intTypePromotion=1
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 143
            [banner_name] => KM - Normal
            [banner_picture] => 316_1568104393.jpg
            [banner_picture2] => 413_1568104393.jpg
            [banner_picture3] => 967_1568104393.jpg
            [banner_picture4] => 918_1568188289.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 6
            [banner_link] => https://alada.vn/uu-dai/nhom-khoa-hoc-toi-thanh-cong-sao-ban-lai-khong-the.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 14:51:45
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Tóm tắt đề tài: Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực giáo dục ở nhà trường Công an Nhân dân

Chia sẻ: Nguyễn Hồng Vân | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:23

0
60
lượt xem
12
download

Tóm tắt đề tài: Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực giáo dục ở nhà trường Công an Nhân dân

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tóm tắt đề tài: Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực giáo dục ở nhà trường Công an Nhân dân bao gồm những nội dung về những vấn đề chung về quản lý các nguồn lực giáo dục; thực trạng, yêu cầu mới và phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nguồn lực giáo dục tại trường.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt đề tài: Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực giáo dục ở nhà trường Công an Nhân dân

  1. LỜI MỞ ĐẦU Quản lý là một hoạt động phổ  biến diễn ra trong mọi hoạt động xã  hội, nó là các hoạt động mang tính định hướng, có chủ  định của chủ  thể  quản lý đến đối tượng quản lý, nhằm đạt được mục đích đề  ra. Quản lý  luôn đóng vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, nó được   coi là trung tâm điểu khiển các hoạt động xã hội.  Trong cơ  cấu tồn tại và vận động của xã hội có rất nhiều loại hình  quản lý, nhiều lĩnh vực quản lý. Xong quản lý giáo dục – đào tạo là loại  hình quản lý  giữ  vai  trò  đặc biệt quan trọng, vì nó quyết định  đến chất  lượng  giáo dục, quyết định đến sản phẩm đào tạo là con người, nói rộng ra  nói ảnh hưởng và chi phối trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực, do vậy  nó trực tiếp quyết định tới sự vận động, phát triển của xã hội.        Cùng với hệ thống giáo dục của cả nước, hệ thống giáo dục trong lực  lượng Công an nhân dân được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của  Nhà nước, mà trực tiếp là Đảng uỷ Công an trung  ương và Bộ  Công an. Hệ  thống giáo dục trong các nhà trường Công an nhân dân (CAND)   được tổ  chức và quản lý chặt chẽ, công tác quản lý giáo dục trong các nhà trường   CAND luôn được chú trọng, không ngừng đổi mới, đáp  ứng yêu cầu xây  dựng lực lượng Công an theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng   bước hiện đại.          Xong trước sự vận động phát triển không ngừng của xã hội, sự  thay đổi nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đồng thời   đứng trước những yêu cầu đòi hỏi mới về  xây dựng lực lượng vũ trang   trong thời kỳ  mới đã đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi mới cho hệ  thống giáo  dục trong các nhà trường CAND. Trong đó việc nâng cao chất lượng hiệu  quả  quản lý các nguồn lực luôn là yêu cầu, là đòi hỏi hết sức cấp thiết để 
  2. 2 nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục – đào tạo trong các nhà   trường hiện nay. I. NHỮNG VẤN ĐỀ  CHUNG VỀ  QUẢN LÝ CÁC NGUỒN LỰC GIÁO  DỤC Ở NHÀ TRƯỜNG CÔNG AN NHÂN DÂN 1. Nguồn lực giáo dục ở nhà trường CAND  Nguồn lực giáo dục ở nhà trường Công an bao gồm tổng hợp của nhiều   nguồn lực, xong chủ  yếu là các nguồn lực như: Nguồn nhân lực, nguồn tài  lực, nguồn vật lực, trong  đó nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng và  quyết định nhất. Nguồn nhân lực thực chất là những con người, tập thể  người trong lực lượng CAND, trong các nhà trường Công an tham gia trực   tiếp vào quá trình giáo dục ­ đào tạo cán bộ  các cấp cho Ngành Công an.  Nguồn nhân lực  ở  các nhà trường Công an bao gồm lực lượng đông đảo  như: đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên, hạ sĩ quan chiến sĩ được đào   tạo ở trình độ nhất định, có chức trách đảm đương nhiệm vụ nhất định trong  nhà trường Công an,  ở  các tổ  chức các cấp trong nhà trường về  giáo dục ­  đào tạo như: cán bộ  lãnh đạo, chỉ huy, giảng viên, cán bộ  quản lý học viên,   cán bộ  các cơ  quan chuyên môn, nhân viên chuyên môn kỹ  thuật... Đội ngũ   này có vai trò quyết định đến việc nâng cao chất lượng giáo dục ­ đào tạo ở  nhà trường Công an. Vì vậy, nguồn nhân lực giáo dục ở nhà trường Công an  là nguồn lực năng động nhất của nhà trường, nó chi phối và quyết định các  nguồn lực khác. Thông qua nguồn lực giáo dục (con người) mà các nguồn   lực khác mới phát huy tốt tác dụng và đạt hiệu quả cao nhất trong giáo dục ­  đào tạo. Đồng thời, nguồn nhân lực giáo dục có ảnh hưởng lớn đến mức độ  sử  dụng các nguồn lực khác của nhà trường trong giáo dục ­ đào tạo. Như  vậy, nguồn nhân lực giáo dục  ở  nhà trường Công an là nguồn lực cơ  bản   quan trọng nhất, quyết định và chi phối các nguồn lực khác trong quá trình  giáo dục ­ đào tạo của mỗi nhà trường. Nguồn lực giáo dục trong nhà trường  Công an còn có  nguồn tài lực  trong giáo dục ­ đào tạo. Nguồn tài lực chính là nguồn tài chính đảm bảo cho 
