intTypePromotion=1

Tiểu Luận : Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi

Chia sẻ: Phan Minh Quoc | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:42

2
572
lượt xem
158
download

Tiểu Luận : Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Dân tộc Việt Nam trải qua hơn 1000 năm dưới chế độ phong kiến thì trong khoảng thời gian do cũng có tới hàng nghìn phong trào khởi nghĩa của nông dân chống chính quyền phong kiến. Sự bùng nổ của phong trào nông dân xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội khủng hoảng dưới các triều đại phong kiến. Họ vùng lên để tự giải phóng, để giành lấy ruộng đất và xác lập một vương triều phong kiến tiến bộ hơn....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu Luận : Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi

  1. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi - - -   - - - Tiểu Luận Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 1 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  2. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi Mục Lục MỞ ĐẦU ................................................................................................................................ 3 CHƢƠNG MỘT ..................................................................................................................... 4 TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA ............................................................................ 4 ĐÀNG TRONG VIỆT NAM VÀO THẾ KỶ XVIII .............................................................. 4 1.1. Sự thối nát của chính quyền phong kiến họ Nguyễn ....................................................... 4 1.2. Kinh tế suy thoái, đời sống nhân dân cùng cực ở Đàng Trong ........................................ 7 1.3. Phong trào nông dân bùng lên rầm rộ .............................................................................. 9 CHƢƠNG HAI ..................................................................................................................... 12 PHONG TRÀO TÂY SƠN................................................................................................... 12 BÙNG NỔ VÀ THẮNG LỢI ............................................................................................... 12 2.1. Vài nét về phong trào Tây Sơn và căn cứ Tây Sơn ....................................................... 12 2.1.1. Anh em Tây Sơn .......................................................................................................... 12 2.1.2. Căn cứ Tây Sơn .......................................................................................................... 14 2.1.3. Những ngày đầu khởi nghĩa ........................................................................................ 15 2.2. Lật đổ ách thống trị của họ Nguyễn, đánh tan quân Xiêm ............................................ 16 2.2.1. Tạm hòa hoãn với quân Trịnh .................................................................................... 16 2.2.2. Đánh đuổi chúa Nguyễn, giành chủ quyền đất nƣớc ở đàng trong ............................. 19 2.2.2.1. Chiến thắng Phú Yên ............................................................................................... 19 2.2.2.2. Chiến thắng Gia Định lần I ...................................................................................... 20 2.2.2.3. Chiến thắng Gia Định lần 2 (1782) và lần 3 (1783) ................................................ 22 2.2.2.4. Chiến thắng Liên quân Xiêm - Nguyễn ................................................................... 23 2.3. Đập tan tập đoàn Lê – Trịnh, xóa bỏ ranh giới sông Gianh........................................... 24 2.3.1. Chiến dịch Phú Xuân 1786 ......................................................................................... 24 Sau khi làm chủ Nam Trung Bộ và Nam Bộ, Tây Sơn đƣợc rãnh tay đói phó với quân Trịnh ở phía bắc .............................................................................................................................. 24 2.3.2. Tiến ra Thăng Long, lật đổ họ Trịnh .......................................................................... 28 2.4. Đánh tan 20 vạn quân Thanh, giữ vững nền độc lập tổ quốc ........................................ 29 CHƢƠNG BA....................................................................................................................... 40 ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA PHONG TRÀO TÂY SƠN ................................................... 40 TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC ............................................................................................. 40 3.1. Phong trào nông dân Tây Sơn là đỉnh cao của lịch sử chiến tranh nông dân Việt Nam trong thời trung đại ............................................................................................................... 