng của họ) hoặc c độ ni b ngành
(so sánh sthỏa mãn của các doanh nghiệp trong phạm vi một ngành) và so sánh giữa các
thời điểm khác nhau (để nhận thấy sự thay đổi). Từ đó, các doanh nghiệp thể biết được v
thế, sự đánh giá của khách hàng đối với doanh nghiệp để hoạch định các mục tiêu chiến
lược kinh doanh.
2.2. Mục tiêu của việc sử dụng chỉ số hài lòng khách hàng (CSI)
Nghiên cứu và ứng dụng CSI ở cấp doanh nghip là việc (1) xác định các yếu tố (biến)
tác động đến nhận thức chất lượng hay sự hài ng của khách hàng; (2) lượng hóa trọng số
hay mức độ quan trọng của mỗi yếu tố trong tương quan với các yếu t khác; (3) xác định
mức độ hài lòng ti thời điểm nghiên cứu của kch hàng, (4) so sánh đánh giá của khách
hàng trên từng tiêu c với đối thủ cạnh tranh hay với chính mình trong quá khứ (mục tiêu này
thhiện rõ hơn khi CSI được trin khai ở cấp độ toàn ngành đa ngành), (5) ợng hóa mi
liên hgiữa mức độ hài lòng với các đại lượng tiếp thị khác (lòng trung thành, phần của khách
hàng); (6) so sánh cấu trúc sự hài lòng, mc độ hài lòng tác động của sự hài lòng giữa các
nhóm khách hàng khác nhau ca công ty”. Cũng theo tác giả, “các doanh nghiệp cn coi CSI
như một hình thức kiểm toán hằng năm với tài sn vô hình là uy tín, thương hiệu, tình cảm mà
khách hàng dành cho mình, các thông tin của CSI cần được liên tục cập nhật vào hthống
thông tin của doanh nghiệp để làm strong việc hoạch định các chiến lược trong tương
lai”.
2.3. Mô hình chsố hài lòng của khách hàng (CSI model)
Ch số hài hài lòng của khách hàng bao gm các nhân t(biến), mi nhân tố được cấu
thành tnhiều yếu tcụ th(indicators, items) đặc trưng của sản phẩm hoặc dch vụ. Sự hài
lòng khách hàng (customer satisfaction) được đnh nghĩa như một sự đánh giá toàn din về
sự sử dụng mt dịch vụ hoặc hoạt động sau bán của doanh nghiệp và đây chính điểm cốt lõi
của mô hình CSI. Xung quanh biến số này hthống các mi quan hnhân quả (cause and
effect) xuất phát tnhững biến số khởi tạo như smong đợi (expectations) của khách hàng,
hình ảnh (image) doanh nghiệp và sản phẩm, chất lượng cảm nhận (perceived quality)
giá trị cảm nhận (perceived quality) vsản phẩm hoặc dch vụ kèm theo đến các biến số kết
qucủa sự hài lòng như strung thành (customer loyalty) hay sthan phiền của khách
hàng (customer complaints).
Hình 1. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ
(American Customer Satisfaction Index – ACSI)
Trong mô hình ch số hài lòng của Mỹ (ACSI), giá trị cảm nhận chịu tác động bởi chất
lượng cảm nhận và smong đợi của khách hàng. Khi đó, smong đợi của khách hàng tác
động trực tiếp đến chất lượng cảm nhận. Trên thực tế, khi mong đợi càng cao, thtiêu
chuẩn về chất lượng cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm càng cao hoặc ngược lại. Do
vậy, yêu cầu về chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng cn phải đảm bảo
được thỏa mãn trên cơ sở sự hài ng của họ. Shài lòng của khách hàng được tạo thành
trên sở chất lượng cảm nhận, sự mong đợi và giá tr cảm nhận, nếu chất lượng và giá tr
cảm nhận cao hơn sự mong đợi sẽ tạo nên lòng trung thành đối với khách hàng, trường hợp
ngược lại, đấy là sự phàn nàn hay sự than phiền về sản phẩm mà họ tiêu dùng (hình 1).
