intTypePromotion=1
ADSENSE

Tác nhân vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết và sự đề kháng kháng sinh tại khoa hồi sức cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy

Chia sẻ: Hạnh Hoa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

74
lượt xem
6
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát sự phân bố của các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp, đặc điểm lâm sàng liên quan và sự đề kháng kháng sinh của chúng. Nghiên cứu thu thập dữ liệu bệnh án có các kết quả cấy máu dương tính và kháng sinh đồ từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2013 tại khoa hồi sức cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tác nhân vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết và sự đề kháng kháng sinh tại khoa hồi sức cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Phụ bản của Số 1 * 2015<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> TÁC NHÂN VI KHUẨN GÂY NHIỄM KHUẨN HUYẾT VÀ SỰ ĐỀ KHÁNG<br /> KHÁNG SINH TẠI KHOA HỒI SỨC CẤP CỨU BỆNH VIỆN CHỢ RẪY<br /> Trần Thị Thanh Nga*, Nguyễn Thanh Bảo**, Cao Minh Nga**<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mở đầu: Nhiễm khuẩn huyết là một trong những bệnh lý nguy hiểm, gây nhiễm khuẩn lan tỏa, ảnh hưởng<br /> lên các cơ quan, hiện nay vẫn là một trong những căn nguyên chủ yếu gây bệnh nặng thêm và tử vong, đặc biệt ở<br /> các đơn vị hồi sức cấp cứu. Việc đánh giá về phương diện vi khuẩn học và mức độ đề kháng sinh đang dùng trong<br /> điều trị hiện nay góp phần hướng dẫn điều trị thích hợp cho nhiễm khuẩn huyết trong chương trình quản lý<br /> kháng sinh tại bệnh viện.<br /> Mục tiêu: Khảo sát sự phân bố của các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp, đặc điểm lâm sàng liên<br /> quan và sự đề kháng kháng sinh của chúng.<br /> Phương pháp: Hồi cứu, mô tả. Thu thập dữ liệu bệnh án có các kết quả cấy máu dương tính và kháng sinh<br /> đồ từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2013 tại Khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy.<br /> Kết quả: Có 229 trường hợp nhiễm khuẩn huyết. Các tác nhân vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp<br /> là: E. coli (20,6%), S. aureus (18,5%), Klebsiella (8,9%), A. baumannii (8%), S. maltophilia (6,8%),<br /> Staphylococcus coagulase âm (5,9%), B. pseudomallei (4,4%) và P. aeruginosa (4%). Có sự khác biệt về mức độ<br /> kháng kháng sinh giữa các nhóm vi khuẩn lên men, các trực khuẩn gram âm không lên men đặc biệt<br /> Acinetobacter baumannii có khuynh hướng đề kháng cao với tất cả các kháng sinh thường dùng và cả<br /> Carbapenem, chỉ nhạy cảm tốt với Colistin. Klebsiella đề kháng với carbapenem gần 30%.<br /> Kết luận: Cần lưu ý đến tình trạng nhiễm khuẩn của bệnh nhân, nhanh chóng xác định tác nhân gây nhiễm<br /> khuẩn huyết , dữ liệu đề kháng giúp sử dụng kháng sinh hợp lý, điều trị kịp thời tăng hiệu quả điều trị và hạn chế<br /> sự kháng thuốc của vi khuẩn, giảm chi phí và góp phần cứu sống bệnh nhân.<br /> Từ khóa: Nhiễm khuẩn huyết .<br /> <br /> ABSTRACT<br /> PATHOGENOUS BACTERIA IN SEPTICEMIA AND ANTIBIOTIC RESISTANCE IN EMERGENCY<br /> RESUSCITATION CHO RAY HOSPITAL<br /> Tran Thi Thanh Nga, Nguyen Thanh Bao, Cao Minh Nga<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 19 - Supplement of No 1 - 2015: 414 - 420<br /> Background: Septicemia is one of the dangerous diseases cause infection spread the impact on the organs and<br /> the current remains one of the major causes more severe illness and mortality, particularly in intensive care<br /> units.The evaluation in terms of bacteriological and the level of antibiotic resistance are used in current treatment<br /> guidelines contribute to appropriate treatment for sepsis in the antimicrobial stewardship program at the hospital.