  3. 3 hoạt động giáo dục ­ đào tạo thường xuyên của từng nhà trường (lượng tiền   ­ ngân sách đảm bảo cho giáo dục). Nguồn tài lực của nhà trường Công an  bao gồm tổng hợp tất cả các lượng tiền ­ ngân sách đảm bảo huy động trong  quá trình đào tạo của từng nhà trường, bao gồm: nguồn tài chính do trên cấp   (Nhà nước, Bộ Công an); nguồn tài chính do các nhà trường tự khai thác qua   nhiều kênh khác nhau; nguồn thu khác trên cơ  sở  đúng nguyên tắc tài chính,   đúng pháp luật và huy động được của các tổ chức, cá nhân và từ địa phương.   Nguồn tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục ­ đào tạo ở nhà  trường Công an; nếu nguồn tài chính đủ, dồi dào sẽ  là điều kiện quan trọng  thúc đẩy công tác giáo dục ­ đào tạo đạt chất lượng tốt và góp phần trực   tiếp cho sự phát triển bền vững của mỗi nhà trường CAND. Tiếp đó, nguồn vật lực cũng là một nguồn lực rất quan trọng trong giáo  dục ­ đào tạo  ở nhà trường Công an; góp phần cùng các nguồn nhân lực, tài   lực để nhà trường thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục ­ đào tạo. Nguồn  vật lực chính là nguồn đảm bảo về vật chất cho nhà trường, bao gồm: cơ sở  vật chất nhà trường; phương tiện kỹ thuật dạy ­ học; giáo trình, giáo khoa,   tài liệu dạy ­ học, thao trường, bãi tập, các loại phòng học, phòng chuyên  dùng, phòng thí nghiệm... đảm bảo cho quá trình giáo dục ­ đào tạo của nhà   trường, đảm bảo yêu cầu tính sư  phạm. Trong tình hình hiện nay, cần tăng  cường đảm bảo các phương tiện dạy ­ học hiện đại, nhằm đáp ứng yêu cầu   phát triển giáo dục. Các nguồn lực giáo dục trên ở nhà trường Công an có mối quan hệ mật  thiết, chặt chẽ  với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ  giáo dục ­ đào  tạo, phát triển nhà trường. Trong đó, nguồn nhân lực có vai trò quyết định  đến việc nâng cao chất lượng giáo dục ­ đào tạo của mỗi nhà trường, nhất   là sự nghiệp phát triển giáo dục hiện nay. 2. Nguyên tắc quản lý các nguồn lực giáo dục ở nhà trường CAND Quản lý các nguồn lực giáo dục  ở  nhà trường Công an cần phải được  thực hiện theo những nguyên tắc cơ  bản bao trùm của nó. Vì vậy, quản lý  các nguồn  lực giáo dục ở nhà trường Công an cần thực hiện theo những nguyên tắc sau   đây:
  4. 4 Một là, quản lý các nguồn lực giáo dục ở nhà trường Công an phải đảm  bảo tính pháp luật. Là nguyên tắc cơ  bản quan trọng đặc thù phản ánh vai   trò tầm quan trọng của công tác quản lý các nguồn lực giáo dục. Bởi vì, mọi  hoạt động quản lý các nguồn lực cần phải tuân thủ theo pháp luật quy định,  đó là: Luật Giáo dục, chiến lược giáo dục, các văn bản, quy chế, quy quy   định trong giáo dục ­ đào tạo của Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Công an; Điều  lệ  trường đại học; Điều lệ  nhà trường CAND Việt Nam. Có như  vậy mới   bảo đảm cho sự  phát triển đúng hướng theo định hướng xã hội chủ  nghĩa   của giáo dục, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng lực lượng CAND và   bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hai là, quản lý nguồn lực giáo dục ở nhà trường Công an phải đảm bảo  tính khoa học. Đây là nguyên tắc quan trọng góp phần nâng cao chất lượng  quản lý nguồn lực giáo dục trong nhà trường. Vì vậy, mọi hoạt động quản   lý các nguồn lực giáo dục ở nhà trường Công an phải đảm bảo có tính luận  chứng khoa học vững chắc và cơ sở thực tiễn phong phú. Ba là, quản lý các nguồn lực giáo dục  ở nhà trường Công an phải đảm   bảo tính hướng đích.  Nghĩa là, mọi hoạt động quản lý các nguồn lực phải   luôn hướng vào mục đích xây dựng và phát triển nhà trường; trong đó trọng  tâm là nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ  các cấp trong lực lượng  CAND. Bốn là, quản lý các nguồn lực giáo dục  ở nhà trường CAND phải đảm  bảo chú ý tính đặc thù của nhà trường Công an. Nghĩa là, quản lý nguồn lực  phải bao gồm tất cả  các nội dung, các khâu, các bước phù hợp, hiệu quả  nhất; từ quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, xây dựng có tính đặc thù;  vừa đảm bảo theo tuân theo quy chế, quy định chung của nhà nước, vừa tuân   theo quy chế, quy định của Ngành Công an. 3. Quản lý nguồn lực giáo dục ở nhà trường CAND Quản lý các hoạt động giáo dục – đào tạo trong các nhà trường Công   an, bao gồm trên tất cả  các mặt các hoạt động, trong đó hoạt động quản lý  các nguồn lực giáo dục của nhà trường là hết sức quan trọng vì nó quyết   định  đến  chất  lượng  hiệu  quả   công  tác giáo  dục –  đào  tạo  của các  nhà  trường CAND. Hoạt động quản lý đó thực chất là quá trình quản lý từng  nguồn lực giáo dục bao gồm: nguồn nhân, nguồn tài lực, nguồn vật lực. 
  5. 5 a. Quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở nhà trường CAND Quản lý nguồn nhân lực giáo dục  ở  đại học Công an là quá trình xây  dựng kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, điều khiển và kiểm tra công việc của các  thành viên, đơn vị  trong hệ  thống quản lý của nhà trường nhằm thực hiện   tốt các mục tiêu đã xác định.   Nguồn nhân lực giáo dục  ở  các nhà trường đại học trong lực lượng   CAND là một lực lượng đông đảo bao gồm nhiều bộ phận, từ Hiệu trưởng   đến công nhân viên, trong đó đội ngũ giảng viên, cán bộ làm công tác quản lý  giáo dục và đội ngũ học viên là lực lượng nòng cốt. Mặc dù mỗi bộ phận, cá   nhân có nhiệm vụ và tính chất hoạt động khác nhau, song giữa các lực lượng  luôn có mối quan hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau và luôn biến động  thay đổi; do vậy, quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở  nhà trường Công an là   một quá trình vận động, phát triển không ngừng. Quản lý nguồn nhân lực giáo dục  ở  nhà trường Công an thực chất là  quản lý hoạt động của giảng viên, học viên, cán bộ  làm công tác quản lý  giáo dục và các tổ  chức sư  phạm trong việc thực hiện n ội dung, ch ương   trình, kế hoạch giáo dục ­ đào tạo. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các  nguồn nhân lực giáo dục ở nhà trường Công an được xác định trong các văn  bản có tính pháp chế của nhà nước và Ngành Công an về giáo dục như: Luật  giáo dục, Điều lệ  nhà trường đại học, Điều lệ công tác nhà trường Công an  nhân dân Việt Nam...  Do đó, quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở nhà trường   Công an có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, quan hệ quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở nhà trường Công an  chủ  yếu là các mối quan hệ  giữa nhân cách với nhân cách (giữa con người   với con người). Các mối quan hệ  đó có các tính chất như: quan hệ  chỉ  huy,   lãnh đạo ­ phục tùng; quan hệ  hợp tác, phối hợp; quan hệ  xã hội đan xen;  trong đó quan hệ chỉ huy, lãnh đạo ­ phục tùng là cơ bản nhất. Hai là,  các loại hình hoạt động của nguồn nhân lực giáo dục  ở  nhà   trường Công an rất phong phú, đa dạng đan   xen và tác động qua lại lẫn  nhau. Biểu hiện đó là, hệ  thống quản lý giáo dục được tổ  chức khoa học,   chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi trong lãnh đạo, chỉ huy, điều hành kịp thời,  chính xác; ngoài ra còn thực hiện các nhiệm vụ khác ngoài lãnh đạo, chuyên 