40 Phong trào nông dân Tây Sơn là một phong trào nông dân độc đáo .................................... 41 Phong trào nông dân Tây Sơn là một phong trào nông dân vĩ đại........................................ 43 KẾT LUẬN........................................................................................................................... 44 SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 2 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  3. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi MỞ ĐẦU Dân tộc Việt Nam trải qua hơn 1000 năm dƣới chế độ phong kiến thì trong khoảng thời gian do cũng có tới hàng nghìn phong trào khởi nghĩa của nông dân chống chính quyền phong kiến. Sự bùng nổ của phong trào nông dân xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội khủng hoảng dƣới các triều đại phong kiến. Họ vùng lên để tự giải phóng, để giành lấy ruộng đất và xác lập một vƣơng triều phong kiến tiến bộ hơn. Vào thế kỷ XVIII, throng bối cảnh đất nƣớc loạn lạc, các thế lực phong kiến đánh nhau để giành địa vị, đất nƣớc bị chia năm xẻ bảy, cuộc sống nhân dân khốn cùng. Chính lúc đấy, các cuộc khởi nghĩa nông dân lại bùng nổ, rầm rộ và mạn hơn bao giờ hết. Chính trong hoàn cảnh do đã xuất hiện phong trào nông dân Tây Sơn. Phong trào nông dân Tây Sơn có một ý nghĩa và vai trò lịch sử vô cùng to lớn trong lịch sử dân tộc. Đã vƣơn lên làm cả hai nhiệm vụ dân tộc và giai cấp. Hoàn thành cả hai nhiệm vụ do một cách xuất sắc. Mặt dù phong trào Tây Sơn đã không thể đi đến tháng lợi cuối cùng nhƣ ng những thành quả của Tây Sơn để lại cho vƣơng triều Nguyễn sau này cũng nhƣ cả dân tộc ta là vô cùng quý báu. Nó định dạng đƣợc hình hài đất nƣớc từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, một Việt Nam hoàn thiện hình chữ S. SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 3 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  4. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi CHƢƠNG MỘT TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA ĐÀNG TRONG VIỆT NAM VÀO THẾ KỶ XVIII 1.1. Sự thối nát của chính quyền phong kiến họ Nguyễn Thế kỷ XVI – XVIII là giai đoạn diễn ra nhiều biến đổi trong đời sống chính trị, kinh tế - xã hội trong lịch sử dân tộc. Sự tha hóa của bộ mày nhà nƣớc đã làm cho tình hình xã hội thêm rối ren. Các thế lực địa phƣơng nổi lên. Đất nƣớc bƣớc vào thời kỳ loạn lạc. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cƣớp ngôi nhà Lê. Sự xuất hiện của nhà Mạc làm cho tình hình thêm phức tạp, tạo nên cục diện Nam – Bắc triều. Trong khi chiến tranh Nam – Bắc triều chƣa kết thúc thì cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh lại diễn ra, đƣa đất nƣớc vào cảnh huynh đệ tƣơng tàn, đất nƣớc bị chia làm hai miền. Ở Đàng Ngoài, triều Lê Trung hƣng không còn đủ khả năng lập lại một chính quyền trung ƣơng tập quyền vững mạnh nhƣ trƣớc mà phải dựa hẳn vào các thế lực của họ Trịnh. Thiết chế triều đình – phủ chúa thực chất là sự nƣơng tựa vào nhau của hai thế lực: vua Lê – đã mất hết sinh khí nhƣng có hào quan của quá khứ, ít nhiều có uy tín trong dân chúng và Chúa Trịnh – những ngƣời có thực lực quân sự. Trong thiết chế này, mọi quyền lực đều nằm trong tay chúa Trịnh còn vua Lê chỉ là bù nhìn. Càng về thế kỷ thứ XVIII, bộ máy chính quyền càng mục nát đến cực độ, đặc biệt là từ khi Trịnh Sâm lên nắm quyền(1767). Triều đình mục rỗng, quan lại địa phƣơng tham tiền, thiên tai mất mùa làm cho nhân dân lâm vào cảnh khốn cùng. Khủng hoảng ở Đàng Ngoài bƣớc vào giai đoạn sâu sắc và toàn diện. SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 4 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  5. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi Ở Đàng Trong, trong những ngày đầu nam tiến, do nhu cầu tăng tiềm lực cho vùng đất mình cai trị, làm cơ sở chống lại chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn đã thi hành những chính sách cởi mở để phát triển kinh tế và mở rộng lãnh thổ. Trong vòng hai thế kỷ, lãnh thổ Đàng trong đã phát triển đến tận mũi Cà Mau. Đồng bằng sông Cửu long trở thành trung tâm nông nghiệp lớn trong khu vực. Tuy nhiên, vào nửa đầu thế kỷ XVIII, trong khi chế độ phong kiến Đàng Ngoài đã bộc lộ rõ bƣớc đƣờng suy yếu của nó, thì ở Đàng Trong, chế độ phong kiến họ Nguyễn bƣớc vào thời kỳ tiền khủng hoảng. Sau khi chiến tranh Trịnh – Nguyễn chấm dứt(1672), nền thống trị của họ Nguyễn đƣợc củng cố: địa vị cát cứ, quyền lực chính trị, thế lực kinh tế ổn định… Giai cấp thống trị họ Nguyễn tăng cƣờng bóc lột nhân dân, tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lƣợc. Sau khi địa vị chính trị đã đƣợc củng cố vững chắc, giai cấp thống trị Đàng Trong ngày càng sống xa hoa, trụy lạc, chỉ biết chăm lo củng cố quyền lực và lợi ích riêng của mình. Trên cơ sở bóc lột nhân dân trong nƣớc và gây ra các cuộc chiến tranh cƣớp bóc các nƣớc láng giềng phƣơng Nam, giai cấp thống trị họ Nguyễn trở nên rất giàu có. Từ chúa Nguyễn đến các tầng lớp quý tộc, quan lại, địa chủ ở khắp nơi đua nhau ăn chơi rất xa xỉ trên nồ hôi và nƣớc mắt của quần chúng lao động nghèo khổ. Các chúa Nguyễn không ngừng tăng cƣờng xây dựng các lâu đài ở kinh đô mới. Từ năm 1687, Nguyễn Phúc Trăn cho dời kinh đô từ Ái Tử (Quảng Trị) về Phú Xuân (Huế). Kinh đô Huế đƣợc xây dựng không chỉ lớn mạnh về quy mô mà công nhiều công trình chùa chiền, miếu mạo. Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725) tự cho mình là sùng đạo Phật, lấy hiệu là Thiên Túng nhân đạo để xây dựng nhiều chùa tháp. Năm 1714, Nguyễn Phúc Chu sai trùng tu và mở rộng chùa Thiên Mụ, bắt hàng ngàn ngƣời phục vụ trong cả năm trời. Y còn sai ngƣời sang Triết Giang (Trung Quốc) mua Kinh Đại Tạng cùng với SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 5 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  6. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi các thứ luật lệ, mua trên 1000 bộ về đặt trong chùa. Nhƣng đời sống của riêng ông ta thì rất xa hoa, trụy lạc, một mình có 146 ngƣời con. Năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát xƣng vƣơng, cho xây dựng kinh đô ở Ph ú Xuân (Huế). Quan lại cấp cao đua nhau xây dựng dinh thự, tiêu phí vô cùng tốn kém cho việc ăn chơi, tổ chức yến tiệc linh đình. Họ “coi vàng bạc nhƣ cát, thóc gạo nhƣ bùn, xa xỉ hết mực”. Tiền của cung ứng cho cuộc sống xa hoa của nhà Nguyễn đều bổ vào đầu dân. Trong vòng 7 năm (1746 – 1752), chúa Nguyễn thu vào 5.768 lƣợng vàng, 45.404 lƣợng bạc, 2 triệu quan tiền. Số dân phải đóng góp còn gấp 2, 3 lần số đó vì “về nhà nƣớc đƣợc một phần thì kẻ trƣng thu lấy 2 phần”. Theo nhận xét của Lê Qúy Đôn: “hàng năm có hàng trăm thứ thuế mà trƣng thu thì phiền phức, gian lận, nhân dân khổ vì nởi một cổ hai tròng”. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777), chính quyền họ Nguyễn ngày càng thêm thối nát hơn. Thần quyền Trƣơng Thúc Loan đã phế truất Hoàng Tôn Dƣơng, đƣa Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi chúa khi mới 12 tuổi. Mặc dù mới 12 tuổi nhƣng cũng rất hoang dâm, tốn kém, Nguyễn Phúc Thuần tự xƣng là “Khách Phủ Đạo Nhân” ngày đêm bày trò ca hát, không lo gì đến triều chính. Quyền thần Trƣơng Thúc Loan thâu tóm mọi quyền hành, lôi bè kéo phái. Ông ta một mình 5 lộc lớn, hằng năm thu trên 200 lạng bạc, tham ô từ 3 – 4 vạn quan tiền. Tƣơng truyền, hằng năm y bắt quan lại, bính lính nộp 5 gánh dây mây dùng để xâu tiền. Trong nhà Loan “vàng bạc, châu báu, gấm vóc đầy rẫy, nô bộc, trâu ngựa không biết bao nhiêu mà kể xiết. Qua mỗi mùa mƣa, Loan đem vàng bạc ra phơi nắng sáng chói cả góc sân”. Nội bộ chính quyền phân chia bè phái, những ngƣời chống Loan đều bị giết hại. Chúa đã nhƣ vây, bọn triều thần cũng ăn chơi, rƣợi chè, dâm dặt không kém. Một đại thần nhƣ Nguyễn Hoãn suốt ngày đêm say rƣợi. Một đại thần khác nhƣ Nguyễn Nghiễn có tớ 12o vợ lẽ, nàng hầu. Giai cấp phong kiến từ địa phƣơng đến trung ƣơng đều xa hoa, chúng đua nhau ăn chơi, đực khoét của dân, tạo ra những tệ nạn xã hội. Hệ thống quan lại cồng SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 6 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  7. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi kền, ăn bám, thối nát. Quan trƣờng trở thành nơi làm giàu của bọn quan lại, do vậy nạn mua bán quan tƣớc diễn ra rất phổ biến. Bộ máy chính quyền càng to phình, thối nát, ngu dốt. Nhƣ vậy, bức tranh toàn cảnh tình hình chính trị của Việt Nam trong thế kỷ XVIII nói chung và của Đàng Trong nói riêng, chế độ phong kiến đang bƣớc vào giai đoạn khủng hoảng sâu sắc, trầm trọng. Cơ đồ thống trị của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn đang lung lay tới tận gốc rễ. Sứ mệnh quật nhào thế lực phong kiến rỗng mục ấy, lịch sử đã trao cho phong trào Tây Sơn. 1.2. Kinh tế suy thoái, đời sống nhân dân cùng cực ở Đàng Trong Trong thời Trịnh – Nguyễn phân tranh và sau đó là giai đoạn đất nƣớc bị chia cắt, kinh tế Đàng Trong có sự phát triển hơn Đàng Ngoài. Với ƣu thế đó thì những dấu hiệu suy thoái kinh tế ở vùng đất phía nam cũng đến chậm hơn. Đầu tiên là ngoại thƣơng sa sút: lúc này tàu buôn phƣơng tây hầu nhƣ không đến nữa, tàu buôn nƣớc ngoài tham gia vào hoạt động ngoại thƣơng ở Đàng Trong chỉ có thƣơng nhân Hoa Kiều. Năm 1773, toàn bộ số tàu đến Hội An chỉ có 8 chiếc. Đàng trong không có mỏ đồng nên thứ nguyên liệu này phải nhập khẩu hoàn toàn. Khi ngoại thƣơng suy giảm, đồng để đức tiền củng không đủ. Họ Nguyễn cho phép tƣ nhân đƣợc đúc tiền tự do để thu lợi. Kết cục đã gây ra tình tạng rối loạn nội tệ, mà sử học gọi là “nạn tiền hoang”. Trong khi tình hình ngoại thƣơng suy thoái gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến kinh tế hàng hóa thì sự rối loạn tiền tệ đã dẫn đến tình trạng đầu cơ tích trữ, làm ngƣng truệ mọi hoạt động lƣu thông. Các đô thị mới đều hƣng thịnh nhƣ Thanh Hà, Hội An, Nƣớc Mặn dần dần lụi tàn. Sự suy thoái kinh tế thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là ở vùng Thuận Quảng. Đây là nơi đất chật ngƣời đông, vậy mà từ giữ a thế kỷ XVIII, SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 7 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  8. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi hiện tƣợng dân bỏ ruộng hoang ngày càng trở nên phổ biến. Huyện nào cũng có ruộng đất bị bỏ hoang. Trong khi đó, những ruộng đất tốt lại bị “bọn nhà giàu xâm chiếm khiến ngƣời nghèo không có mảnh đất cắm dùi, cho nên ngƣời giàu càng giàu, ngƣời nghèo càng nghèo”. Các ngành thủ công nghiệp, khai thác lâm sản… cũng sa sút. Kinh tế Đàng Trong lâm vào tình trạng đình đốn, suy thoái nghiêm trọng. Kinh tế suy thoái, thế nkháo nặng nề, quan lại tham nhũng đã làm cho đời sống nhân dân Đàng Trong cơ cực, gây bất bình cho mọi tầng lớp nhân dân. Từ những năm 30, thiên tai lụt lội xảy ra liên miên khiến cho những vùng đất trù phú nhất cũng lâm vào nạn đói. Năm 1752, một nạn đói lứon đã xảy ra làm cho nhiều ngƣời chết đói. Đói kém xảy ra liên tục trong 4, 5 năm liền. Thê thảm nhất là nạn đói lớn ở Thuận Hóa 1774. Theo lời mô tả của giáo sĩ La Bactet thì: “gạo đắt nhƣ vàng (…) tình trạng đói khổ đã bày ra lắm cảnh thƣơng tâm khó tả, xác chết chồng lên nhau”. Tình hình tập trung ruộng đất rất cao, phần lớn ruộng đất đều tập trung trong tay giai cấp địa chủ giàu có. Do đó, quá trình kiêm tính ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng quyết liệt hơn. Giai cấp nông dân ở đây cực khổ, bị đè nặng dƣới chế đô bóc lột địa tô của địa chủ và mâu thuẩn giai cấp ngày càng triử nên sâu sắc. Ngoài sự cƣớp đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ, nông dân còn phải chịu thêm gánh nặng thuế khóa. Vào cuối thế kỷ XVIII, họ Nguyễn tăng thêm một số ngạch thuế của và đặt thêm một số thứ thuế khác. Riêng thuế đò, thuế chợ cũng tăng lên gấp bội. Nhân dân Đàng Trong còn phải nộp cho bọn quan lại để miễm thuế nhân đinh. Nông dân bị cƣớp đoạt ruộng đất, bị bóc lột bằng tô thuế, lao dịch nên phần lớn bị phá sản. Tình trạng nợ tô thuế triền miên không trả đƣợc, năm 1765, Nguyễn Phúc Thuần ra lệnh truy thu thuế thiếu từ 10 năm trƣớc. SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 8 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  9. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi Mất mùa do hạn hán lụt lội thƣờng xuyên xảy ra làm cho tình trạng đói kém diễn ra một cách thƣờng xuyên. Những năm 1706, 1712, 1735, 1736… đều có nạn lụt lớn, nhất là Quảng Nam. Năm 1752, nạn đói lại xảy ra, một phƣơng gạo đến 3 quan tiền. Năm 1774, cả xứ Thuận Hóa lâm vào nạn đói lớn “ ngƣời ta phải ăn thịt nhau”. Tình trạng không đƣợc chính quyền phong kiến và giai cấp địa chủ giải quyết càng làm cho nền kinh tế nông nghiệp bị suy sụp. Nhƣ vậy, do sự thối nát của chính quyền phong kiến ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, mà đời sống nhân dân trở nên khốn cùng. Mâu thuẫn xã hội giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến ngày càng gay gắt, nông dân không còn con đừơng nào khác là phải nổi dậy khởi nghĩa. 1.3. Phong trào nông dân bùng lên rầm rộ Trong lịch sử dân tộc, thế kỷ XVIII đƣợc mệnh danh là “ thế kỷ chiến tranh nông dân”. Cuộc khủng hoảngvề chính trị diễn ra ở cả hai miền, do vậy phong trào nông dân diễn ra suốt chiều dài đất nƣớc. Chính quyền Lê – Trịnh tỏ ra hoàn toàn bất lực trƣớc các vấn đề kinh tế - xã hội. Triều đình mục nát, suy đồi. Các vùng nông thôn bị các thế lực cƣờng hào, lý dịch thao túng. Đất đai bị tranh chiếm, dân nghèo bị ức hiếp, nông dân bị đẩy ra khỏi làng xã, trở thành lực lƣợng xã hội đông đảo, bất bình với chính quyền phong kiến. Do vậy, hộ đã đứng dậy đấu tranh. Các phong trào phát triển sâu rộng ở cả miền núi và miền xuôi, trong đó có cả những cuộc khởi nghĩa thu hút cả hàng vạn ngƣời tham gia và kiên cƣờng bền bỉ đứng dậy đấu tranh chống lại ách áp bức, cƣờng quyền hàng chục năm. Tiêu biểu nhƣ các cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật(1738 – 1770), Hoàng Công Chất(1739 – 1769), Nguyễn Hữu Cầu(1741 – 1751), Nguyễn Danh Phƣơng(1741 – 1751). Tuy nhiên, những phong trào này đến năm 1770 đều bị dập tắt. Mặt yếu của các phong trào nông dân trong giai đoạn này là bế tắc về đƣờng SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 9 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  10. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi lối. Các cuộc khởi nghĩa chỉ thể hiện sự phản kháng quyết liệt của những ngƣời bị trị cùng khổ đối với chính quyền tham nhũng tàn bạo, họ không đƣa ra đƣợc bất cứ một chƣơng trình cải cách tiến bộ nào và với bản chất nông dân họ không có đƣợc sự liên kết thống nhất. Do vậy, sự thất bại trong các phong trào là không thể tránh khỏi. Mặt dù thất bại, nhƣng phong trào của nông dân Đàng Ngoài cũng đã buộc chính quyền phong kiến phải điều chỉnh chính sách cai trị, và thúc đẩy sự sụp đổ của chính quyền phong kiến Lê – Trịnh. Với Đàng Trong, sau một thời kỳ phát triển, xã hội Đàng Trong cũng không tránh đƣợc sự suy thoái, khủng hoảng. Giữa thế kỷ XVIII, sử sách đã bắt đầu chép nhiều đến hiện tƣợng “trộm cƣớp nổi dậy tứ tung”. Cuộc sống khốn cùng đã đẩy ngƣời dân vào con đƣờng cầm vũ khí vùng lên đấu tranh. Năm 1747, ở Gia Định, cuộc khởi nghĩa của thƣong nhân Hoa Kiều cùng Văn Quang cầm đầu bùng nổ. Bât bình với chính sách chèn ép thƣơng nhân của Nguyễn Phúc Khoát, Quang nhóm họp bạn bè khoản 300 ngƣời, chiếm cứ bãi Đông Phố và dự định đánh úp dinh Trấn Biên. Tuy nhiên cuộc nổi dậy chóng bị dập tắt. Lẻ tẻ ở nhiều nơi cũng nổ ra những cuộc bạo động của nông dân. Cho đến trƣớc phong trào Tây Sơn, khởi nghĩa lớn nhất là cuộc nổi dậy ở phủ quy Nhơn do Lía lãnh đạo. Vốn xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, đã từng phải đi ăn xin, đi ở cho địa chủ, chàng Lía đã sớm nhận ra sự bất công trong xã hội và thấu hiểu nổi thống khổ của nhân dân. Là ngƣời khí khái, có sức khẻo và giỏi võ nghệ, khi gặp nạn đói xảy ra, nhân dân phẩn uất, Lía đã tập hợp dân nghèo nổi dậy khởi nghĩa. Nghĩa quân Lía đã xây dựng căn cứ ở Truông Mây (nay thuộc xã An Đức, Hoài an, Bình Định) để chống lại họ Nguyễn. Hoạt động chủ yếu của nghĩa quân là đánh cƣớp nhà giàu, lấy gạo, của cải chia cho ngƣời nghèo. Cuối cùng cuộc khởi nghĩa cũng bị đàn áp, căn cứ Truông Mây bị vây hãm, Lía buộc phải tự sát. Các cuộc đấu tranh của ngƣời Chăm cũng đã diễn ra mạnh mẽ. Lớn nhất là cuộc khởi nghĩa của thủ lĩnh Dƣơng Bao Lai, Diệp Mã Lăng ở trấn Thuận Thành SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 10 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  11. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi vào năm 1746. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhƣng đã giáng vào nền thống trị của ho Nguyễn một đòn mạnh mẽ. Năm 1714, nhân dân các dân tộc thiểu số ở Cam Lộ (Quảng Trị) cũng nổi dậy gây cho họ Nguyễn nhiều lúng túng. Nhƣ vậy, tình thế cách mạng sôi sục trong cả nƣớc cùng với sự suy yếu cực độ của các thế lực phong kiến và sự dạn dày chiến đấu của những ngƣời nông dân ở thế kỷ XVIII đã là nhân tố hết sức quan trọng giúp cho phong trào nông dân ở cuối thế kỷ XVIII có thể phát động thành một cuộc chiến tranh nông dân lớn mạnh đủ sức đánh tan mọi thế lực phong kiến lớn nhỏ trong cả nƣớc. Chính trong hoàn cảnh lịch sử thuận lợi đó, phong trào nông dân Tây Sơn đã xuất hiên và có đủ điều kiên để phát triển ngày càng lớn mạnh. SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 11 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  12. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi CHƢƠNG HAI PHONG TRÀO TÂY SƠN BÙNG NỔ VÀ THẮNG LỢI 2.1. Vài nét về phong trào Tây Sơn và căn cứ Tây Sơn 2.1.1. Anh em Tây Sơn Năm 1771, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ do ba anh e m Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo. Tổ tiên 4 đời của anh em Tây Sơn có gốc ở Hƣng Nguyên (Nghệ An), thuộc đất Đàng Ngoài. Trong chiến tranh Trịnh – Nguyễn, năm 1655 khi quân Nguyễn vƣợt sông Gianh đánh chiếm Đàng Ngoài đã bắt tù binh và nông dân vào Đàng Trong. Trong đó có ngƣời tên là Hồ Phi Khanh (chính là tổ 4 đời của anh em Tây Sơn) cùng với một số nông dân đƣa vào khai khẩn vùng đất thuộc ấp Tây Sơn. Sau một quá trình lao động cần cù, cực khổ, tổ tiên của anh em Tây Sơn đã tạo đựoc một cơ ngơi khá giả. Anh em thân sinh của ba anh em Tây Sơn là Hồ Phi Thúc đã lấy bà Nguyễn Thị Đồng và chuyển về sinh sống ở làng Kiên Thành (Tây Sơn Hạ đạo). SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 12 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  13. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi Ngay từ thuở nhỏ, ba anh em Nguyễn Nhạ, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã đựoc thầy Nguyễn Văn Hiến dạy học. Thầy giáo Nguyễn Văn Hiến vốn là một môn khách của Ngoại hữu Trƣơng Văn Hạnh. Năm 1765, Trƣơng Phúc Loan cùng một số quan đại thần trong triều đã làm giả duy mệnh của chúa Nguyễn Phúc Khoát, bỏ Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dƣơng, lập Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi. Trƣơng Phúc Loan loại trừ một số quan lại không ăn cánh với y, Trƣơng Văn Hạnh bị giết. Nguyễn Văn Hiến phải chạy trốn khỏi sự truy sát của Trƣơng Phúc Loan vào Quy Nhơn. Vào đến Quy Nhơn, ông lƣu lạc ở làng Kiên Thành và đƣợc ông Hồ Phi Phúc cƣu mang, che chở. Cảm kích trƣớc tấm lòng của Hồ Phi Phúc, ông đã ở lại dạy văn võ cho anh em Tây Sơn. Ngoài việc truyền kiến thức, thầy Nguyễn văn Hiến còn dạy cho anh em Tây Sơn sự thối nát của chốn quan trƣờng và nổi khổ của dân. Anh em Tây Sơn lại sinh trƣởng ở vùng Quảng Nam – là nơi mâu thuẩn giai cấp phát triển gay gắt nhất ở Đàng Trong. Do vây, ba anh em Tây Sơn sớm bất bình với chế độ phong kiến thống trị của chua Nguyễn và oán ghét bọn quan lại, cƣờng hào. Nguyễn Nhạc (anh cả) là một ngƣời cơ mƣu, ông đã từung đi buôn trầu hay qua lại miền thƣợng, quen biết rất nhiều già làng ngƣời Bana. Sau đó, giữ chức Biện lại (viên quan thu thuế) trấn Vân Đồn. Nguyễn Nhạc lại lấy con gái của một tù trƣởng Bana và quen biết rất nhiều ngƣời Chăm ở thƣợng đạo. Qua thời gian làm Biện đạo, ông thấy đƣợc sự bóc lột nặng nề của quan lại phong kiến và hiểu đƣợc khát vọng của ngƣời nông dân, mặt khác ông còn bị Đốc Trƣng đè nén và hạch sách nên càng quyết tâm khởi nghĩa. Nguyễn Huệ (em thứ hai) là một ngƣời thông minh và có nhiều khả năng về quân sự, chính trị đã cùng anh của mình tổ chức khởi nghĩa. Trong thời gian xây dựng lực lƣợng, ông đã đi nhiều vùng và thuyết phục đựoc nhiều hào kiệt nhƣ Võ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân… Ông còn đóng góp sức mình trong việc xây dựng căn cứ Tây sơn Thƣợng đạo. Đào Nguyên Phổ nhận xét về Nguyễn Huệ: “Nguyễn Văn Huệ SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 13 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  14. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi sin hra tiếng sang sảng nhƣ chuông kêu, mắt lấp lánh nhƣ chớp nhoáng, tính tình giAảo hoạt, dụng binh đánh trận rất giỏi, ngƣời ta ai cũng đều sợ”. Nguyễn Lữ (em thứ ba) cũng có những đóng góp trong việc huấn luyện nghĩa quân nhƣ: sáng tác bài võ Hùng Kê Quyền và trực tiếp tham gia khởi nghĩa từu những ngày đầu. 2.1.2. Căn cứ Tây Sơn Căn cứ Tây Sơn thuộc ấp Tây Sơn, huyện Phù Mỹ, phủ Quy Nhơn, dinh Quảng Nam (gồm các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai ngày nay). Vùng quảng Nam vốn là một vùng trù phú. Các nhà buôn bán nƣớc ngoài thƣờng coi Quảng Nam là một trung tâm kinh tế giàu có vào loại bậc nhất Đàng Trong . Và Quảng Nam cũng là nơi có chế độ thuế khóa nặng nề nhất. Ấp Tây Sơn có hai vùng là Tây Sơn Thƣợng đạo và Tây Sơn Hạ đạo. Đây là vùng có vị trí thuận lợi xung yếu. Từ đây, nghĩa quân có thể uy hiếp đồng băng và bao vây phủ Quy Nhơn, cắt đôi giang sơn của họ Nguyễn. Vùng này có nhiều voi, ngựa và các thứ lâm sản khác, là hậu phƣơng tại chổ cho nghĩa quân. Cƣ dân vùng này, ngoài ngƣời Việt còn có nhiều thành phần khác nhƣ Chăm, Bana, Xêđăng, Giarai… đều đƣợc tập hợp dƣới ngọn cờ chính nghĩa của nghĩa quân. Ban đầu, anh em Tây Sơn chọn Tây Sơn Thƣợng đạo là nơi xây dựng căn cứ và chuẩn lực lƣợng. Tây sơn Thƣợng đạo là một vùng cao nguyên và rừng núi rộng lớn chiếm gần ¾ đất đai của phủ Quy Nhơn. Căn cứ Tây Sơn Thƣợng đạo nằm trọn vẹn ở thung lũng An Khê (Gia Lai) gồm hai phần: Tây Sơn nhất và Tây Sơn nhị. Phần lớn căn cứ của nghĩa quân ở Tây Sơn nhị, nơi đây là vùng cƣ trú chủ yếu của ngƣời Bana và một số ít ngƣời Việt. Ở đây, Nguyễn Nhạc đã đắp lũy dựa trên địa thế núi rừng hiểm trở. Dấu tích còn lại là lũy An khê gồm có 7 cạnh, 4 cửa Bắc, Nam, Đông, Tây, vừa kiểm soát đƣợc con đƣờng độc đạo lên cao nguyên Plâycu, vừa dễ dàng rút lui vào rừng núi. SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 14 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  15. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi Toàn bộ căn cứ Tây Sơn Thƣợng đạo nằm trong một thung lũng khá rộng liên hệ với Tây sơn Hạ đạo qua đèo Mang và cao nguyên Plâycu qua đèo Mang Giang. Từ căn cứ, nghĩa quân có thể theo đƣờng mòn suống Tây sơn Hạ đạo và vùng đất Phú Yên. Theo đƣờng thủy, nghĩa quân có thể xuôi dòng sông Ba tới Phú Yên, theo dòng sông Côn tới Tây Sơn Hạ đạo và phủ lỵ Quy Nhơn. Chính những con đuờng thủy, bộ này đã tạo khả năng liên kết các vùng làm cơ sở cho anh em T ây Sơn liên kết lực lƣợng và là con đƣờng buôn bán để cung cấp lực lƣợng cho nghĩa quân. Tây Sơn Hạ đạo là một vùng đất bằng phẳng, khá trù phú gần với phủ thành Quy Nhơn. Cuối 1772, Nguyễn Nhạc mở rộng căn cứ, tiến quân từ Tây sơn Thƣợng đạo xuống Tây Sơn Hạ đạo, thành lập đại bản doanh ở Kiên Thành. 2.1.3. Những ngày đầu khởi nghĩa Sau một thời gian chuẩn bị chu đáo và dƣới sự hƣởng ứng đông đảo của đồng bào miền thƣợng, Nguyễn Nhạc đã cho xây dựng đồn lũy ngay trên đỉnh đèo An Khê. Trung tâm căn cứ này nằm ở thôn An Lũy, huyện an khê, Gia Lai. Để phát động lực lƣợng dân nghèo đứng dậy đấu tranh, Nguyễn Nhạc nêu cao khẩu hiệu “lấy của ngƣời giàu chia cho dân nghèo”. Khẩu hiệu đấu tranh thiết thực đã đáp ứng nguyện vọng của ngƣời dân nghèo khổ và có tác dụng lôi cuốn mạnh mẽ đông đảo quần chúng lao động vùng dậy khởi nghĩa. Từ căn cứ, nghĩa quân thƣờng chia thành các toán nhỏ gồm vài trăm ngƣời về giải phóng các làng xã. Nghĩa quân trừng trị bọn xã trƣởng, tịch thu các loại giấy tờ, kế ƣớc phong kiến rồi đốt trƣớc mặt quần chúng, tuyên bố bãi bỏ mọi thứ thuế. Vì vậy, nhân dân ở mọi nơi đều tích cực tham gia hƣởng ứng. Mặt khác, lợi dụng mâu thuẩn giữa các phe phái phong kiến và để cô lập kẻ thù, Nguyễn Nhạc còn khôn khéo nêu lên khẩu hiệu: “Ủng hộ Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dƣơng, diệt trừ bọn SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 15 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  16. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi Dƣơng Thúc Loan”. Đi tới đâu nghĩa quân cũng đƣợc ủng hộ, số ngƣời tham gia ngày càng đông. Những đƣờng lối vận động cách mạng và khẩu hiện đấu tranh nói trên đã đoàn kết và tập hợp lực lƣợng để đánh địch. Ngay từ những ngày đầu khởi nghĩa, trong hàng ngũ nghĩa quân không chỉ có các tầng lớp nhân dân và đủ mọi thành phần dân tộc mà còn có những ngƣời giàu có nhƣ Nguyễn Thung, Huyền Khuê, thƣơng nhân Hoa Kiều. Một phong trào nông dân trong thời phong kiến mà có đƣợc nhiều tầng lớp nhân dân tham gia nhƣ thế là điều hiếm có. Với sự nhiệt tình phản ứng của quảng đại quần chúng nhân dân ngay từ ngày đầu khởi nghĩa, lực lƣợng vũ trang của phong trào Tây Sơn đã tới 3000 ngƣời. Căn cứ địa Quy Nhơn lại có nhiều voi, ngựa tốt. Đồng bào miền núi Quy Nhơn có truyền thống đua ngựa, quản tƣợng giỏi. Đồng bào cả miền Quy Nhơn, Kinh, Thƣợng đều có truyền thống thƣợng võ, giỏi quân sự. Cho nên những đội quân đầu tiên của phong trào Tây Sơn đã là những đội quân thiện chiến và dũng cảm. Tới năm 1773, lực lƣợng vũ trang của nghĩa quân đã có tới hàng vạn ngƣời. Căn cứ địa của nghĩa quân gồm một khu vực rộng lớn của phủ Quy Nhơn. Vùng An Khê và ba huyện Phù Ly, Bồng Sơn, Tuy Viễn. Tới đây, công tác chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa đã đựoc hoàn thành. Nghĩa quân có thế kiểm soát hoàn toàn vùng Quy Nhơn. Giờ khởi nghĩa đã tới. Nghĩa quân có thể mở những cuộc tấn công đầu tiên vào quân địch và nắm chắc phần thắng lợi. 2.2. Lật đổ ách thống trị của họ Nguyễn, đánh tan quân Xiêm 2.2.1. Tạm hòa hoãn với quân Trịnh Mùa thu năm 1773, Nguyễn Nhạc quyết định mở một cuộc tấn công đánh chiếm phủ thành Quy Nhơn. Đạo quân tiên phong của nghĩa quân do Nguyễn Thung, Nhung Huy và Tứ Linh chỉ huy tiến lên bao vây phủ thành Quy Nhơn. SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 16 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  17. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi Nguyễn Nhạc giả bị bắt, cho ngƣời đóng củi khiêng vào thành Quy Nhơn nộp cho tuần phủ Nguyễn Đắc Tuyên. Đang đêm, Nguyễn Nhạc phá củi và đánh chiếm đƣợc phủ Quy Nhơn. Tuần phủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên và toàn bộ quân Nguyễn phải chạy trốn. Chiếm đƣợc phủ thành Quy Nhơn, nghĩa quân tiếp tục phát triển ra phía Bắc và vào phía Nam. Ở phía Nam, quân Tây Sơn đánh đuổi quân Nguyễn qua đèo Cù Mông và sau đó chiếm toàn bộ vùng đất Phú Yên cho đến Bình Thuận. Năm 1774, Lƣu Thủ Long Hồ là Tống Phú Hiệp mang quân từ Gia Định tiến đánh nghĩa quân , chiếm lại vùng đất này và đẩy quân Tây Sơn về phía bên kia đèo Cù Mông. Ở phía Bắc, nghĩa quân tiến đánh và chiếm đƣợc Kiến Dƣơng và Đạm Thủy, giết đƣợc đốc Trƣng Đằng và khâm sai Lƣợng. Thừa thắng, nghĩa quân t iến đánh và chiếm đƣợc Quảng Ngãi, uy hiếp Quảng Nam. Trong lực lƣợng nghĩa quân có thêm đông đảo nông dân ở các vùng này, đáng chú ý là hai đạo quân của thuwong nhân ngƣời Hoa là Hòa nghĩa quân của Lý tài và Trung nghĩa quân của Tập Đình. Triều Nguyễn hoảng sợ vội cử 4 tƣớng lĩnh cấp cao là Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Cửu Sách, Tống Sùng và Đỗ Văn Hoảng mang quân chống cự. Nghĩa quân rút về Thạch Tân, đặt phục binh đánh bại các cánh quân của chúa Nguyễn ở vùng giáp ranh là hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, giết chết 3 tƣớng Nguyễn là Nguyễn Cửa Sách, Tống Sùng và Đỗ Văn Hoảng. Trận đại thắng này đã nâng cao thanh thế của nghĩa quân và cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của quân dân. Cũng từ đây, thế và lực của họ Nguyễn bị phân tán và suy yếu hẳn, không thể không thoát khỏi tình trạng bị tiêu diệt hoàn toàn. Triều Nguyễn bị kẹp giữa hai lực lƣợng đối địch: mặt Bắc là quân Trịnh, mặt Nam là Tây Sơn. Nhận thấy tình hình nguy khốn của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, trấn thủ Nghệ An là Bùi Thế Đạt liền dâng thƣ với chúa Trịnh Sâm. Sẳn mƣu đồ tiến đánh Đàng Trong, thống nhất quyền lực, Trịnh Sâm liền sai Hoàng Ngũ Phúc làm Bình Nam thƣợng tƣớng quân cùng với bọn Búi Thế Đạt, Hoàng Đình Thể mang 3 vạn quân tiến vào Đàng Trong. SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 17 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  18. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi Năm 1774, quân Trịnh vƣợt sông Gianh lần lƣợt đánh chiếm Bố Chính, Đồng Hới tiến nhanh vào Thuận Hóa. Ngày 30/01/1975 quân Trịnh hạ thành Phú Xuân. Chúa Nguyễn Phúc Thuần phải bỏ kinh thành chạy vào Quảng Nam. Để Hoàng Tôn Nguyễn Phúc Dƣơng ở lại chống cự. Không kịp để cho bọn chúa Nguyễn nghĩ ngơi, nghĩa quân Tây Sơn theo ha đƣờng thủy, bộ tiến vào Quảng Nam, bắt đƣợc Hoàng Tôn Nguyễn Phúc Dƣơng tại Cu Đê và chiếm lấy Quảng Nam. Tháng 3 năm 1775, quân Trịnh tiến đánh Quảng Nam. Nghĩa quân cũng tiến lên Quảng Nam để lùng bắt Nguyễn Phúc Dƣơng. Tháng 4 năm 1775, quân Trịnh tiến đánh quân Tây Sơn. Lần đầu tiên nghĩa quân Tây Sơn tiếp xúc với quân Trịnh đang trên đà thắng lợi: Nguyễn Nhạc cử Tập Đinh làm tiên phong, Lý Tài làm trung quân, tiến đánh quân Trịnh ở Cẩm Sa thuộc Quảng Nam. Nhƣng Tập Đình bị đại bại, bỏ trốn khỏi nghĩa quân tìm đƣờng chạy về Trung Quốc. Nguyễn Nhạc và Lý Tài phải rút quân về Bản Tân. Quân Trịnh vẫn tiến, Nguyễn Nhạc rút quân về Qui Nhơn. Thấy nghĩa quân Tây Sơn đang bị thất bại nặng nề trƣớc sức tấn công của quân Trịnh, tháng 5năm 1775, tứơng Nguyễn là Tống Phú Hiệp đem quân đánh chiếm toàn bộ Phú Yên. Nghĩa quân phải rút từ Phú Yên về Quy Nhơn. Nhƣ vậy, căn cứ địa của nghĩa quân bị thu hẹp trong phạm vi Qui Nhơn, Quảng Ngãi và lâm vào thế kẹp giữa hai gọng kìm: Quân Trịnh ở phía Bắc Quy Nhơn và quân Nguyễn của Tống Phúc Hiệp ở phía Nam Quy Nhơn. Quân địch ở cả hai mặt này tổng số lên tới 5- 6 vạn quân. Nghĩa quân ở trong cái thế không thể đƣơng đầu cùng một lúc hai kẻ thù Trƣớc hoàn cảnh nguy hiểm đó, nghĩa quân đã sử dụng biện pháp ngoại giao để chặn một tay kẻ thù và chuẩn bị tấn công một kẻ một trong hai kẻ thù ấy thì, quân Trịnh của Hoàng Ngũ Phúc là nguy hiểm nhất. Cần phải hòa hoãn với quân Trịnh. Tháng 7 năm 1775, Nguyễn Nhạc sai ngƣời mang vàng, bạc, châu báu và một bức thƣ đến doanh trại Hoàng Ngũ Phúc “xin hàng”, nộp ba phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên và xin làm tƣớng tiên phong đi đánh quân Nguyễn. Lúc này, SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 18 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  19. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi thời tiết nóng nực, quân Trịnh mệt mỏi, tinh thần binh sĩ hoang mang nên Hoàng Ngũ Phúc phong cho Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn hiệu trƣởng tráng tiết tƣớng quân và sai mang quân đi đánh quân Nguyễn. Nhƣng tƣớng Trịnh vẫn không lui quân, đóng nguyên vị trí cũ sát với căn cứ địa của Tây Sơn, với ý đồ: nếu quân Tây Sơn đánh thắng quân Nguyễn thì quân Trịnh sẽ tiến theo sau, chiếm lấy thành quả của nghĩa quân mà không phải tốn sức. Nếu nghĩa quân không thắng thì sẽ tiến vào căn cứ Quảng Ngãi, Quy Nhơn tiêu diệt nghĩa quân, trực tiếp đối phó với quân Nguyễn. Nghĩa quân thấy rõ mƣu đồ của quân Trịnh, quyết định phải đánh chiếm đựơc Phú Yên, đẩy lùi quân Nguyễn về phía Nam, đồng thời lấy chiến thắng đó làm áp lực buộc quân Trịnh không đƣợc xâm phạm vào căn cứ của nghĩa quân. 2.2.2. Đánh đuổi chúa Nguyễn, giành chủ quyền đất nƣớc ở đàng trong 2.2.2.1. Chiến thắng Phú Yên Năm 1775, Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Hụê đem đại quân đi đánh Phú Yên. Tại đây quân của Tống Phúc Hiệp có 2 vạn quân. Nguyễn Nhạc bề ngoài giả vờ liênn kết với Tống Phúc Hiệp đề lập Hoàng Tôn Nguyễn Phúc Dƣơngên ngoi chúa, Tống Phúc Hiệp tƣởng thật, hội ngộ với quân của Nguyễn Nhạc. Nhân đó, Nguyễn Huệ mang quân đánh úp Phú Yên rồi giao cho Lý Tài Trần giữ. Nhƣ vậy là 2 vạn quân của Tống Phúc Hiệp bị tan rã, Phú Yên thuộc quyền kiểm soát của quân Tây Sơn. Quân Nguyễn bị đẩy lùi xuống phía Nam và từ đây mất hẳn khả năng tấn công Tâ y Sơn. Trong khi Nguyễn Huệ đánh Phú Yên thì tƣớng Trịnh cũng thừa cơ tiến sau một bƣớc vào gần căn cứ của nghĩa quân ở Chu Ổ. Nhƣng với chiến thắng vang dội của Nguyễn Huệ ở Phú Yên làm cho quân Trịnh phải kính nể. Theo yêu cầu của SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 19 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736
  20. Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi Nguyễn Nhạc, Hoàng Ngũ Phúc phải phong cho Nguyễn Huệ là Tiên phong tƣớng quân. Sau đó, tự thấy không thể đàn áp đƣợc phong trào Tây Sơn, Hoàng Ngũ Phúc phải rút quân về Bắc Hà. Nghĩa quân từ đây rảnh tay vì không phải đối phó với quân Trịnh. Nhƣ vậy, chiến thắng Phú Yên của nghĩa quân Tây Sơn dƣới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ có tác dụng quan trong, làm thay đổi cục diện hoàn toàn có lợi cho Tây Sơn. Chiến thắng Phú Yên đã gỡ cho nghĩa quân Tây Sơn ra khỏi thế kiềm kẹp của hai gọng kiềm của cả hai thế lực mạnh Trịnh – Nguyễn, vĩnh viễn ngăn chặn bƣớc tiến vào nam của quân Trịnh và mở đƣờng cho sự phát triển rộng lớn ra toàn quốc của phong trào nông dân Tây Sơn. 2.2.2.2. Chiến thắng Gia Định lần I Sau khi chiến thắng Phú Yên, cả hai kẻ địch mạnh Nguyễn – Trịnh đều bị đẩy lùi ra căn cứ Quy Nhơn của nghĩa quân. Đƣợc rảnh tay đối phó với quân Trịnh các lãnh tụ Tây Sơn quyết định tập trung lực lƣợng tiêu diệt họ Nguyễn ở miền nam. Năm 1776, Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Lữ mang thủy binh đánh chiếm Gia Định và các dinh trấn ở Nam Bộ. Quân Tây Sơn chiếm đƣợc Gia Đ ịnh và các dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ. Chúa Nguyễn Phúc Thuần và tôn thất của họ Nguyễn phai rtrốn về Tây Nam Bộ. Tống Phúc Hiệp phải mang quân từ Bình Khang về chiếm lại Trấn Biên. Ở Mỹ Tho, lực lƣợng thƣơng nhân Hoa Kiều và đại địa chủ Nam Bộ đ ã thành lập đội quân Đông Sơn (đối lập với Tây Sơn) dƣới sự lãnh đạo của Đỗ Thành Nhơn và tiến về Gia Định. Nguyễn Lữ phải ra lệnh tịch thu lƣơng thực, của cải rồi rút về Quy Nhơn. Nhƣ vậy, quân Nguyễn mặc dù chiếm đƣợc Gia Định nhƣng phải rút bỏ các phủ Diên Khánh, Bình Khang, Bình Thuận. SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang 20 Nguyễn Thị Phƣơng MSSV: 0711736

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản