intTypePromotion=1

TÀI LIỆU ÔN THI MÔN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH (CHUYÊN MỤC: PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH)

Chia sẻ: Nguyễn Hoài Trâm | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:58

0
245
lượt xem
79
download

TÀI LIỆU ÔN THI MÔN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH (CHUYÊN MỤC: PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau. Theo nghĩa hẹp, cấu trúc tài chính phản ánh cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn tài trợ tài sản (nguồn vốn) của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cấu trúc tài chính xem xét theo khía cạnh này chưa phản ánh được mối quan hệ giữa tình hình huy động với tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Do đó cấu trúc tài chính thường được các nhà quản lý xem xét theo nghĩa rộng; tức là xem xét cả cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TÀI LIỆU ÔN THI MÔN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH (CHUYÊN MỤC: PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH)

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC KHOA QTKD **** TÀI LIỆU ÔN THI MÔN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH (CHUYÊN MỤC: PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH) Biên soạn: Th.s. Nguyễn Thị Việt Ngọc Hà Nội, 05.2012
  2. MÔN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PHẦN 1: LÝ THUYẾT 1.1. PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH 1.1.1. Khái niệm và nội dung phân tích Cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau. Theo nghĩa hẹp, cấu trúc tài chính phản ánh cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn tài trợ tài sản (nguồn vốn) của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cấu trúc tài chính xem xét theo khía cạnh này chưa phản ánh được mối quan hệ giữa tình hình huy động với tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Do đó cấu trúc tài chính thường được các nhà quản lý xem xét theo nghĩa rộng; tức là xem xét cả cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn; bởi vì cơ cấu tài sản phản ánh tình hình sử dụng vốn, cơ cấu nguồn vốn phản ánh tình hình huy động vốn và chính sách huy động vốn, còn mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn phản ánh chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp. Phân tích cấu trúc tài chính là việc phân tích tình hình huy động, sử dụng vốn và mối quan hệ giữa tình hình huy động với tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Qua đó, giúp các nhà quản lý nắm được tình hình phân bổ tài sản và các nguồn tài trợ tài sản, biết được nguyên nhân cũng như các dấu hiệu ảnh hưởng đến cân bằng tài chính. Những thông tin này sẽ là căn cứ quan trọng để các nhà quản lý ra các quyết định điều chỉnh chính sách huy động và sử dụng vốn của mình, bảo đảm cho doanh nghiệp có được một cấu trúc tài chính lành mạnh, hiệu quả và tránh được rủi ro trong kinh doanh. Đồng thời, nội dung phân tích này còn góp phần củng cố cho các nhận định đã rút ra khi đánh giá khái quát tình hình tài chính. Như vậy, về thực chất, phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp gồm các nội dung: phân tích cơ cấu tài sản, phân tích cơ cấu nguồn vốn và phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn. Nội dung phân tích này gắn với việc xem xét cấu trúc tài chính theo nghĩa rộng. 1.1.2. Phân tích cơ cấu tài sản Với cùng một lượng vốn huy động cho hoạt động kinh doanh, nếu biết sử dụng hợp lý doanh nghiệp sẽ có điều kiện đầu tư cả về chiều rộng và chiều sâu cho kinh doanh. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả số vốn đã huy động được thể hiện trước hết ở chỗ: số vốn đã huy động được đầu tư
  3. vào lĩnh vực kinh doanh hay bộ phận tài sản nào. Vì thế, phân tích tình hình sử dụng vốn bao giờ cũng được thực hiện trước hết bằng cách phân tích cơ cấu tài sản. Qua phân tích cơ cấu tài sản, các nhà quản lý sẽ nắm được tình hình đầu tư (sử dụng) số vốn đã huy động, biết được việc sử dụng vốn đã huy động có phù hợp với lĩnh vực kinh doanh và có phục vụ tích cực cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp hay không. Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản Giá trị của từng bộ phận tài sản = x 100 chiếm trong tổng số tài sản Tổng số tài sản Việc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản giữa kỳ phân tích và kỳ gốc mặc dầu cho phép các nhà quản lý đánh giá được khái quát tình hình phân bổ (sử dụng) vốn nhưng lại không cho biết các nhân tố tác động đến sự thay đổi cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Vì vậy, để biết được chính xác tình hình sử dụng vốn, nắm được các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động về cơ cấu tài sản, các nhà phân tích còn kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (cả về số tuyệt đối và số tương đối) trên tổng số tài sản cũng như theo từng loại tài sản. Nhằm thuận tiện cho việc đánh giá cơ cấu tài sản, khi phân tích, có thể lập bảng sau: Bảng 1.1. Bảng phân tích cơ cấu tài sản Cuối năm Cuối năm N so với cuối năm… (N-3) (N-2) (N-1) N (N-3) (N-2) (N-1) Chỉ tiêu Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Tỷ Số Tỷ Tỷ Số Tỷ Tỷ tiền trọng tiền trọng tiền trọng tiền trọng tiền lệ trọng tiền lệ trọng tiền lệ trọng A B C D E G H I K L M N O P Q R S T A. Tài sản ngắn hạn I. Tiền và tương đương tiền II. Đầu tư tài chính ngắn hạn III. Phải thu ngắn hạn IV. Hàng tồn kho V. Tài sản ngắn hạn khác B. Tài sản dài hạn I. Phải thu dài hạn II. Tài sản cố định III. Bất động sản đầu tư IV. Đầu tư tài chính dài hạn V. Tài sản dài hạn khác Tổng số tài sản
  4. Các nội dung chủ yếu nắm được từ bảng phân tích trên: - Cột “Số tiền” trong kỳ phân tích (cột I) và kỳ gốc (các cột B, D, G) phản ánh trị số của từng chỉ tiêu (từng loại tài sản và tổng số tài sản) ở thời điểm cuối kỳ tương ứng (cuối năm N và các năm liền kề trước năm N). Trong đó, số tổng cộng theo từng cột của chỉ tiêu A “Tài sản ngắn hạn” và chỉ tiêu B “Tài sản dài hạn” đúng bằng số liệu của chỉ tiêu “Tổng số tài sản” ở từng kỳ. - Cột “Tỷ trọng” trong kỳ phân tích (cột K) và kỳ gốc (các cột C, E, H) phản ánh tỉ trọng của từng bộ phận tài sản (tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn và từng loại tài sản ngắn hạn, dài hạn cụ thể) chiếm trong tổng số tài sản ở từng thời điểm cuối kỳ tương ứng (cuối năm N và các năm liền kề trước năm N); trong đó, số tổng cộng theo từng cột của các chỉ tiêu bộ phận (“Tài sản ngắn hạn” và “Tài sản dài hạn”) đúng bằng 100% và đúng bằng tỷ trọng của chỉ tiêu “Tổng số tài sản”. - Cột “Cuối năm N so với cuối năm (N-1), (N-2) và (N-3)”: + Cột “Số tiền” (các cột L, O và R): phản ánh về sự biến động tuyệt đối của tổng số tài sản cũng như từng loại tài sản theo thời gian. Qua các cột này, các nhà phân tích sẽ thấy được mức độ biến động về quy mô của tài sản cũng như nguyên nhân ảnh hưởng đến sự thay đổi về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản. Đồng thời các nhà phân tích sẽ xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bộ phận (từng loại tài sản) đến sự biến động của chỉ tiêu A “Tài sản ngắn hạn”, chỉ tiêu B “Tài sản dài hạn” cũng như ảnh hưởng của “Tài sản ngắn hạn” và “Tài sản dài hạn” đến sự biến động của chỉ tiêu “Tổng số tài sản”. + Cột “Tỷ lệ” (các cột M, P và S): phản ánh sự biến động về số tương đối theo thời gian của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản. Qua các cột này, các nhà phân tích sẽ thấy được mức độ tăng tưởng và xu hướng biến động theo thời gian của từng loại tài sản. + Cột “Tỷ trọng” (các cột N,Q và T): phản ánh tình hình biến động về tỷ trọng theo thời gian của từng loại tài sản. Sự thay đổi theo thời gian về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản sẽ cho các nhà quản lý đánh giá được xu hướng biến động của cơ cấu tài sản hay tình hình phân bổ vốn. Bằng việc xem xét bảng phân tích trên, các nhà quản lý sẽ thấy được những đặc trưng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, xác định được tính hợp lý của việc sử dụng (đầu tư) vốn. Qua việc xem xét cơ cấu tài sản và sự biến động về cơ cấu tài sản của nhiều kỳ kinh doanh, các nhà quản lý sẽ có được quyết định đầu tư vào loại tài sản nào là thích hợp, đầu tư vào thời điểm
  5. nào; xác định được việc gia tăng hay cắt giảm hàng tồn kho cũng như mức dự trữ hàng tồn kho hợp lý trong từng thời kỳ để sao cho có đủ lượng hàng tồn kho cần thiết đáp ứng cho nhu cầu sản xuất – kinh doanh và nhu cầu tiêu thụ của thị trường mà không làm tăng chi phí tồn kho; có chính sách thích hợp về thanh toán để vừa khuyến khích được khách hàng vừa thu hồi vốn kịp thời, tránh bị chiếm dụng vốn;… Khi phân tích cơ cấu tài sản, nhà phân tích cần liên hệ với số liệu bình quân của ngành cũng như so sánh với số liệu của các doanh nghiệp khác kinh doanh cùng ngành nghề có hiệu quả cao hơn để có nhận xét xác đáng về tình hình sử dụng vốn và tính hợp lý của cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Đồng thời, cần căn cứ vào tình hình thực tế của doanh nghiệp cũng như chính sách đầu tư và chính sách kinh doanh mà doanh nghiệp vận dụng trong từng thời kỳ để đánh giá. Có thể kể ra những điểm cần lưu ý khi đánh giá sau đây: - Về tiền và các khoản tương đương tiền Vốn bằng tiền là tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nhất. Theo hướng chung, vốn bằng tiền của công ty giảm được đánh giá là tích cực vì không nên dự trữ lượng tiền mặt và số dư tiền gửi ngân hàng quá lớn mà phải nhanh chóng đưa vốn bằng tiền vào hoạt động sản xuất kinh doanh để tăng vòng quay của vốn. Tuy nhiên, xét ở một khía cạnh khác sự gia tăng vốn bằng tiền làm cho khả năng thanh toán của công ty sẽ được tốt hơn hay có thể nói tính thanh khoản của Công ty trong kỳ phân tích sẽ tốt hơn. - Về đầu tư tài chính + Đầu tư tài chính ngắn hạn là giá trị của những khoản đầu tư có thời hạn không quá một năm, giá trị này tăng lên chứng tỏ công ty mở rộng liên doanh ngắn hạn và đầu tư chứng khoán hoặc đầu tư khác như dùng tiền nhàn rỗi cho vay chẳng hạn. Tuy nhiên, việc đánh giá sự gia tăng khoản đầu tư ngắn hạn này có tích cực hay không thì cần phải xem xét đến hiệu quả của các khoản đầu tư. + Đầu tư tài chính dài hạn là giá trị các khoản đầu tư vào tài sản dài hạn, khoản đầu tư dài hạn tăng lên chứng tỏ công ty mở rộng đầu tư ra bên ngoài, mở rộng liên doanh, liên kết hoặc dưới dạng đầu tư vào công ty con, đầu tư dưới dạng chủ sở hữu riêng biệt… - Về các khoản phải thu