  6. 6 môn, chức trách; các hoạt động luôn đan xen, tác động hỗ trợ lẫn nhau (hoạt   động quản lý đặc thù ở nhà trường Công an so với dân sự).   Ba là,  quản lý nguồn nhân lực giáo dục  ở  nhà trường Công an được  tiến hành theo chu trình khép kín và liên tục, bao gồm 6 khâu (bước) sau: Bước 1: Xây dựng kế hoạch quản lý nguồn nhân lực giáo dục Bước 2: Chuẩn bị nhân sự Bước 3: Giao nhiệm vụ Bước 4: Tổ chức, điều khiển hoạt động Bước 5: Đánh giá kết quả hoạt động Bước 6: Tổng kết, sắp xếp lại nguồn nhân lực, chuẩn bị  cho chu trình  quản lý mới Những đặc điểm cơ  bản trên của quản lý nguồn nhân lực giáo dục  ở  nhà trường Công an vừa phản ánh tính chất đặc thù của quản lý nhân lực  ở  các trường đại học nói chung, vừa phản ánh những nét đặc thù của công tác   giáo dục và đào tạo ở nhà trường Công an nói riêng. Vì vậy, đòi hỏi chủ thể  quản lý giáo dục  ở  nhà trường Công an phải rất linh hoạt, sáng tạo; thực   hiện thống nhất, đồng bộ  các phương thức quản lý khoa học, làm cho toàn  hệ quản lý vận hành nhịp nhàng, hiệu quả, đạt được mục đích đã xác định. b. Quản lý nguồn tài lực giáo dục ở nhà trường CAND Quản lý nguồn tài lực (tài chính) ngân sách giáo dục ­ đào tạo  ở  nhà  trường Công an là một khâu quan trọng trong công tác quản lý giáo dục ­ đào   tạo, có mối quan hệ mật thiết với quản lý nguồn nhân lực, nguồn vật lực. Nguồn tài chính ngân sách đảm bảo cho giáo dục ­ đào tạo ở nhà trường  Công an bao gồm từ quá trình lập dự toán ngân sách giáo dục ­ đào tạo; quá   trình chi tiêu tài chính ngân sách và quản lý kinh phí đào tạo. Nội dung quản lý tài chính ngân sách giáo dục ­ đào tạo  ở  nhà trường  Công angồm: Một là,  quản lý quá trình dự  toán ngân sách giáo dục ­ đào tạo hàng  năm, quý... và dự toán thu ­ chi tài chính ngân sách theo phân cấp. Hai là,  quản lý nội dung chi tiêu ngân sách giáo dục ­ đào tạo  ở  từng  nhà trường theo phân cấp. Ba là, quản lý kinh phí đảm bảo cho công tác giáo dục ­ đào tạo trong   quá trình giáo dục ­ đào tạo của nhà trường.
  7. 7 Bốn là,  quản lý chi tiêu tài chính ngân sách cho huấn luyện của nhà  trường, bao gồm: ngân sách đảm bảo cho học phẩm thường xuyên; bảo đảm  biên soạn tài liệu và hoạt động nghiên cứu khoa học; bảo đảm cho tập huấn   bổ  sung kiến thức giáo viên hàng năm; sách giáo khoa, tài liệu tham khảo   của thư  viện; bảo  đảm xây dựng chương  trình khung, chương  trình môn  học; xây dựng các chương trình phần mềm dạy học; xây dựng thao trường,  bãi tập; bảo đảm các hoạt động khác cho giáo dục ­ đào tạo. Năm là,  quản lý tài chính ngân sách bảo đảm cho công tác bảo quản  trường;   tài   chính   ngân   sách   bảo   đảm   cho   trang   bị   trường   và   nghiệp   vụ  trường. Trong quá trình quản lý tài chính ngân sách, các chủ  thể  quản lý cần  tiến hành đồng bộ các nội dung, biện pháp quản lý phù hợp, hiệu quả nhất,   đảm bảo tiết kiệm, đúng việc cần chi, chống tham ô, lãng phí tài sản công. c. Quản lý nguồn vật lực giáo dục ở nhà trường CAND Quản lý nguồn vật lực giáo dục ở nhà trường Công an thực chất là công  tác quản lý cơ  sở  vật chất kỹ thuật giáo dục. Đó là quản lý tất cả  phương   tiện, vật chất kỹ thuật và sản phẩm khoa học công nghệ được huy động vào   các  hoạt động giáo dục của nhà trường ­ phương tiện chủ  yếu trong giáo  dục ­ đào tạo. Cơ sở vật chất kỹ thuật là phương tiện giúp người học thực   hiện đúng quy luật nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng  và từ  tư  duy trừu tượng trở  về  thực tiễn. C ơ  s ở  v ật ch ất k ỹ thu ật  ở nhà   trường Công an có các chức năng cơ bản là: chức năng thông tin, chức năng   phục vụ các hoạt động dạy học, chức năng giáo dục.  Quản lý cơ  sở  vật chất kỹ  thuật  ở  nhà trường Công an là sự  tác động  hợp quy luật của chủ thể quản lý trường học đến đối tượng quản lý có liên   quan tới lĩnh vực cơ  sở  vật chất kỹ thuật giáo dục, nhằm làm cho các hoạt  động của nhà trường vận hành đạt tới mục tiêu đào tạo. Nguyên tắc quản lý  cơ  sở  vật chất kỹ  thuật giáo dục được dựa trên cơ  sở  nguyên tắc quản lý  các nguồn lực giáo dục. Phương pháp quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật ở nhà  trường Công an dựa trên cơ  sở các phương pháp: hành chính, giáo dục ­ tâm   lý, động viên khuyến khích. Nhiệm vụ  quản lý cơ  sở  vật chất kỹ  thuật là  quản lý việc thực hiện các chế độ quy định, quản lý bộ máy tổ chức và năng 
  8. 8 lực, quản lý nguồn tài lực, vật lực, quản lý việc cập nhật thông tin mới về  cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường. Nội dung quản lý cơ  sở  vật chất kỹ  thuật  ở  nhà trường Công an bao  gồm: quản lý hoạt động xây dựng cơ  bản, quản lý thư  viện nhà trường,  quản lý phương tiện kỹ thuật dạy học, quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo  dục khác và nguồn tài chính cho hoạt động giáo dục ­ đào tạo. Yêu cầu chủ  thể quản lý cơ sở  vật chất kỹ thuật giáo dục ở nhà trường Công an phải có   năng lực về pháp luật, năng lực về quản lý hành chính, năng lực về  quản lý  kinh tế, năng lực về quản lý thông tin và môi trường. Có như vậy thì các chủ  thể mới quản lý cơ  sở  vật chất kỹ thuật tốt nhất và phát huy hiệu quả  của   các loại cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường trong giáo dục ­ đào tạo. Quy trình quản lý cơ  sở  vật chất kỹ  thuật  ở  nhà trường Công an bao  gồm các bước: Thứ  nhất, tổ  chức xây dựng kế  hoạch quản lý.  Thứ  hai, tổ  chức thực hiện kế hoạch.  Thứ ba, bồi dưỡng, nâng cao trình độ  quản lý, sử  dụng và bảo quản cơ sở vật chất kỹ thuật.  Thứ tư, chỉ đạo công tác quản lý  cơ  sở  vật chất kỹ  thuật giáo dục.  Thứ  năm,  kiểm tra, đánh giá việc thực  hiện kế hoạch.  Thực tế  cho thấy, nếu các chủ  thể  quản lý chặt chẽ  và hiệu quả  các  nguồn lực giáo dục thì chất lượng giáo dục ­ đào tạo ở  nhà trường Công an  đạt hiệu quả cao, đảm bảo cho nhà trường luôn phát triển không ngừng. II.THỰC TRẠNG, YÊU CẦU MỚI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO  HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NGUỒN LỰC GIÁO DỤC Ở NHÀ TRƯỜNG  CÔNG AN NHÂN DÂN 1.   Thực   trạng   việc   xây   dựng­quản   lý   các   nguồn   lực   giáo   dục   ở   nhà   trường CAND hiện nay Trong   những   năm   gần   đây   trên   cơ   sở   thực   hiện   những   chủ   trương,   đường lối đổi mới trong công tác giáo dục – đào tạo. Việc xây dựng và quản   lý các nguồn lực trong các nhà trường CAND đã có nhiều chuyển biến. Các 