<br /> Objective: To Survey distribution of bacterial in septicemia common, clinically relevant characteristics and<br /> its antibiotic resistance. To investigate distribution of pathogenous bacteria in septicemia and its antibiotic<br /> resistance.<br /> Method: Retrospective, descriptive. Collecting data with the results of medical positive blood cultures and<br /> * Khoa Vi sinh, Bệnh viện Chợ Rẫy<br /> Tác giả liên lạc: BSCKII. Trần Thị Thanh Nga<br /> <br /> 414<br /> <br /> ** Đại học Y Dược TP. HCM<br /> ĐT: 0908 185 491<br /> Email: ngatrancrh@gmail.com<br /> <br /> Chuyên Đề Nội Khoa<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Phụ bản của Số 1 * 2015<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> antimicrobial susceptibility from 01/2012 to 12/2013 in Emergency Resuscitation Cho Ray Hospital.<br /> Results: 229 records collected through septicemia. The common bacterial pathogens in septicemia: E. coli<br /> (20.6%), S. aureus (18.5%), Klebsiella (8.9%), A. baumannii (8%), S. maltophilia (6.8%), coagulase - negative<br /> staphylococcus (5.9%), B. pseudomallei (4.4%) and P. aeruginosa (4%). There are differences in the level of<br /> antibiotic resistance among bacteria fermenting gram-negative bacilli and not fermented, particularly A.<br /> baumannii high resistance to all commonly used antibiotics, even carbapenem, only good susceptible to Colistin.<br /> Klebsiella resistant Carbapenem nearly 30%.<br /> Conclusion: It should be noted to the infection status of the patient, to quickly determine the cause of sepsis,<br /> the data point of resistance helps appropriate antibiotic use, treatment time increased therapeutic efficacy and limit<br /> drug resistance of bacteria, reduce costs and help save the lives of patients.<br /> Key word: Septicemia, sepsis.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Nhiễm khuẩn huyết là một bệnh lý nhiễm<br /> khuẩn thường gặp trong lâm sàng, đặc biệt ở các<br /> khoa Hồi Sức cấp cứu. nhiễm khuẩn huyết cũng<br /> là một trong những hội chứng lâm sàng nguy<br /> hiểm, có nguyên nhân bắt nguồn từ sự xâm<br /> nhập vào máu của các vi sinh vật (vi khuẩn,<br /> virus, ký sinh trùng, vi nấm, …), đặc biệt khi vi<br /> khuẩn phóng thích các loại độc tố sẽ dẫn đến<br /> tình trạng sốc nhiễm khuẩn mà biểu hiện lâm<br /> sàng rõ nhất là tụt huyết áp, suy đa tạng, rối loạn<br /> hô hấp, rối loạn tuần hoàn và ý thức nặng. Nếu<br /> không được điều trị tích cực và kịp thời, bệnh<br /> nhân có thể tử vong hoặc để lại các di chứng<br /> nặng nề về sức khoẻ và tinh thần. Để chẩn đoán<br /> nhiễm khuẩn huyết cần phân lập được vi sinh<br /> vật từ máu. Tuy nhiên, tuỳ theo từng khu vực<br /> địa lý, từng bệnh viện, từng giai đoạn mà tỷ lệ và<br /> cơ cấu các loài vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết<br /> có thể khác nhau. Nhiều nghiên cứu gần đây của<br /> các tác giả trong và ngoài nước đã cho thấy tỷ lệ<br /> vi khuẩn gây bệnh đề kháng kháng sinh ngày<br /> càng cao và có tính chất đa kháng, gây ra không<br /> ít khó khăn cho việc điều trị các bệnh nhiễm<br /> khuẩn, trong đó có nhiễm khuẩn huyết. Vì vậy,<br /> việc xác định được tác nhân vi khuẩn gây nhiễm<br /> khuẩn huyết và mức độ nhạy cảm với kháng<br /> sinh của chúng sẽ giúp cho việc điều trị kịp thời<br /> có hiệu quả nhằm cứu sống người bệnh, giảm<br /> được chi phí điều trị, đồng thời hạn chế sự gia<br /> tăng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn. Việc<br /> thường xuyên giám sát về vi khuẩn và mức độ<br /> <br /> Nhiễm<br /> <br /> nhạy cảm của chúng với kháng sinh còn giúp<br /> cho các bác sỹ lâm sàng có thể điều trị theo kinh<br /> nghiệm trước khi có kết quả kháng sinh đồ.<br /> Mục tiêu của nghiên cứu: Xác định tác nhân<br /> vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp và<br /> mức độ đề kháng kháng sinh của các tác nhân<br /> này tại Khoa Hồi sức cấp cứu bệnh viện Chợ Rẫy<br /> từ tháng 01-2012 đến tháng 12-2013.<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU<br /> Đối tượng nghiên cứu<br /> Hồ sơ bệnh án bệnh nhân điều trị tại khoa<br /> Hồi sức Cấp cứu của Bệnh viện Chợ Rẫy có kết<br /> quả cấy máu dương tính từ khoa Vi sinh lâm<br /> sàng.<br /> <br /> Tiêu chuẩn chọn mẫu<br /> Các vi khuẩn gây bệnh phân lập được theo<br /> thời gian và địa điểm nêu trên, có đủ kết quả<br /> kháng sinh đồ theo tiêu chuẩn cho từng loại vi<br /> khuẩn từ tháng 01-2012 đến tháng 12-2013.<br /> Tiêu chuẩn loại trừ<br /> Các trường hợp cấy máu có vi khuẩn nhưng<br /> không có đủ kết quả kháng sinh đồ.<br /> <br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> Hồi cứu, mô tả.<br /> - Thu thập dữ liệu bệnh án có các kết quả cấy<br /> máu dương tính và kháng sinh đồ từ tháng<br /> 01/2012 đến tháng 12/2013.<br /> - Xử lý kết quả theo các phương pháp thống<br /> kê y học.<br /> <br /> 415<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Phụ bản của Số 1 * 2015<br /> <br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> Sự phân bố các loại vi khuẩn thường gặp.<br /> Trong 229 hồ sơ bệnh án hồi cứu tại khoa Săn sóc<br /> đặc biệt, có 334 lần cấy máu dương tính, với 24<br /> loại vi khẩn phân lập được, trong đó có 8 loại vi<br /> khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp nhất.<br /> <br /> Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn<br /> Acinetobacter baumannii<br /> <br /> Biểu đồ 4: Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn A.<br /> baumannii (n=27)<br /> Biểu đồ 1: Tỷ lệ 8 loại vi khuẩn thường gặp<br /> <br /> Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn<br /> Pseudomonas<br /> <br /> Sự đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn<br /> thường gặp<br /> Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Escherichia<br /> coli<br /> <br /> Biểu đồ 5: Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn<br /> Pseudomonas (n=14)<br /> Biểu đồ 2: Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn<br /> Escherichia coli (n=69)<br /> <br /> Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn<br /> Stenotrophomonas maltophilia<br /> <br /> Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn<br /> Klebsiella<br /> <br /> Biểu đồ 3: Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn<br /> Klebsiella (n=47)<br /> <br /> 416<br /> <br /> Biểu đồ 6: Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn S.<br /> maltophilia (n=23).<br /> <br /> Chuyên Đề Nội Khoa<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Phụ bản của Số 1 * 2015<br /> Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn<br /> Burkholderia pseudomollei<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> BÀN LUẬN<br /> Đặc điểm của mẫu nghiên cứu<br /> Tuổi. Bệnh nhân lớn tuổi nhất – 93 tuổi, nhỏ<br /> tuổi nhất – 15 tuổi, trung bình là 51,79 tuổi;<br /> tương tự như kết quả của các nghiên cứu khác ở<br /> trong nước(4,6,10,11). Nhóm tuổi 40-60 chiếm tỉ lệ<br /> cao nhất (39,7%), tiếp theo là nhóm trên 60<br /> (32,2%) và nhóm tuổi dưới 40 chiếm tỉ lệ thấp<br /> nhất (27,1%).