  6. Các khoản phải thu của doanh nghiệp có nhiều loại, trong đó chủ yếu là các khoản phải thu người mua và tiền đặt trước cho người bán. Đây là số vốn (tài sản) của doanh nghiệp nhưng bị người mua và người bán chiếm dụng. Khoản phải thu này tăng (hoặc giảm) do nhiều nguyên nhân khác nhau. Các khoản phải thu giảm được đánh giá là tích cực vì công ty quản lý tốt các khoản nợ phải thu. Tuy nhiên, cần chú ý rằng không phải lúc nào các khoản phải thu tăng lên là đánh giá không thích cực, có trường hợp do công ty mở rộng các quan hệ kinh tế như thực hiện chính sách bán chịu chẳng hạn. Do vậy, việc nới lỏng chính sách bán chịu thì khoản phải thu này sẽ tăng lên và việc tăng khoản phải thu trong trường hợp này là điều tất yếu, nằm trong chiến lược kinh doanh của công ty và công ty kiểm soát được các khoản phải thu này. Do chính sách tín dụng bán hàng có quan hệ chặt chẽ với lượng hàng hóa tiêu thụ và được coi như một biện pháp để kích thích tiêu thụ nên khi xem xét số nợ phải thu phát sinh, nhà phân tích cần liên hệ với lượng hàng hóa tiêu thụ để đánh giá. - Về hàng tồn kho Để bảo đảm cho quán trình kinh doanh được tiến hành liên tục, không bị gián đoạn, đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được lượng hàng tồn kho dự trữ hợp lý. Lượng hàng tồn kho dự trữ hợp lý là lượng dự trữ vừa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh liên tục, vừa không gia tăng chi phí tồn kho gây ứ đọng vốn. Khi xem xét tỷ trọng hàng tồn kho chiếm trong tổng số tài sản, cần liên hệ với ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, với chính sách dự trữ, với tính thời vụ của kinh doanh và với chu kỳ sống của sản phẩm, hàng hóa. Chẳng hạn, trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, tỷ trọng hàng tồn kho thường lớn do đối tượng kinh doanh của các doanh nghiệp này là hàng hóa; ngược lại, trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ (khách sạn, giải trí,..) tỷ trọng hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng thấp. Đối với các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh mang tính thời vụ, vào những thời điểm nhất định trong năm, tỷ trọng hàng tồn kho thường rất cao do yêu cầu dự trữ thời vụ; ngược lại, vào những thời điểm khác, lượng hàng tồn kho lại quá thấp. - Về tài sản dài hạn Tài sản dài hạn là yếu tố quan trọng và quyết định chiến lược kinh doanh của công ty trong dài hạn. Do vậy, khi có sự gia tăng tuyệt đối và tương đối về giá trị tài sản dài hạn chứng tỏ quy mô sản xuất kinh doanh và đầu tư của công ty mở rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại hơn điều này cũng có nghĩa là năng lực sản xuất kinh doanh của công ty gia tăng. Tuy nhiên, không phải
  7. lúc nào tài sản cố định hay các khoản đầu tư dài hạn gia tăng cũng là dấu hiệu tốt mà còn tùy thuộc vào hiệu quả các khoản đầu tư dài hạn và công suất sử dụng tài sản cố định. Tài sản cố định là tư liệu lao động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của công ty, do đó, khi công ty gia tăng các khoản đầu tư vào tài sản cố định là nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, việc gia tăng tài sản cố định là dấu hiệu tích cực chỉ khi nào công ty sử dụng hết công suất máy móc thiết bị, còn khi công ty không sử dụng hết công suất tài sản cố định thì việc gia tăng giá trị tài sản cố định là không hợp lý. Tỷ trọng của tài sản cố định chiếm trong tổng số tài sản chính là “Tỷ suất đầu tư” (hay “Hệ số đầu tư”), phản ánh giá trị còn lại của tài sản cố định chiếm trong tổng số tài sản là bao nhiêu. Trị số của chỉ tiêu này phụ thuộc vào từng ngành, nghề, lĩnh vực kinh doanh cụ thể. Chẳng hạn, ngành công nghiệp thăm dò và khai thác dầu khí: 90%, ngành luyện kim: 70%, ngành công nghiệp thực phẩm: 10%,… - Về chi phí xây dựng cơ bản dở dang Chi phí xây dựng cơ bản dở dang là khoản chi phí đầu tư xây dựng cơ bản chưa hoàn thành, nếu chi phí xây dựng cơ bản dở dang tăng chứng tỏ công ty đang đầu tư thêm tài sản cố định mở rộng quy mô sản xuất, đây là một dấu hiệu tích cực, nhưng ngược lại, khi chi phí này tăng lên sẽ gây ứ đọng vốn, cần phải có kế hoạch đẩy nhanh tiến độ thi công để nhanh chóng đưa tài sản của công ty vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. - Về bất động sản đầu tư Bất động sản đầu tư trong các doanh nghiệp bao gồm quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại); nhà hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất; cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ. Các tài sản này được ghi nhận là bất động sản đầu tư khi doanh nghiệp nắm giữ để cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường hay sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi xem xét tỷ trọng của bất động sản đầu tư chiếm trong tổng số tài sản, cần liên hệ với các chính sách và chủ trương về kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp cũng như hiệu quả kinh doanh của lĩnh vực này để đánh giá. 1.1.3. Phân tích cơ cấu nguồn vốn Để tiến hành hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xác định nhu cầu đầu tư, tiến hành tạo lập, tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn. Doanh nghiệp có thể huy động vốn cho nhu
  8. cầu kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau; trong đó, có thể quy về hai nguồn chính là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp ban đầu và bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh (vốn đầu tư của chủ sở hữu). Ngoài ra, thuộc vốn chủ sở hữu còn bao gồm một số khoản khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như: chênh lệch tỷ giá hối đoái, chênh lệch đánh giá lại tài sản, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, các quỹ doanh nghiệp,… Vốn chủ sở hữu không phải là các khoản nợ nên doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. Khác với vốn chủ sở hữu, nợ phải trả phản ánh số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh; do vây, doanh nghiệp phải cam kết thanh toán và có trách nhiệm thanh toán. Thuộc nợ phải trả cũng bao gồm nhiều loại khác nhau, được phân theo nhiều cách khác nhau; trong đó, phân theo thời hạn thanh toán được áp dụng chủ yếu. Theo cách này, toàn bộ nợ phải trả của doanh nghiệp được chia thành “nợ phải trả ngắn hạn” (là khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh) và “nợ phải trả dài hạn” (là các khoản nợ mà doanh nghiêp có trách nhiệm phải thanh toán ngoài một năm hay một chu kỳ kinh doanh). Qua phân tích cơ cấu nguồn vốn, các nhà quản lý nắm được cơ cấu vốn huy động, biết được trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các nhà cho vay, nhà cung cấp, người lao động, ngân sách,… về số tài sản tài trợ bằng nguồn vốn của họ. Cũng qua phân tích nguồn vốn, các nhà quản lý cũng nắm được mức độ độc lập về tài chính cũng như xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn huy động. Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương tự như phân tích cơ cấu tài sản. Trước hết, cần tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn. Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn = x 100 vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn Tổng số nguồn vốn Việc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc mặc dù cho phép các nhà quản lý đánh giá được cơ cấu vốn huy động nhưng lại không cho biết các nhân tố tác động đến sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động. Vì vậy, để biết được chính xác tình hình huy động vốn,
  9. nắm được các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động về cơ cấu nguồn vốn, các nhà phân tích còn kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (cả về số tuyệt đối và số tương đối) trên tổng số nguồn vốn cũng như theo từng loại nguồn vốn. Để thuận tiện cho việc đánh giá cơ cấu nguồn vốn, khi phân tích, có thể lập bảng sau: Bảng 1.2. Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn Cuối năm Cuối năm N so với cuối năm… (N-3) (N-2) (N-1) N (N-3) (N-2) (N-1) Chỉ tiêu Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Tỷ Số Tỷ Tỷ Số Tỷ Tỷ tiền trọng tiền trọng tiền trọng tiền trọng tiền lệ trọng tiền lệ trọng tiền lệ trọng A B C D E G H I K L M N O P Q R S T A. Nợ phải trả I. Nợ ngắn hạn II. Nợ dài hạn B. Vốn chủ sở hữu I. Vốn chủ sở hữu II. Nguồn kinh phí và quỹ khác Tổng số nguồn vốn Các nội dung chủ yếu nắm được từ bảng phân tích trên: - Cột “Số tiền” trong kỳ phân tích (cột I) và kỳ gốc (các cột B, D, G) phản ánh trị số của từng chỉ tiêu (từng loại nguồn vốn và tổng số nguồn vốn) ở thời điểm cuối kỳ tương ứng (cuối năm N và các năm liền kề trước năm N). Trong đó, số tổng cộng theo từng cột của chỉ tiêu A “Nợ phải trả” và chỉ tiêu B “Vốn chủ sở hữu” đúng bằng số liệu của chỉ tiêu “Tổng số nguồn vốn” ở từng kỳ. - Cột “Tỷ trọng” trong kỳ phân tích (cột K) và kỳ gốc (các cột C, E, H) phản ánh tỉ trọng của từng bộ phận nguồn vốn (Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, từng loại vốn chủ sở hữu, từng khoản nợ phải trả ngắn hạn, dài hạn) chiếm trong tổng số nguồn vốn ở từng thời điểm cuối ỳ tương ứng (cuối năm N và các năm liền kề trước năm N); trong đó, số tổng cộng theo từng cột của các chỉ tiêu bộ phận (“Nợ phải trả” và “Vốn chủ sở hữu”) đúng bằng 100% và đúng bằng tỷ trọng của chỉ tiêu “Tổng số nguồn vốn”. - Cột “Cuối năm N so với cuối năm (N-1), (N-2) và (N-3)”: + Cột “Số tiền” (các cột L,O và R): phản ánh về sự biến động tuyệt đối của tổng số nguồn vốn cũng như từng loại nguồn vốn theo thời gian. Qua các cột này, các nhà phân tích sẽ thấy được mức độ biến động về quy mô của nguồn vốn cũng như nguyên nhân ảnh hưởng đến sự thay đổi về
  10. tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn. Đồng thời các nhà phân tích sẽ xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bộ phận (từng loại nguồn vốn) đến sự biến động của chỉ tiêu A “Nợ phải trả”, chỉ tiêu B “Vốn chủ sở hữu” cũng như ảnh hưởng của “Nợ phải trả” và “Vốn chủ sở hữu” đến sự biến động của chỉ tiêu “Tổng số nguồn vốn”. + Cột “Tỷ lệ” (các cột M, P và S): phản ánh sự biến động về số tương đối theo thời gian của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn. Qua các cột này, các nhà phân tích sẽ thấy được mức độ tăng tưởng và xu hướng biến động theo thời gian của từng loại nguồn vốn. + Cột “Tỷ trọng” (các cột N, Q và T): phản ánh tình hình biến động về tỷ trọng theo thời gian của từng loại nguồn vốn. Sự thay đổi theo thời gian về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn sẽ cho các nhà quản lý đánh giá được xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn hay cơ cấu nguồn huy động. Bằng việc xem xét bảng phân tích trên, các nhà quản lý sẽ thấy đươc những đặc trưng trong cơ cấu huy động vốn của doanh nghiệp, xác định được tính hợp lý và an toàn của việc huy động vốn. Qua việc xem xét cơ cấu nguồn vốn và sự biến động về cơ cấu nguồn vốn của nhiều kỳ kinh doanh, gắn với điều kiện kinh doanh cụ thể, các nhà quản lý sẽ có quyết định huy động nguồn vốn nào với mức bao nhiêu là hợp lý, bảo đảm hiệu quả kinh doanh cao nhất. Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốn, doanh nghiệp có đủ khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với các chủ nợ (ngân hàng, nhà cung cấp,..) là cao. Ngược lại, nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số nguồn vốn (cả về số tuyệt đối và tương đối) khả năng đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp, an ninh tài chính thiếu bền vững. Qua bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn, các nhà phân tích sẽ nắm được trị số và sự biến động của các chỉ tiêu: Hệ số tài trợ, Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu, Hệ số nợ so với tổng nguồn vốn. Các chỉ tiêu này đều cho thấy mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp. Trị số của chỉ tiêu “Hệ số tài trợ” càng cao, mức độ độc lập tài chính càng cao và ngược lại. Còn trị số của các chỉ tiêu “Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu” và “Hệ số nợ so với tổng nguồn vốn” càng cao, mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng thấp và ngược lại. Vốn chủ sở hữu Hệ số tài trợ = Tổng số nguồn vốn
  11. Hệ số nợ so với Nợ phải trả = vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu Hệ số nợ so với Nợ phải trả = tổng nguồn vốn Tổng số nguồn vốn 1.1.4. Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn - Quan hệ cân đối 1: Nguồn vốn chủ sở hữu và Tài sản thiết yếu (Vốn bằng tiền + Hàng tồn kho + Tài sản cố định) Theo quan điểm luân chuyển vốn, nguồn vốn chủ sở hữu của công ty đủ đảm bảo trang trải các loại tài sản cho hoạt động chủ yếu của công ty mà không cần phải đi vay hay chiếm dụng, tuy nhiên cân đối này chỉ mang tính lý thuyết. Vì vậy, cần phải so sánh quan hệ cân đối 1 ở các kỳ tính toán và đưa ra nhận xét cụ thể. - Quan hệ cân đối 2: Nguồn vốn thường xuyên, tương đối ổn định (Nguồn vốn chủ sở hữu + Nơ dài hạn) và tài sản đang có (Vốn bằng tiền + Hàng tồn kho + Tài sản cố định và đầu tư ngắn hạn). - Ngoài ra còn cần phải tính ra và so sánh các chỉ tiêu sau: + Hệ số nợ so với tài sản Chỉ tiêu này phản ứng mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng các khoản nợ. Trị số này càng cao chứng tỏ mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn, mức độ độc lập về mặt tài chính càng thấp. Do vậy, doanh nghiệp càng ít có cơ hội và khả năng để tiếp nhận các khoản vay do các nhà đầu tư tín dụng không mấy mặn mà với các doanh nghiệp có hệ số nợ so với tài sản cao. Nợ phải trả Hệ số nợ so với tài sản = Tài sản Chỉ tiêu “Hệ số nợ so với tài sản” có nhiều trị số khác nhau, phản ánh các chính sách sử dụng vốn khác nhau của doanh nghiệp. Chẳng hạn, khi trị số của chỉ tiêu này = 1, toàn bộ nợ phải trả của doanh nghiệp được sử dụng để tài trợ cho toàn bộ tài sản; trị số của chỉ tiêu này >1, số nợ phải trả được doanh nghiệp sử dụng vừa để bù lỗ vừa để tài trợ tài sản của mình; còn trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1 bao nhiêu, số nợ phải trả của doanh nghiệp sử dụng để tài trợ tài sản càng giảm bấy nhiêu.
  12. Hệ số này còn được xác định như sau: Hệ số nợ so Tài sản – Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu = = 1- = 1 - Hệ số tài trợ với tài sản Tài sản Nguồn vốn Để giảm “Hệ số nợ so với tài sản” doanh nghiệp phải tìm biện pháp để tăng “Hệ số tài trợ” + Hệ số khả năng thanh toán tổng quát Khác với mục đích sử dụng khi đánh giá khái quát khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp, chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” sử dụng trong trường hợp này lại có mục đích đánh giá chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp Hệ số khả năng Tổng tài sản = thanh toán tồng quát Tổng nợ phải trả Nếu hệ số này có trị số = 1, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng nợ phải trả và khi đó vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp = 0. Trị số của chỉ tiêu này > 1, doanh nghiệp sử dụng cho nợ phải trả và vốn chủ sở hữu để tài trợ cho tài sản. Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, mức độ tham gia tài trợ tài sản của doanh nghiệp từ nợ phải trả càng giảm và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu này càng tiến dần về 1, mức độ tham gia tài trợ tài tản từ nợ phải trả càng lớn. Trị số của chỉ tiêu này < 1, doanh nghiệp đang trong tình trạng thua lỗ, số lỗ lũy kế lớn hơn toàn bộ vốn chủ sở hữu, dẫn đến vốn chủ sở hữu bị “âm”. Lúc này doanh nghiệp buộc phải sử dụng khoản nợ phải trả vừa để bù lỗ vừa để tài trợ tài sản của mình. + Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu “Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu” là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu. Trị số của chỉ tiêu này nếu >1, chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng cả vốn chủ sở hữu và nợ phải trả để tài trợ tài sản. Trị số của chỉ tiêu càng >1 bao nhiêu, mức độ sử dụng nợ phải trả để tài trợ tài sản càng cao bấy nhiêu và ngược lại. Trường hợp trị số của chỉ tiêu < 1, nợ phải trả được doanh nghiệp sử dụng vừa để bù lỗ vừa để trang trải tài sản cho hoạt động. Hệ số tài sản so với Tài sản vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu Hệ số này còn được viết lại như sau:
  13. Hệ số tài sản so Vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả Nợ phải trả = = 1+ với vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu Nhằm thuận tiện cho việc đánh giá mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, qua đó thấy rõ được chính sách huy động và sử dụng vốn, khi phân tích, có thể lập bảng sau: Bảng 1.3. Bảng phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn Cuối năm Cuối năm N so với cuối năm… Chỉ tiêu (N-3) (N-2) (N-1) N (N-3) (N-2) (N-1) ± % ± % ± % A B C D E F G H I K L 1. Hệ số nợ so với tài sản 2. Hệ số khả năng thanh toán tổng quát 3. Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu Qua bảng phân tích trên, các nhà phân tích sẽ nắm được các nội dung chủ yếu sau: - Các cột B, C, D, E phản ánh trị số của từng chỉ tiêu ở thời điểm cuối kỳ tương ứng (cuối năm N và các năm liền kề trước năm N) - Các cột F, H và K “±” phản ánh mức độ biến động về số tuyệt đối của từng chỉ tiêu theo thời gian. Qua các cột này, các nhà phân tích sẽ thấy được mức độ biến động về quy mô của từng chỉ tiêu. - Các cột G, I và L “%” phản ánh sự biến động về số tương đối theo thời gian của từng chỉ tiêu. Qua cột này, các nhà phân tích sẽ thấy được mức độ tăng trưởng và xu hướng biến động theo thời gian của từng chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn. 1.2. PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG THANH TOÁN 1.2.1. Phân tích tình hình các khoản phải thu Các khoản phải thu của doanh nghiệp bao gồm: phải thu của khách hàng, phải thu của người bán về việc ứng trước tiền, phải thu của cán bộ công nhân viên, phải thu của các đối tượng khác,… Khi phân tích thường so sánh số cuối kỳ với số đầu kỳ hoặc qua nhiều thời điểm để thấy được quy mô và tốc độ biến động của từng khoản phải thu, cơ cấu của các khoản phải thu… Tỷ lệ giữa các khoản Các khoản phải thu = x 100 phải thu và tổng vốn Tổng vốn
  14. Các thông tin từ kết quả phân tích là cơ sở khoa học để nhà quản trị đưa ra các quyết định phù hợp cho từng khoản phải thu cụ thể như: + Tăng cường giám sát từng khoản phải thu + Quyết định đưa ra chính sách khuyến mãi, chiết khấu phù hợp + Ngừng cung cấp hàng hóa, dịch vụ đối với từng khách hàng cụ thể + Gây sức ép đối với từng khách hàng + Bán các khoản phải thu cho các công ty mua bán nợ Nhằm thuận tiện cho việc phân tích các khoản phải thu, khi phân tích, có thể lập bảng sau: Bảng 1.4. Bảng phân tích các khoản phải thu Cuối năm Cuối năm N so với cuối năm… (N-3) (N-2) (N-1) N (N-3) (N-2) (N-1) Các khoản phải thu Giá Tỷ Giá Tỷ Giá Tỷ Giá Tỷ ± % ± % ± % trị trọng trị trọng trị trọng trị trọng A B C D E G H I K L M N O P Q 1. Phải thu của khách hàng 2. Trả trước cho người bán 3. Phải thu nội bộ 4. Phải thu theo tiến độ hợp đồng 5. Các khoản phải thu khác 6. Dự phòng các khoản phải thu Tổng cộng Trong các khoản phải thu, phải thu của khách hàng thường chiếm tỷ trọng đáng kể, phải thu của khách hàng có ý nghĩa quan trọng đối với tình hình tài sản của doanh nghiệp. Khi các khoản phải thu của khách hàng có khả năng thu hồi thì chỉ tiêu giá trị tài sản thuộc bảng cân đối kế toán có ý nghĩa cho quá trình tính toán, ngược lại khi chỉ tiêu phải thu của khách hàng không có khả năng thu hồi thì độ tin cậy trên bảng CĐKT thấp ảnh hưởng đến quá trình phân tích. 1.2.2. Phân tích tình hình công nợ phải trả Các khoản phải trả của doanh nghiệp bao gồm: phải trả người bán, phải trả cán bộ công nhân viên, thuế phải nộp ngân sách, phải trả tiền vay, phải trả đối tượng khác,.. Khi phân tích thường so sánh số cuối kỳ với số đầu kỳ hoặc so sánh qua nhiều thời điểm liên tiếp để thấy được
  15. quy mô và tốc độ tăng giảm của từng khoản phải trả, cơ cấu của từng khoản phải trả. Thông tin từ kết quả phân tích là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định thanh toán phù hợp nhằm nâng cao uy tín và hạn chế rủi ro tài chính cho doanh nghiệp. Nhằm thuận tiện cho việc phân tích các khoản phải trả, khi phân tích, có thể lập bảng sau: Bảng 1.4. Bảng phân tích các khoản phải trả Cuối năm Cuối năm N so với cuối năm… (N-3) (N-2) (N-1) N (N-3) (N-2) (N-1) Các khoản phải thu Giá Tỷ Giá Tỷ Giá Tỷ Giá Tỷ ± % ± % ± % trị trọng trị trọng trị trọng trị trọng A B C D E G H I K L M N O P Q I. Nợ ngắn hạn 1. Vay ngắn hạn 2. Phải trả cho người bán 3. Người mua trả tiền trước 4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước 5. Phải trả người lao động 6. Chi phí phải trả 7. Phải trả nội bộ 8. Phải trả theo tiến độ kế hoạch HDXD 9. Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác 10. Dự phòng phải trả ngắn hạn II. Nợ dài hạn 1. Phải trả dài hạn người bán 2. Phải trả dài hạn nội bộ 3. Phải trả dài hạn khác 4. Vay và nợ dài hạn ………… Tổng cộng 1.2.3. Phân tích khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn đó là các khoản nợ mà doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán trong thời hạn dưới 1 năm kể từ ngày phát sinh. Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản phải trả người bán, cán bộ công
  16. nhân viên, thuế nôp ngân sách, vay ngắn hạn, vay dài hạn đến hạn trả.. Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn có vai trò rất quan trọng đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu thanh toán nợ ngắn hạn thấp, kéo dài thường xuất hiện dấu hiệu rủi ro tài chính, nguy cơ phá sản có thể xảy ra kể cả trong điều kiện chỉ tiêu khả năng thanh toán tổng quát cao. - Hệ số khả năng thanh toán nhanh bằng tiền Hệ số khả năng thanh Tiền + Tương đương tiền = toán nhanh bằng tiền Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nhanh của tiền và các khoản tương đương tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này cao quá, kéo dài chứng tỏ khả năng thanh toán nhanh tốt, tuy nhiên chỉ tiêu này quá cao có thể dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn giảm. Chỉ tiêu này thấp quá, kéo dài chứng tỏ doanh nghiệp không có đủ khả năng thanh toán các khoản công nợ ngắn hạn, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản có thể xảy ra. Có thể tham khảo hệ số thanh toán nhanh bằng tiền (k): k1 cao - Hệ số khả năng thanh toán hiện thời (hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn) Hệ số khả năng thanh Tài sản ngắn hạn = toán nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết với tổng giá trị tài sản ngắn hạn hiện có doanh nghiệp có đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không. Chỉ tiêu này càng cao khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại. - Hệ số khả năng thanh toán nhanh Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán thực sự của công ty trước những khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này được tính toán dựa trên những tài sản ngắn hạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, không bao gồm khoản mục hàng tồn kho, vì hàng tồn kho là tài sản khó hoán chuyển thành tiền nhất là hàng tồn kho kém phẩm chất.
  17. Hệ số khả năng Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho = thanh toán nhanh Nợ ngắn hạn Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng trong giá trị tài sản ngắn hạn còn bao gồm giá trị tài sản ngắn hạn khác mà tài sản này còn kém thanh khoản hơn cả tồn kho. Do đó, trên thực tế ở tử số của công thức tính “hệ số khả năng thanh toán nhanh”, chúng ta không nên máy móc loại tồn kho ra khỏi giá trị tài sản ngắn hạn mà nên cộng dồn các khoản tài sản ngắn hạn nào có tính thanh khoản cao hơn hàng tồn kho. Hệ số khả năng Tiền + Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn + Khoản phải thu = thanh toán nhanh Nợ ngắn hạn Có thể tham khảo hệ số thanh toán nhanh (h): h2 cao 1.2.4. Phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn Nợ dài hạn là các khoản nợ mà doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán trong thời han trên 1 năm kể từ ngày phát sinh. Nợ dài hạn của doanh nghiệp là một bộ phận của nguồn vốn ổn định dùng để đầu tư các tài sản dài hạn như tài sản cố định, bất động sản đầu tư, chứng khoán dài hạn,... Khi phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn ta thường sử dụng những chỉ tiêu sau: - Khả năng thanh toán tổng quát. Khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp là một chỉ tiêu tài chính cơ bản, nhằm cung cấp thông tin cho các cấp quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các quyết định cho doanh nghiệp vay bao nhiêu tiền, thời hạn bao nhiêu, có nên bán hàng chịu cho khách hàng không,… đều dựa vào thông tin về khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp càng cao, càng tốt đó là nhân tố quan trọng hấp dẫn các tổ chức tín dụng cho vay tiền. Ngược lại, khả năng thanh toán tổng quát quá thấp kéo dài có thể dẫn tới doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản. Do vậy phân tích khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp là một chỉ tiêu quan trọng nhằm cung cấp thông tin cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn trong các hoạt động kinh doanh, góp phần đảm bảo an toàn và phát triển vốn.
  18. Hệ số khả năng thanh Tổng tài sản = toán tổng quát (H) Tổng nợ phải trả Khi H ≥ 1: Doanh nghiệp có đủ và thừa khả năng thanh toán, khi đó tình hình của doanh nghiệp khả quan, tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh. Khi H < 1: Doanh nghiệp không có khả năng thanh toán, chỉ tiêu này càng nhỏ có thể dẫn tới doanh nghiệp sắp bị giải thể hoặc phá sản trong tương lai. Để đánh giá chính xác khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp, ta thường xem xét mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán. Khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán là tổng hợp các chỉ tiêu tài chính phản ánh tại một thời điểm phân tích. Có thể tóm tắt mối quan hệ giữa nhu cầu và khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua bảng sau: Khả năng thanh toán Nhu cầu thanh toán 1. Khả năng thanh toán của kỳ hiện tại 1. Nhu cầu phải thanh toán của kỳ hiện tại - Tiền mặt: Tiền VN, vàng bạc, kim loại, đá - Các khoản công nợ quá hạn: cán bộ công nhân quý, ngoại tệ. viên, thuế nộp ngân sách, phải trả người bán, - Tiền gửi ngân hàng: Tiền VN, vàng bạc, kim phải trả cho các đối tượng cho vay, phải trả nội loại, đá quý, ngoại tệ. bộ và các khoản phải trả khác. - Tiền đang chuyển - Các khoản nợ đến hạn: phải trả người bán, - Chứng khoán dễ thanh khoản: cổ phiếu, trái phải trả tiền vay, thuế phải nộp,… phiếu 2. Khả năng thanh toán của kỳ tới 2. Các khoản phải thanh toán của kỳ tới - Các khoản phải thu của khách hàng - Các khoản thuế phải nộp - Các khoản đầu tư ngắn hạn - Các khoản phải trả cho người bán - Các khoản tiền thu từ bán hàng tồn kho ... 3. Khả năng thanh toán của các tháng tiếp theo Tổng cộng: Tổng cộng: Trên cơ sở bảng phân tích này các nhà quản lý thường tiến hành so sánh giữa khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán của từng thời điểm phân tích theo các nội dung tương ứng. Thông qua các thông tin thu nhận được để đưa ra các quyết đinh ứng xử cho từng hoạt động kinh doanh hàng ngày và kỳ tới nhằm tăng cường khả năng thanh toán góp phần ổn định cho hoạt động tài chính của doanh nghiệp. - Khả năng thanh toán nợ dài hạn Hệ số khả năng Tài sản dài hạn = thanh toán nợ dài hạn Nợ dài hạn
  19. Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nợ dài hạn đối với toàn bộ giá trị tuần của tài sản cố định và đầu tư dài hạn…, chỉ tiêu này càng cao khả năng thanh toán dài hạn trong tương lai của doanh nghiệp càng tốt sẽ góp phần ổn định tình hình tài chính. 1.3. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI 1.3.1. Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh doanh a. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất. b. Bản chất của hiệu quả kinh doanh Thực chất của hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của một tổ chức kinh tế được xét trong một kỳ nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh có thể khái quát như sau Công thức 1. Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = Yếu tố đầu vào Công thức 2 Yếu tố đầu vào Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra Kết quả đầu ra, yếu tố đầu vào có thể đo bằng thước đo hiện vật, thước đo giá trị tùy theo mục đích của việc nghiên cứu. Ở công thức (1) kết quả tính được càng lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh càng cao và công thức (2) thì ngược lại. Công thức (1) phản ánh cứ 1 đồng chi phí đầu vào (vốn, nhân công, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị…) thì tạo ra bao nhiêu đồng kết quả đầu ra như doanh thu, lợi nhuận… trong một kỳ kinh doanh, chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt.
  20. Công thức (2) phản ánh cứ 1 đồng kết quả đầu ra (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản lượng hàng hóa…) thì cần bao nhiêu đồng chi phí đầu vào (vốn, nhân công, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị…) chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả kinh doanh càng cao. Dựa vào bảng Báo cáo kết quả kinh doanh, các chỉ tiêu đầu ra bao gồm: Tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ, tổng lợi nhuận kế toán trước thuế, lợi nhuận sau thuế TNDN. Dựa vào bảng Cân đối kế toán, các chỉ tiêu yếu tố đầu vào bao gồm: Tổng tài sản bình quân, tổng nguồn vốn chủ sở hữu bình quân, tổng tài sản dài hạn bình quân, tổng tài sản ngắn hạn bình quân. Hoặc chi phí, giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động trên Báo cáo kết quả kinh doanh… 1.3.2. Ý nghĩa và nhiệm vụ phân tích hiệu quả kinh doanh a. Ý nghĩa của phân tích hiệu quả kinh doanh Thông tin từ các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh cung cấp cho mọi đối tượng quan tâm để có cơ sở khoa học đưa ra các quyết định hữu ích cho các đối tượng khác nhau. Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp thu nhận các thông tin từ việc phân tích để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, nguồn vốn, chi phí từ đó phát huy những mặt tích cực và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất để khai thác tiềm năng sử dụng của từng yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư như các cổ đông, các công ty liên doanh thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, lợi nhuận, cổ tức,… để tiếp thêm sức mạnh đưa ra các quyết đinh đầu tư thêm hay rút vốn nhắm thu lợi nhuận vào nhất và đảm bảo an toàn cho vốn đầu tư. Đối với các đối tượng cho vay như ngân hàng, kho bác, công ty tài chính thông qua các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh để có cơ sở khoa học đưa ra các quyết định cho vay ngắn hạn, dài hạn, nhiều hay ít vốn nhằm thu hồi được vốn và lãi, đảm bảo an toàn cho các công ty vay. Thông tin phân tích hiệu quả kinh doanh còn cung cấp cho cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp biết được thực chất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thế nào, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai, từ đó họ an tâm công tác, tâm huyết với nghề nghiệp.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2