Giá tr
cảm
nhận
(Perceived
value)
S
ự h
ài
lòng của
khách
hàng (SI)
S
ự than phiền
(Complaint)
S
ự mong đợi
(Expectations)
C
h
ất l
ư
ợng cảm nhn
(Perceived quality)
S
ự trung th
ành
(Loyalty)
Hình 2. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU
(European Customer Satisfaction Index – ECSI)
hình chsố hài lòng cu Âu (ECSI) mt số khác biệt nhất định. So với ACSI,
hình ảnh của sản phẩm, thương hiệu tác động trực tiếp đến sự mong đợi của khách hàng.
Khi đó, sự hài lòng của khách hàng stác động tổng hòa của 4 nhân thình nh, giá tr
cảm nhận, chất lượng cảm nhận vcsản phẩm hữu hình hình. Thông thường, chỉ số
ACSI thường áp dụng cho lĩnh vực công còn chsECSI thường ứng dụng đo lường các sản
phẩm, các ngành (hình 2).
ràng, điểm mạnh của cách tiếp cận này là làm dịch chuyển ngay tức khắc kinh
nghiệm tiêu ng, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu mối quan hnhân quả đối giữa các yếu
tcấu thành shài lòng và sự trung thành của khách hàng. Do vậy, mục tiêu đầu tiên của việc
tiếp cận theo cấu trúc CSI là việc giải thích sự trung thành của khách hàng đối với mt sản
phẩm i riêng hay mt doanh nghiệp, mt quốc gia nói chung thông qua chỉ số hài lòng
khách hàng khi chu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp bởi hình nh, sự mong đợi, chất
lượng cảm nhận (về sản phẩm hoặc dịch vụ) và giá tr cảm nhận đối với sản phẩm và dịch vụ
đó.
3. Xây dựng hình thuyết về chỉ số hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực ngân
hàng
3.1. Xây dựng mô hình
Tại một số nước trên thế giới, c nhà nghiên cu đã phát triển một mô hình vchỉ số hài
lòng của khách hàng được ng dụng chung cho hầu hết các doanh nghiệp hoặc các ngành.
Trong điều kiện Việt Nam chưa pt trin hình này, trên cơ sở những kết quả nghiên cu
mô hình của các nước và thực tế của nh vực ngân hàng tại Việt Nam, những yếu tố cụ thể
(items) để đo lường các biến số được xem xét trong mô hình như sau:
- Hình ảnh (Image): Hình ảnh biểu hiện mi quan hệ giữa thương hiệu (nhãn hiệu) và
sự liên tưởng của khách hàng đối với các thuộc tính của thương hiệu (nhãn hiệu). Biến số này
được thhiện bởi danh tiếng, uy tín, lòng tin của chính người tiêu dùng đối với thương hiệu.
Các nghiên cứu thực tin đã khẳng định rằng, đây là nhân t quan trọng tác động trực
tiếp đến sự hài lòng của khách hang [8, 4]. Đồng thời, nó ng mi quan hđồng biến
(positive) đối với sự hài lòng strung thành đối với sản phẩm hoặc thương hiệu. Trong
lĩnh vực ngân hàng, hình nh đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định nơi vay hoặc
Giá tr
cảm
nhận
(Perceived
value)
S
ự h
ài lòng
ca khách
hàng (SI)
Ch
ất l
ư
ợng cảm nhn về
– sản phẩm
(Perceved quality-Prod)
d
ịch vụ
(Perceved quality–Serv)
S
ự trung th
ành
(Loyalty)
Hình
ảnh
(Image)
S
ự mong đợi
(Expectations)
gửi tiền, đòi hi các ngân hàng cn phải định vị và xây dựng hình ảnh của mình trên cơ s
những thuộc tính quan trọng nhằm thiết lập một sự cảm nhận tốt nhất đối với đối thủ cạnh
tranh, giúp khách hàng dễ dàng nhận diện được thương hiệu.
- Smong đợi (Expectations): thhiện mức độ chất lượng khách hàng mong đợi
nhận được, các thông số đo lường sự mong đợi gắn liền với những thông số của hình nh
chất lượng cảm nhận của sản phẩm và dịch vụ. Đây là kết quả của kinh nghiệm tiêu ng
trước đó hoặc thông tin thông qua những kênh truyn thông đối với sản phẩm hoặc dịch vụ.
Trong mt số ngành, thể, biến số này không mi quan hệ với giá tr cảm nhận, kết quả
này cũng được thể hiện trong nghiên cứu của Martensen và cng sự (2000). Trên thực tế,
mong đợi càng cao thì càng d khả năng dẫn đến quyết định mua nhưng mong đợi càng
cao t khnăng ngân hàng thỏa mãn kch hàng đó càng khó.
- Chất lượng cảm nhận (Perceived quality): 2 loi chất lượng cảm nhận: (1) chất
lượng cảm nhận sản phẩm (hữu hình): sđánh giá về tiêu ng sn phẩm gần đây của
khách hàng đối với sản phẩm và (2) chất lượng cảm nhận dịch vụ (vô hình) là sự đánh gc
dch vụ liên quan như dịch vtrong sau khi bán, điều kin cung ng, giao hàng… của
chính sn phẩm. Do vậy, cả hai được tạo thành bởi những thuộc tính quan trọng (importants
attributs) được kết tinh trong chính sản phẩm dch vụ. Với đặc thù hình, sn phẩm ngân
hàng được xem xét trong trường hợp này điều kiện cho vay, các điều kiện tín dụng, thời
gian tkhi nộp hồ vay đến khi được vay vốn, phong cách của nhà qun và các chuyên
viên tư vấn, không khí tại quầy giao dịch, các cam kết sau khi vay và các điều kiện ràng buc
khác…
- Giá trcảm nhận (Perceived value): Các nghiên cứu vthuyết cho thấy, sự hài
lòng của khách hàng phthuộc vào giá tr cảm nhận của hàng hóa dịch vụ [8]. Giá tr là
mức độ đánh giá / cảm nhận đối với chất lượng sản phẩm so với gphải trả hoặc phương
diện “giá trị không chỉ bằng tin” mà khách hàng tiêu dùng sản phẩm đó. Theo Kotler (2003),
giá tr dành cho khách hàng là chênh lệch giữa tng giá trị mà khách hàng nhận được và tng
chi pkhách hàng phải trả về một sản phẩm/dịch vụ nào đó. Đối với ngân hàng, đó
tổng số tin phải trả (tin lãi vay, các chi phí đi vay (kể cả chi pchính thức và phi cnh
thức)), nhng chi p về thời gian, ng sức và chi p rủi ro khác so với gtrị dch vụ (lợi
ích hữu hình mang lại), giá tr tâm lí, niềm tin và giá tr nhân lực. Hiệu số giữa giá tr và chi
phí bra chính là giá tr cảm nhận mà dịch vụ ngân hàng mang lại cho khách hàng.
Hình 3. Mô hình lí thuyết về chỉ số hài lòng khách hàng của các ngân hàng
Giá tr
cảm
nhận
(Perceived
value)
Hình
ảnh
(Image)
S
ự mong đợi
(Expectations)
T
ỉ suất
(Price)
Ch
ất l
ư
ợng cảm nhn về
– sản phẩm
(Perceved quality-Prod)
– d
ịch vụ
(Perceved quality–Serv)
S
ự than phiền
(Complaint)
S
ự trung th
ành
(Loyalty)
S
ự h
ài lòng
ca khách
hàng (SI)
Hình 4. Mô hình hoạch định chiến lược lấy
mục tiêu thỏa mãn khách hàng làm trung tâm
Xây dựng chiến
lược, chương
trình hành động
Điều chỉnh tỉ suất
giá trị khách
hàng
(nếu có)
Phân đoạn hoặc
tái
phân đoạn
(nếu có)
Thu thập
phân ch CSI
Thực hiện
đo lường kết
quả thực hiện
Mục tiêu:
Sự thoả mãn
khách hàng
và lòng trung
thành
- Tsuất vay (cho vay): Đây biến số mới được đề nghị xem xét trong hình
thuyết. Do đặc điểm biến động của thị trường tài chính Vit Nam và những đặc thù của văn
hóa kinh doanh, g cả sản phẩm hay t suất tin vay (tiền gửi) luôn được khách hàng so sánh,
đánh ggiữa các ngân hàng. Tsuất của ngân ng được xem như yếu tố giá (price) đối
với một sản phẩm và biến số này đóng vai trò trung gian trong mi quan hệ giữa hình nh, sự
mong đợi và chất lượng cảm nhận với giá trị cảm nhận của khách hàng.
- Strung thành (Loyalty): là biến số cuối cùng trong hình mang tính quyết
định đến sự tồn vong của doanh nghiệp trong tương lai, được đo lường bởi ý định tiếp tục
mua, lòng tin sự giới thiệu với người khác về sản phẩm và dch vụ mà họ đang dùng [2, 3].
Ngược lại với sự trung thành sthan phiền khi khách hàng không i lòng với sản phẩm
dch vụ so với những mong muốn của họ. Sự trung thành của khách hàng được xem như một
tài sn của doanh nghiệp, vì vậy, các doanh nghiệp cần phải tạo ra sự hài lòng đối với khách
hàng hàng nâng cao sự trung thành của họ đối với doanh nghiệp.
3.2. Phương pháp đo lường các chỉ số trong mô hình
Nghiên cứu định tính sẽ xác định c yếu tđặc trưng (indicators, items) cần phải đo
lường trong mi biến số, dụ, đối với ngân hàng, biến số hình nh (image) được đo lường
bởi uy tín, số lượng chi nhánh giao dch, kênh giao dch tđộng, sự n định của quá trình
kinh doanh, không ktrong quá trình giao dịch… Các yếu tthuộc các biến hình ảnh, sự
mong đợi, chất lượng cảm nhận, giá tr cảm nhận, sự trung thành (sự than phiền) thường được
“lượng hóa” thông qua thang Liket t5 đến 10 lựa chọn và biến số sự hài lòng của kch
hàng thường sử dụng thang điểm 10 hoặc 100. Điểm của biến số là điểm trung bình ca các
yếu tcụ th(items) được sử dụng để hình thành nên biến số đó. Sau khi dữ liệu thu thập
tphía khách hàng, thdùng ng cphân tích nhân tố (factor analysis) và ng cphân
tích độ tin cậy (reliability analysis) trong việc kiểm tra tính tương đồng trong việc thành lập
các biến số từ các yếu tố cụ thể (items).
4. ng dụng chỉ số hài lòng của khách hàng trong hoạch định chiến lược
Ch số hài lòng khách hàng
(CSI) là mt chỉ số chuẩn
hoá, cho phép so sánh các
thương hiệu hoặc sản phẩm
khác nhau trong cùng lĩnh
vc kinh doanh, t đó, ngân
hàng th xác đnh các
vùng “trung thành”, vùng
“không skhác biệt” hay
vùng “tbỏ” của khách hàng
đối với doanh nghiệp mình
hay đối thủ cạnh tranh.
Thông tờng các ngân hàng
điểm số (trung bình) vsự
hài lòng t 80-100 s là
những ngân hàng nhận được
strung thành cao của khách
hàng, khách hàng s nhận
thức “không sự khác biệt”
giữa các ngân hàng nếu điểm
s về sự hài lòng nằm trong
vùng 50 đến cận 80, trong