  9. 9 chủ  thể  quản lý giáo dục trong các nhà trường Công an đã cụ  thể  hóa các  chủ  trương đường lối thành các giải pháp cụ  thể  nhằm phát huy tối  ưu các   nguồn lực sẵn có (nội lực), đồng thời đã tranh thủ  được các nguồn lực bên  ngoài, từng bước  hạn chế  những   điểm yếu kém trong việc xây dựng và  quản lý các nguồn lực, những kết quả đó có thể  được nhìn nhận một cách   khái quát trên một số điểm mạnh yếu sau : * ĐIỂM MẠNH   Trong những năm gần đây việc đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu   quả  hoạt động giáo dục – đào tạo trong các nhà trường Công an luôn được  quan tâm, nhất là việc xây dựng và quản lý các nguồn lực trong các nhà  trường CAND.  Các chủ thể quản lý nhà nước về giáo dục đã xác định đúng vị trí vai trò  của các nguồn lực và tầm quan trọng trong phát triển, xây dựng và quản lý  các nguồn lực trong các nhà trường CAND, đã xác định được yếu tố  then  chốt trong nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục đó là cần xây dựng và phát   huy nguồn nhân lực, tài lực, vật lực và xác định nguồn nhân lực là trung tâm   của sự phát triển, do vậy trong hoạt động giáo dục của mình các nhà trường   luôn chú trọng đến việc xây dựng quản lý và phát huy nguồn nhân lực, luôn  đặt yếu tố con người làm động lực phát triển. Đồng thời phát huy cao độ các  nguồn tài lực, vật lực để  nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giáo dục –  đào tạo điều đó được thể hiện ở trên một số mặt như :  a.Đối với việc xây dựng, quản lý nguồn nhân lực:  Trong những năm gần đây các nhà trường CAND đã tập trung xây dựng   nguồn nhân lực từng bước đáp  ứng yêu cầu cả  về  số  lượng và chất lượng,  điều đó được thể hiện như:  Đội ngũ nhà giáo được củng cố có cơ cấu khá hợp lý, chất lượng ngày   càng được nâng lên, có bản lĩnh chính trị vững vàng; có trình độ học vấn, tỷ  lệ  qua thực tiễn đơn vị, qua đào tạo giáo viên, bồi dưỡng sư  phạm của đội  ngũ nhà giáo ngày càng cao, được tiếp cận với khoa học công nghệ  ngày  càng tốt hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu đào tạo của các cấp học, bậc học.  Đội ngũ cán bộ  quản lý giáo dục bước đầu được kiện toàn, củng cố,   đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, nhất là trình độ quản lý. Số  lượng và   chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ngày càng được nâng lên rõ rệt,  
  10. 10 trình   độ,   năng   lực,   phương   pháp,   tác   phong   công   tác   được   nâng   lên   một  bước, đáp  ứng ngày tốt hơn so với yêu cầu nhiệm vụ  giáo dục ­ đào tạo  hiện nay. Tổ chức, biên chế  ngày càng theo hướng hợp lý, cân đối, phù hợp   hơn. Đối với học viên ở các nhà trường Công an việc lựa chọn tạo nguồn đã  có nhiều bước chuyển biến, chất lượng đầu vào các trường Công an đã tốt   hơn, số  lượng đảm bảo theo yêu cầu đào tạo, việc quản lý đã được quan   tâm đúng mức, tạo môi trường sư phạm thuận lợi nhất cho học viên học tập   và rèn luyện. Do vậy chất lượng giáo dục – đào tạo của các nhà trường  Công an trong những năm qua đã được nâng lên. Công tác quản lý học viên  đã từng bước đi vào nền nếp và đạt được những kết quả  quan trọng. Các  cấp đã coi trọng công tác kế hoạch hóa các hoạt động quản lý học viên trong  quá trình đào tạo. Bộ máy quản lý học viên, nhất là cán bộ  quản lý các đơn   vị  học viên thường xuyên được củng cố, kiện toàn đáp  ứng được mục tiêu,  yêu cầu quản lý. Hệ thống văn bản pháp quy về quản lý học viên cũng được   xây dựng, bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn. Sự phối hợp giữa các tổ  chức  trực tiếp quản lý học viên và các lực lượng tham gia vào công tác quản lý   học viên ngày càng chặt chẽ.  b.Về quản lý và xây dựng nguồn tài lực: Việc đầu tư  và quản lý nguồn tài lực (tài chính)  ở  nhà trường Công an  những năm qua đã góp phần quan trọng vào thực hiện tốt và nâng cao chất   lượng giáo dục ­ đào tạo ở nhà trường CAND. Nhà nước, Bộ  Công an đã chú trọng tập trung đầu tư  kinh phí cho giáo  dục ­ đào tạo. Các nhà trường Công an đã nhận được sự  quan tâm đặc biệt  của các ngành, các cấp từ Trung  ương đến địa phương. Đồng thời, từng nhà  trường Công an đã tích cực tự khai thác các nguồn thu khác, huy động các tổ  chức chính trị, xã hội tham gia giúp đỡ  về  tài chính phục vụ  cho công tác  giáo dục ­ đào tạo của nhà trường. Công tác quản lý nguồn tài chính ngân sách  ở  nhà trường Công an luôn  đảm bảo đúng nguyên tắc tài chính, tính kế  hoạch và tính chính xác cao;   phòng chống được hiện tượng tham ô, tham nhũng, đảm bảo tiết kiệm, hiệu   quả  nhất. Các nhà trường đã quản lý tốt các nguồn tài chính do trên cấp, 
  11. 11 nguồn tự  khai thác, nguồn thu khác, đảm bảo cho sự  nghiệp giáo dục ­ đào   tạo và phát triển nhà trường. c.Về xây dựng và quản lý  nguồn vật lực: Công tác xây dựng, đầu tư và quản lý nguồn vật lực (cơ sở vật chất kỹ  thuật) giáo dục  ở  nhà trường Công an những năm qua đã đạt được những   kết quả  rất quan trọng, góp phần hoàn thành nhiệm vụ  và nâng cao chất  lượng giáo dục ­ đào tạo ở nhà trường quân sự. Việc đầu tư xây dựng nhà ở,   giảng đường, phòng học, phòng thí nghiệm và các trang thiết bị phục vụ dạy   ­ học được triển khai có hiệu quả. Phương tiện kỹ  thuật hiện đại, nhất là  công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý  Việc quản lý cơ  sở  vật chất kỹ  thuật giáo dục ­ đào tạo ở  nhà trường   Công an được tổ chức, duy trì chặt chẽ, có hiệu quả, đảm bảo khai khác tốt  nhất mọi tính năng, tác dụng, ứng dụng, bảo quản, tiết kiệm m ọi c ơ s ở vật   chất, kỹ thuật, phương tiện dạy ­ h ọc, giáo dục. * ĐIỂM HẠN CHẾ a.Về công tác xây dựng và quản lý nguồn nhân lực: Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng công tác xây dựng, quản lý đội ngũ   nhà giáo còn những hạn chế, bất cập.  Đội ngũ nhà giáo còn thiếu về  số  lượng và tỷ lệ đạt chuẩn về chất lượng còn thấp. Lực lượng kế cận mỏng,   kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế. Kết quả tự học, tự nghiên cứu của một   số  nhà giáo còn hạn chế. Chế  độ  chính sách có nội dung chưa phù hợp với   lao động sự  phạm, vì thế  chưa thu hút người giỏi vào các trường Công an.   Trong quá trình chuẩn hoá trình độ, nhiều nhà giáo phải luân phiên đi học, đi  thực tế, kiêm nghiệm giảng dạy, số giờ đứng lớp cao. Các nhà giáo có trình  độ cao, đầu ngành giỏi chuyên sâu, có uy tín phần lớn đã nhiều tuổi. Cơ cấu   ngành nghề  tuy đã được tích cực khắc phục song còn mất cân đối. Chất  lượng đội ngũ nhà giáo còn có mặt hạn chế. Tỷ  lệ nhà giáo có trình độ  sau  đại học, đại học, qua thực tế  đơn vị, qua đào tạo, bồi dưỡng về  sư  phạm   đều thấp so với quy định của Nhà nước và Bộ Công an. Trình độ ngoại ngữ,   tin học của đội ngũ nhà giáo, khả năng sử  dụng trang thiết bị dạy học hiện   đại, tiếp cận cập nhật thông tin, vận dụng phương pháp dạy học hiện đại  còn nhiều bất cập.
  12. 12 Trong công tác xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ  quản lý giáo dục  ở  nhà trường Công an những năm qua còn tồn tại những hạn chế, bất cập, đó  là: Tổ  chức, biên chế  một số  cơ  quan quản lý giáo dục chưa phù hợp, chưa   đáp  ứng được chức năng nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ  quản lý giáo dục ­ đào  tạo còn thiếu về số  lượng, yếu về chất lượng, nhất là khả  năng tham mưu   đề  xuất và nghiên cứu, xây dựng quy hoạch, kế  hoạch cho đào tạo; nghiên  cứu, xây dựng chiến lược phát triển giáo dục ­ đào tạo trong quân đội cũng   như  trong từng trường. Đảng  ủy Công an Trung  ương đã chỉ  rõ: “Năng lực   thực hành nhiệm vụ  của một số  cán bộ  và tay nghề  của một số  nhân viên   chuyên môn kỹ thuật khi ra trường chưa đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm  vụ”. Bên cạnh đó, việc nắm nội dung và ý thức chấp hành các văn bản pháp   quy của một số  không nhỏ  cán bộ  quản lý giáo dục còn hạn chế, chưa triệt   để. Đối với đội ngũ học viên, công tác xây dựng và quản lý học viên ở  nhà  trường Công an vẫn còn những hạn chế là:   Công tác quản lý học viên còn thiếu tính đồng bộ  và toàn diện, còn   nặng về  quản lý hành chính, chưa chú trọng quản lý theo kế  hoạch. Kinh   nghiệm và phương pháp quản lý, giáo dục, rèn luyện học viên của một bộ  phận cán bộ  chưa đáp  ứng yêu cầu về  đổi mới quản lý giáo dục ­ đào tạo,  chưa tích cực trong tự học, tự nghiên cứu để  nâng cao trình độ  và cập nhật   với những thông tin mới còn nhiều hạn chế. Nội dung quản lý học viên chưa   toàn diện, thiếu trọng tâm, trọng điểm. Quản lý học viên trong các ngày  nghỉ, giờ nghỉ thiếu chặt chẽ, tính kế hoạch hóa trong quá trình quản lý học  viên chưa cao. Việc phát hiện và xử lý vi phạm của cán bộ quản lý chưa kịp  thời, còn biểu hiện che giấu khuyết điểm của đơn vị vì thành tích cá nhân và  tập thể. Kết quả  học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện và năng lực hoạt  động thực tiễn của một bộ phận không ít học viên còn hạn chế, có mặt còn  thấp so với mục tiêu, yêu cầu đào tạo. b.Về việc xây dựng và quản lý nguồn tài lực Công tác quản lý tài chính ngân sách ở nhà trường Công an thời gian qua  còn một số  hạn chế, bất cập cần khắc ph ục đó là: quản lý ngân sách xây  dựng các công trình cơ  bản chưa chặt chẽ, chất lượng xây dựng một số  công trình còn chậm tiến độ, chưa đảm bảo đúng chất lượng theo kết cấu 
  13. 13 đã thiết kế, có biểu hiện thất thoát, lãng phí tiền của nhà nước. Việc thực   hiện chi tiêu tài chính  ở  một số  đơn vị  chưa đúng nguyên tắc; một số  nơi   chưa công khai việc sử  dụng ngân sách hàng năm rõ ràng. Công tác quản lý  nguồn tài chính tự khai thác và nguồn thu khác thiếu chặt chẽ, công khai, rõ   ràng.   Việc   đảm   bảo   tài   chính   ngân   sách   của   trên   hàng   năm   cho   các   nhà  trường Công an còn hạn chế. c.Về xây dựng và quản lý nguồn vật lực Công tác quản lý cơ  sở  vật chất kỹ  thuật giáo dục  ở  nhà trường Công  an những năm qua còn tồn tại một số  hạn chế, yếu kém, đó là: nhận thức,   trách nhiệm của một số  cán bộ, nhân viên về  công tác quản lý cơ  sở  vật  chất kỹ  thuật còn hạn chế; vũ khí, trang bị  kỹ  thuật phục vụ đào tạo ở  các   nhà trường còn lạc hậu so với  đơn vị; đầu tư  xây dựng cơ  bản cho các   trường còn ở  mức thấp và chưa động bộ; phân cấp quản lý và công tác bảo   đảm cho các trường còn chống chéo, phân tán; đầu tư kinh phí cho việc mua  sắm vũ khí, trang bị  kỹ thuật, cơ sở phương tiện day ­ học, thao tr ường bãi  tập, phòng thí  nghiệm,... còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, quản lý  hoạt  động xây dựng cơ  bản còn là khâu yếu kém; quản lý phương tiện kỹ  thuật   dạy ­ học còn hiện tượng chưa nắm chắc nguyên tắc, hiểu biết về  tính  năng, tác dụng của phương tiện; việc đầu tư và quản lý các thiết bị và công  nghệ thông tin ở nhà trường Công an nhìn chung còn chậm, thiếu thốn và lạc  hậu chưa đáp  ứng với yêu cầu nhiệm vụ  giáo dục – đào tạo của các nhà  trường CAND. 2. Những yêu cầu mới trong xây dựng và quản lý các nguồn lực giáo dục   ở nhà trường Công an hiện nay Xuất phát từ những vấn đề  có tính nguyên tắc trong giáo dục ­ đào tạo   hiện nay, từ thực trạng công tác quản lý nguồn nhân lực ở nhà trường Công  an những năm qua, đặt ra yêu cầu mới trong xây dựng và quản lý các nguồn  lực giáo dục, nhằm đảm bảo cho quá trình xây dựng và quản lý tốt từng  nguồn lực ngày càng đạt hiệu quả tối ưu hơn, đạt mục đích trong giáo dục ­  đào tạo đã đề ra, góp phần xây dựng nguồn lực giáo dục và quản lý có hiệu   quả các nguồn lực giáo dục ở nhà trường Công an trong tình hình mới.