<br /> <br /> Biểu đồ 7: Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn B.<br /> pseudomollei (n=15)<br /> <br /> Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn<br /> Staphylococcus aureus<br /> <br /> Giới. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ<br /> nhiễm khuẩn huyết giữa nam và nữ tương<br /> đương nhau (49,9% và 51,1%) Kết quả này cũng<br /> tương tự như các nghiên cứu về nhiễm khuẩn<br /> huyết khác tại Việt Nam và trên thế giới(4,6,10,11).<br /> <br /> Tác nhân vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết<br /> thường gặp<br /> Kết quả nghiên cứu (biểu đồ 1) cho thấy, trực<br /> khuẩn Gram âm chiếm tỷ lệ 62,3% và cầu khuẩn<br /> Gram dương chiếm 27,7%. Kết quả này cũng<br /> tương tự như các nghiên cứu khác trên thế giới<br /> và ở Việt Nam(7,2,4,6,10,11).<br /> <br /> Biểu đồ 8: Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn S.<br /> aureus (n=62)<br /> <br /> Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn<br /> Staphylococcus coagulase âm<br /> <br /> Biểu đồ 9: Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn<br /> Staphylococcus coagulase âm (n=20)<br /> <br /> Nhiễm<br /> <br /> Trong nhóm vi khuẩn không lên men,<br /> chiếm tỷ lệ cao nhất là A. baumannii (8%), cao<br /> hơn một số nghiên cứu ở các bệnh viện khác<br /> trong nước(4,6,10,11). Điều này cũng có thể do sự<br /> khác biệt về đặc điểm của từng bệnh viện, tùy<br /> từng đối tượng và thời gian nghiên cứu, vi<br /> khuẩn này thường tồn tại trong môi trường<br /> bệnh viện, và là tác nhân gây nhiễm khuẩn<br /> bệnh viện quan trọng hiện nay. Tỷ lệ tử vong<br /> của nhiễm khuẩn huyết do A. baumannii trong<br /> nghiên cứu của chúng tôi là 88,8%. Tiếp theo<br /> là vi khuẩn S. maltophilia (6,8%), B. pseudomallei<br /> (4,4%), Pseudomonas spp (4,3%). Đây cũng là<br /> những tác nhân thường phân lập được trong<br /> các nghiên cứu về nhiễm khuẩn huyết tại một<br /> số quốc gia khác trên thế giới(1,7,2,3).<br /> Tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết do Pseudomonas là<br /> 4,3%. Kết quả này tương tự như các nghiên cứu<br /> khác(6,10). Nhiễm khuẩn huyết do P. aeruginosa<br /> trước đây khá hiếm. Tuy nhiên, ngày nay do<br /> tăng số lượng bệnh nhân nằm viện nhạy cảm với<br /> <br /> 417<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Phụ bản của Số 1 * 2015<br /> <br /> các loại nhiễm khuẩn cơ hội nên tỷ lệ nhiễm<br /> khuẩn huyết do P. aeruginosa khoảng 5 – 20%, tỷ<br /> lệ tử vong liên quan đến nhiễm khuẩn huyết P.<br /> aeruginosa từ 17 - 78%, và thường được cho là<br /> khoảng 34 - 48%, mặc dù rất khó để phân biệt<br /> nguyên nhân tử vong do nhiễm khuẩn huyết<br /> hay do các bệnh mãn tính(1,7,11). Tỷ lệ tử vong của<br /> nhiễm khuẩn huyết do P. aeruginosa trong<br /> nghiên cứu của chúng tôi là 50%.<br /> Tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết do S. maltophilia<br /> trong nghiên cứu của chúng tôi là 6,8%.<br /> Khoảng 20 năm gần đây đã có sự gia tăng<br /> đáng kể tần suất nhiễm khuẩn huyết do S.<br /> maltophilia(11) và tỷ lệ tử vong của S. maltophilia<br /> trong nghiên cứu là 13%.<br /> Như vậy, trực khuẩn Gram âm phổ biến<br /> nhất trong nhiễm khuẩn huyết là các trực khuẩn<br /> đường ruột - Enterobacteriaceae(1,7,4,6,10,11). Tuy<br /> nhiên, những năm gần đây một số nghiên cứu<br /> cho thấy có sự tăng tỷ lệ của một số vi khuẩn ít<br /> gặp trước đây như A. baumannii, S. maltophilia,<br /> B. pseudomallei.<br /> Trong nhóm cầu khuẩn Gram dương, có 92<br /> trường hợp (27,5%) nhiễm khuẩn huyết do tụ<br /> cầu trong đó có 62 trường hợp (18,5%) là vi<br /> khuẩn S. aureus. Ngoài ra, cầu khuẩn ruột<br /> (Enterococci) chiếm 13 trường hợp (3,9%) và liên<br /> cầu chiếm 21 trường hợp (6,3%). Tỷ lệ nhiễm<br /> khuẩn huyết do nhóm vi khuẩn Staphylococcus<br /> coagulase âm trong nghiên cứu là 9%. Nhiễm<br /> khuẩn bệnh viện do Staphylococcus coagulase âm<br /> chiếm 5 - 10% trong thập niên 1980, đã tăng lên<br /> 25 - 30% trong thập niên 1990 trong tổng số<br /> nhiễm khuẩn bệnh viện. Hiện nay, nhiễm khuẩn<br /> bệnh viện do Staphylococcus coagulase âm đóng<br /> vai trò dẫn đầu trong nhiễm khuẩn bệnh viện ở<br /> nước Mỹ(2). Trừ một số ngoại lệ, nhiễm<br /> Staphylococcus coagulase âm thường là cơ hội và<br /> phần lớn gây nhiễm khuẩn bệnh viện. Hầu hết<br /> nhiễm khuẩn thực sự xảy ra sau can thiệp y tế<br /> vào dưới da, là hậu quả của việc sử dụng các<br /> dụng cụ vào đường mạch máu, những bất<br /> thường về đường tiết niệu. Như vậy, chiếm tỷ lệ<br /> <br /> 418<br /> <br /> cao nhất trong nhóm vi khuẩn Gram dương là<br /> S. aureus, các vi khuẩn Gram dương khác gặp với<br /> một tỷ lệ thấp hơn(1,3).<br /> Có thể nói tác nhân vi khuẩn gây nhiễm<br /> khuẩn huyết thường gặp nhất trong nghiên cứu<br /> này là E. coli, Klebsiella spp, A. baumannii,<br /> S. maltophilia, B. pseudomallei, Pseudomonas, và<br /> S. aureus, Staphylococcus coagulase âm.<br /> <br /> Sự đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn<br /> thường gây nhiễm khuẩn huyết<br /> Đề kháng kháng sinh của E. coli và Klebsiella<br /> Kết quả kháng sinh đồ trên biểu đồ 2 và 3<br /> cho thấy, E. coli kháng cao với nhiều loại kháng<br /> sinh, kháng trên 70% với các Cephalosporin III<br /> (cefpodoxime ceftriaxone), Trimethoprim /<br /> Sulfamethoxazol và kháng 50 - 70% với<br /> Fluroquinolon, Ticarcilin, Gentamycin. Ngày nay<br /> tỷ lệ vi khuẩn đường ruột kháng với các kháng<br /> sinh nhóm Cephalosporin ngày càng tăng do<br /> một số chủng sinh men ESBL kháng lại với các βlactamase phổ rộng.<br /> Klebsiella spp có tỷ lệ đề kháng trên 60% với<br /> các<br /> Cephalosporin<br /> III<br /> (Cefpodoxime,<br /> Ceftriaxone), Ticarcilin, đề kháng 50 - 60% với<br /> Ciprofloxacin,<br /> Trime/Sulfamethoxazol,<br /> Gentamycin và đề kháng 30 - 50% với<br /> Levofloxacin,<br /> Cefepime,<br /> Sulbactam/Cefoperazone,<br /> Ceftazidime,<br /> Ertapenem, Piperacillin/Tazobactam. Đặc biệt<br /> nhạy cảm trên 70% với Amikacin, Netilmicin và<br /> Imipenem, Meropenem. Nghiên cứu của chúng<br /> tôi cho thấy, tỷ lệ đề kháng của Klebsiella spp cao<br /> hơn các bệnh viện khác đặc biệt là nhóm<br /> Carbapenem.<br /> Giải pháp kháng sinh dành cho điều trị<br /> nhiễm khuẩn E. coli hay Klebsiella ESBL (+) là<br /> Carbapenem, kể cả Ertapenem. Trong nghiên<br /> cứu này chúng tôi ghi nhận tỷ lệ E. coli kháng các<br /> kháng sinh Carbapenem còn rất thấp (< 2%), do<br /> vậy mà có thể nói Carbapenem vẫn còn là kháng<br /> sinh có hiệu quả dành cho E. coli và Klebsiella tiết<br /> ESBL. Trong khi đó Klebsiella trong nghiên cứu<br /> này có tỷ lệ kháng Carbapenem cao (> 20%). Tuy<br /> <br /> Chuyên Đề Nội Khoa<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2