  14. 14 Yêu cầu chung hiện nay là phải chuẩn hóa các nguồn lực, chuẩn hóa  các khâu, các bước trong quản lý các nguồn lực giáo dục trong từng trường.   Từ đó những yêu cầu cụ thể được xác định là: ­ Xây dựng và quản lý các nguồn lực giáo dục  ở  nhà trường Công an   phải trên cơ  sở  quán triệt, thực hiện tuân thủ  phương hướng, quan điểm,  chủ  trương, phương hướng lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, của Đảng  ủy  Công an Trung  ương, Bộ  Công an, đảm bảo đúng Luật Giáo dục, Điều lệ  công tác nhà trường Công an nhân dân Việt Nam, kế  hoạch chiến lược của   từng nhà trường đã xác định; tiếp tục củng cố  và hoàn thiện hệ  thống nhà   trường Công an, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. ­ Công tác xây dựng và quản lý các nguồn lực giáo dục  ở  nhà trường   Công an trong tình hình hiện nay cần phải được “kế  hoạch hóa trong xây  dựng ­ quản lý” theo hướng hiện đại, nhằm đáp ứng tốt nhất mục tiêu, yêu  cầu đào tạo đội ngũ cán bộ  các cấp cho lực lượng CAND trong tình hình  mới. ­ Tập trung xây dựng, tổ  chức đủ  biên chế  đội ngũ nhà giáo, đảm bảo  số lượng, chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáo dục ­ đào tạo. Cần có  giải pháp đột phá, hiệu quả trong chính sách, chế độ, chính sách đãi ngộ với   các nhà giáo. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng   đội ngũ cán bộ  quản lý giáo dục các cấp, nhất là cán bộ  chủ  trì nhà trường,   cơ  quan, khoa giáo viên, đơn vị. Nội dung cần tập trung vào đào tạo, bồi   dưỡng về  kiến thức, nghiệp vụ  quản lý giáo dục ­ đào tạo, quản lý từng   nguồn lực giáo dục trong nhà trường; có cơ  cấu tổ  chức, biên chế  phù hợp  hơn, hiệu quả hơn. Nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ nhân viên chuyên  môn và các bộ  phận khác trong nhà trường, tăng cường bồi dưỡng nghiệp  vụ chuyên môn cho các lực lượng nhân viên trực tiếp phục vụ trong giáo dục  ­ đào tạo. ­ Nâng cao chất lượng xây dựng và quản lý cơ sở  vật chất, trang bị kỹ  thuật phục vụ  giáo dục ­ đào tạo  ở  từng trường. Cần tăng cường mua sắm  trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật dạy ­ h ọc nhiều h ơn n ữa đảm   bảo cho các nhà trường, trong đó cần từng bước hiện đại hóa cơ  sởi vật  chất kỹ thuật phục vụ công tác giáo dục ­ đào tạo ở nhà trường Công an sát  với đơn vị và thực tiễn nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến 
  15. 15 đấu trong điều kiện chiến tranh hiện đại. Nâng cao trình độ  khai thác, sử  dụng và quản lý cơ  sở  vật chất kỹ  thuật về  mọi mặt cho đội ngũ cán bộ,  nhân viên chuyên môn trong các nhà trường như: Năng lực về  pháp luật,   năng lực về quản lý tổ chức, năng lực về quản lý kinh tế, năng lực về quản   lý thông tin và môi trường...Quản  lý có hiệu quả  hơn nữa các nguồn tài   chính ngân sách đảm bảo cho quá trình giáo dục ­ đào tạo ở từng nhà trường;  tích cực hơn nữa trong việc tự khai thác và phat huy các nguồn tài chính cho  giáo dục ­ đào tạo của từng trường. Có cơ  chế, quy chế  quản lý, giám sát   chặt chẽ  việc chi tiêu tài chính ngân sách  đối với những người  có thẩm  quyền quyết định trong quá trình đào tạo; cần kịp thời phát hiện và kiên  quyết xử lý các hiện tượng vi phạm pháp luật, nguyên tắc tài chính, tham ô,   lãng phí... ở nhà trường. 3. Phương hướng và một số  giải pháp nâng cao chất lượng trong xây   dựng và quản lý các nguồn lực trong nhà trường CAND a. Phương hướng chung Công tác quản lý các nguồn lực giáo dục ở nhà trường Công an cần tiếp   tục quán triệt và thực hiện tốt phương hướng nhiệm vụ phát triển giáo dục ­  đào tạo trong giai đoạn mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ  XII của  Đảng đề  ra. Tiếp tục đổi mới toàn diện công tác giáo dục ­ đào tạo và xây  dựng   nhà   trường   CAND   theo   hướng   “chuẩn   hoá,   hiện   đại   hoá”,   tạo   sự  chuyển biến cơ  bản và vững chắc về  giáo dục ­ đào tạo, nghiên cứu khoa   học; đào tạo đội ngũ giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đào tạo có   phẩm chất chính trị  vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, tuyệt đối  trung thành với Đảng, với Tổ  quốc và nhân dân; có mặt bằng kiến thức  chung của Nhà nước, có tay nghề  vững vàng, tinh nhuệ, đáp  ứng yêu cầu   nhiệm vụ của lực lượng CAND. Hoàn thiện quy hoạch hệ thống nhà trường   ổn định về  tổ chức biên chế; đáp ứng yêu cầu phát triển của sự  nghiệp xây  dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện   đại, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  b.      Một số  giải pháp nâng cao hiệu quả  công tác quản lý, các nguồn lực    trong các nhà trường Công an Một là, tập trung đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực   quản lý các nguồn lực giáo dục ở nhà trường Công an.
  16. 16 Đây là nhóm giải pháp rất quan trọng, nó có ảnh hưởng và chi phối đến  nhiều các giải pháp khác, trước hết cần nhận thấy rằng sau nhi ều năm thực  hiện nền giáo dục bao cấp, với trình độ  và tư  duy quản lý khá lạc hậu các  chủ  thể  quản lý giáo dục trong hệ  thống giáo dục quốc dân nói chung và   trong các trường Công an nói riêng còn nhiều bất cập, việc xây dựng và  quản lý các nguồn lực trong các nhà trường còn bị  xem nhẹ  hoặc quản lý  một cách máy móc, một chiều chưa pháp huy được vai trò của từng nguồn   lực, nhất là nguồn nhân lực trong các nhà trường CAND. Vì vậy các lực lượng trong hoạt động giáo dục  ở  các nhà trường Công  an, nhất là các chủ thể quản lý nhà nước về giáo dục trong CAND cần thay   đổi tư duy quản lý, nhanh chóng tiếp cận với tư duy quản lý hiện đại, trong  đó có tư duy trong xây dựng và quản lý các nguồn lực trong nhà trường. Trên  cơ  sở  các chủ  trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước để  xây  dựng các văn bản qui phạm pháp luật về  vấn đề  xây dựng và quản lý các  nguồn lực, xác định rõ các chức năng, nhiệm vụ  của từng thành phần, từng   cơ   quan,   các   nhân,   tổ   chức   trong   bộ   máy   giáo   dục   của   các   nhà   trường   CAND.  Tập trung phát huy tối đa sức mạnh của các nguồn lực, thực hiện tốt   công tác xây dựng và quản lý các nguồn lực giáo dục thông qua việc xác định  kế  hoạch, nội dung và phương pháp quản lý khoa học các nguồn lực giáo  dục.  Từng bước đổi mới phương thức xây dựng và quản lý các nguồn lực  trong các nhà trường theo hướng tiếp cận khoa h ọc qu ản lý giáo dục hiện   đại, vận dụng lý luận khoa học quản lý giáo dục truyền thống còn phù hợp   kết hợp với lý luận quản lý hiện đại tiên tiến vào thực tiễn trong quản lý và  xây dựng các nguồn lực trong các nhà trường. Tập trung xây dựng các hệ  thống văn bản, kế  hoạch trong công tác  quản lý các nguồn lực được thể hiện ở việc quán triệt mọi văn bản, chỉ thị,  hướng dẫn và thực hiện xây dựng kế hoạch và tổ  chức thực hiện kế hoạch   quản lý các nguồn lực giáo dục của nhà trường. Thực hiện xây dựng kế  hoạch quản lý cho từng loại nguồn lực giáo dục trong nhà trường theo phân  cấp chức trách của từng cơ quan, đơn vị, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ  theo phân cấp trong hệ thống giáo của các nhà trường CAND.
  17. 17 Hai là, xây dựng, quản lý và phát triển nguồn nhân lực giáo dục có chất  lượng cao, số lượng hợp lý   Xây   dựng,   quản   lý,   phát   triển   nguồn   nhân   lực   giáo   dục   là   đòi   hỏi  khách quan và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng   hiệu quả  hoạt động giáo dục. Bởi, nguồn nhân lực là nguồn lực nội tại, cơ  bản,   có   khả   năng   tái   sinh,   và   đổi   mới,   phát   triển   nếu   biết   chăm   lo,   bồi  dưỡng và khai thác hợp lý. Do đó, nguồn nhân lực là nguồn lực của mọi   nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên; vừa là chủ  thể, vừa là khách  thể, vừa là động lực, vừa là mục tiêu giữ  vị  trí trung tâm trong các nguồn   lực, giữ vai trò quyết định trong hoạt động giáo dục. Vì vậy cần có các biện   pháp cụ thể như: Kiện toàn tổ  chức, biên chế  các cơ  quan, khoa giáo viên, đơn vị  học  viên trong các nhà trường Công an. Các nhà trường cần được thường xuyên  củng cố, kiện toàn tổ  chức, biên chế, bảo đảm số  lượng, chất lượng, cơ  cấu tổ  chức hợp lý theo hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá” các nguồn lực.  Trong đó, tập trung kiện toàn tổ chức, đội ngũ giáo viên ở các khoa, đội ngũ  cán bộ  quản lý giáo dục  ở  các cơ  quan, đơn vị  đảm bảo đủ  sức hoàn thành  nhiệm vụ theo chức trách. Hoàn thiện công tác quản lý đội ngũ nhà giáo. Bổ  sung chế  độ, chính sách đối với nhà giáo nhằm  ưu đãi, khuyến khích và thu  hút người giỏi yên tâm làm công tác giảng dạy trong Ngành Công an. Đẩy  nhanh tiến  độ  chuẩn hoá trình độ  nhà giáo, có giải pháp sớm khắc phục   hẫng hụt của đội ngũ nhà giáo đầu ngành. Kiện toàn đội ngũ cán bộ quản lý  có kiến thức cơ bản và năng lực quản lý theo đối tượng đào tạo. Tiêu chuẩn   hoá chức danh đội ngũ giáo viên, cán bộ  quản lý giáo dục ­ đào tạo làm cơ  sở để xác định những vấn đề cần tập trung xây dựng, bồi dưỡng. Nắm vững tiêu chuẩn cán bộ, cụ  thể  hoá tiêu chuẩn cho phù hợp với  đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, cho từng chức danh cán bộ trong  cơ quan đơn vị là một vấn đề  có ý nghĩa quan trọng, không chỉ  là căn cứ  để  lựa chọn và xác định những nội dung cần xây dựng, bồi dưỡng; mà còn là cơ  sở để đánh giá phẩm chất năng lực của từng người, đồng thời là tiêu chí để  mỗi người rèn luyện phấn đấu vươn lên, đáp  ứng yêu cầu của từng chức   danh, đủ khả năng hoàn thành chức trách, nhiệm vụ. 
  18. 18 Vấn đề  quan trọng trong đổi mới, hoàn thiện chính sách cán bộ  hiện  nay là tăng cường đầu tư  cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ  sư  phạm  nói chung, cán bộ quản lý giáo dục nói riêng, tạo điều kiện cho họ nâng cao   trình độ học vấn và tri thức khoa học. Phải thực sự coi đây là đầu tư cơ bản,   đầu tư cho sự phát triển bền vững và là đầu tư có ý nghĩa nhiều mặt đối với  xây dựng lực lượng trong tương lai. T ừ kinh nghi ệm trong nh ững năm gần  đây cho thấy, việc đưa trình độ  học vấn trở  thành một tiêu chí trong điều  kiện, tiêu chuẩn chức danh, gắn với b ổ nhi ệm ch ức v ụ, đề bạt quân hàm đã   có tác dụng tích cực thúc đẩy một phong trào học tập của cán bộ. Tuy nhiên,  trong thời gian tới cần phải tạo điều kiện thuận lợi và sớm khuyến khích  hơn nữa đối với cán bộ  thường xuyên chủ  động tự  học, tự  rèn trong thực   tiễn công tác; cần phải có chính sách khuyến khích tạo ra sự  hăng hái tích  cực thường xuyên của cán bộ quản lý giáo dục trong suốt quá trình công tác.  Phải có thái độ nghiêm túc với những người ngại học, hoặc chạy theo bằng   cấp một cách hình thức, đồng thời cần phải có chính sách khuyến khích đối   với những người có thành tích học tập tốt. Có chính sách thích hợp để  tôn   vinh những người có đóng góp quan trọng cho sự nghiệp giáo dục ­ đào tạo.  Ba là, Tập trung nâng cao hiệu quả xây dựng và quản lý nguồn vật lực   ở nhà trường Công an hiện nay Trên cơ sở tình hình thực tiễn của các nhà trường CAND cần phải kịp   thời cụ  thể  hoá các quy định trong các văn bản luật và dưới luật của Nhà   nước, của Bộ Công an, Bộ Giáo dục ­ đào tạo và các bộ, ngành có liên quan   khác về quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục thành các quy định của nhà  trường trong lĩnh vực quản lý cơ  sở  vật chất kỹ  thuật giáo dục. Mặt khác,  cần phải tiến hành chỉ đạo các mặt hoạt động theo đúng các quy định. Tiến hành có hiệu quả bộ máy tổ chức và nhân lực quản lý nguồn vật  lực, trước hết cần phải thiết lập hệ thống quản lý cơ  sở  vật chất kỹ  thuật   giáo dục của nhà trường. Tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức  của bộ máy tổ chức và nhân lực nhà trường về lý luận và thực tiễn quản lý,   sử  dụng cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục.Về  mặt cụ  thể cần phải tổ  chức   giáo dục, học tập nâng cao nhận thức của các thành viên về  vai trò, ý nghĩa   của cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục, nhất là phương tiện kỹ thuật dạy học   đối với việc đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng, 
  19. 19 hiệu quả  đảo tạo  ở  nhà trường Công an hiện nay. Yêu cầu  các giảng viên  đưa việc sử  dụng phương tiện kỹ  thuật dạy h ọc vào kế  hoạch giảng dạy   của mình, phù hợp với từng hình thức tổ  chức dạy học trong từng học kỳ;   kế  hoạch này được tổ  bộ  môn thông qua. Đồng thời phát động thi đua sử  dụng phương tiện kỹ thuật dạy học tiên tiến gắn với đổi mới phương pháp   dạy học trong đội ngũ giảng viên.            Thường xuyên tổ  chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời  nâng cao trình độ  sử  dụng phương tiện kỹ  thuật trong dạy học. Trên cơ  sở  nghiên cứu các văn bản hướng dẫn, các tài liệu về  cơ  sở  vật chất kỹ thuật  giáo dục, tích cực tổ  chức các đợt tập huấn, hội thảo, báo cáo chuyên đề  hoặc các lớp bồi dưỡng  cán bộ  quản lý huấn luyện ­ giáo dục của nhà  trường. Cần chú trọng tổ  chức tập huấn cho cán bộ, giảng viên, các lực   lượng tham gia dạy học ­ giáo dục về tính năng, tác dụng, quy trình, cách sử  dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại. Trên cơ  sở  nắm vững hệ  thống các bản danh mục trang bị  cơ sở  vật  chất kỹ thuật giáo dục các cấp học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, các  quy định của Bộ Công an và các ngành có liên quan, thường xuyên phân tích   số  lượng, chất lượng cơ  sở  vật chất kỹ  thuật giáo dục của nhà trường.  Trong quá trình thống kê, phân tích phải phản ánh rõ tình hình quản lý, bảo   dưỡng, sửa chữa, bảo quản và sử  dụng cơ  sở  vật chất kỹ  thuật giáo dục,  chế độ, nề nếp, quy cách sử dụng hội trường, giảng đường, phòng học, thao   trường, bãi tập, vũ khí, khí tài kỹ  thuật, trang thiết bị  dạy học ­ giáo dục   v.v... Đồng thời nhạy bén trong việc thông tin về  các loại sách báo, tài liệu,  giáo trình, sách tham khảo thông qua việc tổ chức, trang b ị và điều hành hoạt  động của thư viện nhà trường một cách khoa học. Bốn là, thường xuyên xây  dựng và  quản lý tốt nguồn tài lực  ở  nhà   trường Công an hiện nay Huy động nguồn tài chính bằng nhiều con đường khác nhau, nguồn tài  chính do trên cấp, nguồn tài chính từ  các đơn vị, cá nhân trong nhà trường   đóng góp phần xây dựng và nguồn tài chính được huy động từ  những con  đường khác trên cơ sở thực hiện “xã hội hoá giáo dục”… Cùng với việc tăng  cường huy động nguồn tài chính, cần phải triệt  để  thực hành tiết kiệm,  
  20. 20 chống tham ô, lãng phí trong mua sắm, trang bị, sử dụng và bảo quản cơ  sở  vật chất kỹ thuật giáo dục. Vấn đề  đổi mới quản lý tài chính giáo dục ­ đào tạo trong các nhà  trường Công an hiện nay tuy đã có những dấu hiệu tiến bộ  từ  tư  duy đổi  mới đến những động thái tổ  chức, thực hiện tuy nhiên vẫn đang vấp phải  khó khăn nhất định do những biến động không ngừng của cơ  chế  tài chính  nói chung và tình hình kinh tế  xã hội của đất nước… Do vậy, những biện   pháp đổi mới quản lý tài chính cần xác định trên những hướng mở, cơ động,   linh hoạt trên cơ  sở  nguyên tắc chặt chẽ  và khoa học thì mới làm tốt được   khâu quản lý và phát huy tác dụng của nguồn tài lực giáo dục ­ đào tạo ở các   nhà trường Công an. Quản lý nguồn tài chính ngân sách ở các nhà trường phải đảm bảo đúng  nguyên tắc tài chính, đúng pháp luật, nhất là phải đặt dưới sự lãnh đạo chặt  chẽ  của cấp  ủy các cấp, công khai, chính xác, kịp thời. Các nhà trường cần  khắc phục triệt để những yếu kém khuyết điểm trong quản lý nguồn tài lực  những năm qua; đồng thời, các nhà trường cần xác định rõ các biện pháp   quản lý các nguồn tài chính thu khác và huy động được; chống tham ô, tham   những, lãng phí. Bộ  Công an và các cơ  quan Bộ, các nhà trường cần có cơ  chế  thanh, kiểm tra, giám sát chặt chẽ  hơn nữa nguồn tài chính ngân sách ở  nhà trường; xử lý kiên quyết những tập thể, cá nhân vi phạm nguyên tắc tài   chính,   tham   ô,   tham   những,   thiếu   trách   nhiệm,   vi   phạm   pháp   luật;   tránh  nương nhẹ tội, có biểu hiện tiêu cực trong xử lý vi phạm. Năm là, nâng cao hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát công   tác quản lý các nguồn lực giáo dục ở nhà trường Công an Công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý các nguồn lực giáo dục ở  nhà   trường Công an có vị  trí, vai trò đặc biệt quan trọng; qua thanh tra nh ằm   đánh giá kết quả  thực hiện nhiệm vụ  quản lý nguồn lực của các tổ  chức,  từng cá nhân theo chức trách; đồng thời hình thành ý thức tuân thủ pháp luật   và quy chế, nguyên tắc, quy định về quản lý các nguồn lực giáo dục của nhà  trường; nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ  quản lý nhà trường, kịp thời   phát hiện và thu thập thông tin và điều chỉnh những thiếu sót, nảy sinh. Tiếp tục hoàn thiện hệ  thống văn bản quy định về  công tác thanh tra,  kiểm tra đối với nhà trường Công an. Lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ  

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản