intTypePromotion=1
ADSENSE

Ứng dụng học thuyết “Đơn vị ở láng giềng” trong xây dựng và quản lý đô thị tương lai

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

6
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Ứng dụng học thuyết “Đơn vị ở láng giềng” trong xây dựng và quản lý đô thị tương lai giới thiệu về một mô hình xây dựng và cách thức quản lý mang tính chất là ý tưởng khởi đầu cho những khu vực đô thị trong tương lai.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ứng dụng học thuyết “Đơn vị ở láng giềng” trong xây dựng và quản lý đô thị tương lai

  1. ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT “ĐƠN VỊ Ở LÁNG GIỀNG” TRONG XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ TƢƠNG LAI ThS. Bùi Hoàng Việt Tóm tắt Nội dung bài viết xoay quanh việc phân tích mô hình cấu trúc ―Đơn vị ở láng giềng‖ (Neighbourhood unit) của tác giả Clarence Perry. Kể từ khi ra đời, việc xây dựng và áp dụng mô hình này đã đƣợc nhìn nhận đánh giá dƣới nhiều góc độ khía cạnh khác nhau qua những trƣờng hợp thực tế, những điều kiện và hoàn cảnh xã hội của rất nhiều quốc gia trên thế giới. Theo đó, trong suốt quá trình phát triển của đô thị, các khu dân cƣ là một bộ phận quan trọng với nhu cầu ở có tính biến động, vì vậy mô hình đơn vị ở tƣơng lai nhƣ thế nào, cách thức quản lý và vận hành nó ra sao luôn là những câu hỏi mang tính thời sự. Thông qua việc ứng dụng học thuyết này, bài viết sẽ giới thiệu về một mô hình xây dựng và cách thức quản lý mang tính chất là ý tƣởng khởi đầu cho những khu vực đô thị trong tƣơng lai. Từ kh a: đô thị, đơn vị ở, quản lý đô thị. 1. Đặt vấn đề Kể từ khi C.A.Perry đề xuất mô hình cấu trúc ―Đơn vị láng giềng‖ (Neighbourhood unit) trong tác phẩm của Regional Survey of New York năm 1929 cho đến nay, đơn vị ở đô thị đã có một thời gian dài phát triển. Thực tế xây dựng áp dụng mô hình ở này đã đƣợc nhìn nhận đánh giá dƣới nhiều góc độ khía cạnh khác nhau qua những bài học thực tế, những điều kiện hoàn cảnh xã hội của mỗi nƣớc. Trong suốt quá trình phát triển của đô thị, các khu dân cƣ là một bộ phận quan trọng với nhu cầu ở có tính biến động, vì vậy mô hình đơn vị ở tƣơng lai nhƣ thế nào sẽ luôn là câu hỏi mang tính thời sự. Khởi đầu của nguyên lý cấu trúc ―Đơn vị láng giềng‖ của Perry là vấn đề xã hội. Tác giả đề xuất mô hình với mục đích tạo một môi trƣờng cƣ trú có mối quan hệ xã hội tốt đẹp, xóa bỏ ngăn cách trong quan hệ xóm giềng do khác biệt màu da, tín ngƣỡng hay địa vị xã hội tạo ra. Đơn vị láng giềng theo cách hiểu này là một không gian sống mà trong đó tất cả dân cƣ đều có thể tham gia các hoạt động xã hội, sử dụng chung tiện nghi và dịch vụ công cộng trong mối quan hệ thân thiết của các hệ gia đình. Ngoài ra, nguyên lý thiết lập của đơn vị láng giềng hay đơn vị ở còn dựa vào độ lớn của khu dân cƣ cho phép hoạt động đi bộ tiếp cận các tiện nghi đô thị phục vụ cuộc sống hàng ngày, tiếp xúc thuận tiện với các cá nhân trong đơn vị ở. 2. Học thuyết “Đơn vị ở” Clarence Perry (1872 – 1944) là một nhà quy hoạch ngƣời Mỹ. Ông đƣợc coi là cha đẻ của ý tƣởng về đơn vị ở. Mô hình đơn vị ở của Clarence Perry lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1923. Theo đó, những nguyên tắc cơ bản khi thiết lập một đơn vị ở sẽ xoay quanh các vấn đề về dân số, diện tích, phƣơng thức tổ chức hoạt động sống, tính cố kết cộng đồng, bố cục tổ chức không gian, hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng. 527
  2. ình 1: Mô hình “đơn vị ở” – Nguồn: Clarence Perry Quy mô dân số Mô hình đơn vị ở láng giềng của Clarence Perry, ông đã tính toán dựa trên cơ sở lấy trƣờng tiểu học làm căn cứ để đề xuất quy mô dân số là 5000 ngƣời. Theo cách tính này, chúng ta có thể hiểu rằng học thuyết đƣợc tính dựa trên việc tập hợp của các gia đình hạt nhân trong xã hội. Đặc biệt, đây là những hộ có tuổi đời trẻ và con cái trong gia đình hầu nhƣ đang học cấp tiểu học. Đây sẽ là căn cứ để phát triển các quan điểm và ý tƣởng khác bởi lẽ học sinh cấp 1 là giai đoạn cần đƣợc luyện tập thói quen tự giác trong quá trình phát triển và hình thành nhân cách. Do đó, khi sống trong một khu vực mà cha mẹ có thể yên tâm khi con cái của học vừa đƣợc giáo dục tự giác nhƣng cũng không vƣợt quá khả năng kiểm soát của gia đình là một mô hình lý tƣởng đƣợc hƣớng tới. Quy mô diện tích Giới hạn về diện tích đất đai có ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng môi trƣờng sống đƣợc tạo ra trong đơn vị ở. Cơ sở để xác định quy mô đất đai cho một đơn vị ở là khoảng cách đi bộ tối đa – lấy bằng 5 phút đi bộ, tƣơng đƣơng với khoảng cách vật lý là 400 - 500m tới các công trình phúc lợi và dịch vụ công cộng, các đầu mối giao thông. Giới hạn về diện tích giúp ngƣời dân trong đơn vị ở có thể tiếp cận đến các công trình công cộng, các dịch vụ cần thiết một cách nhanh chóng, đơn giản và thuận tiện mà không nhất thiết phải sở hữu bất cứ một phƣơng tiện giao thông cá nhân nào. Hình dạng đơn vị ở cần đảm bảo rằng trẻ em không phải đi bộ quá ½ dặm (~800m) tới trƣờng và đáp ứng đƣợc nhu cầu kiểm soát của phu huynh. Đơn vị ở là một tổng thể hài hòa 528
  3. Trong đơn vị ở có các công trình phúc lợi xã hội, các công trình hành chính, dịch vụ công cộng, công trình thƣơng mại và không gian công cộng mang lại nhiều lợi ích. Giúp ngƣời dân tiếp cận nhiều dịch vụ và tiện ích đô thị dễ dàng vì các dịch vụ và tiện ích đó đƣợc bố trí xen lẫn với chức năng ở. Điều này sẽ giúp hỗ trợ việc giảm nhu cầu tham gia giao thông, dẫn đến giảm bớt tình trạng tắc đƣờng trong giờ cao điểm vì nơi ở và nơi làm việc đƣợc bố trí gần nhau. Bên cạnh đó, với quy mô về diện tích và dân số không quá lớn cũng sẽ khuyến khích các giao tiếp xã hội trong đơn vị ở thông qua việc tạo ra các khu vực đô thị có sức sống với nhiều loại hình công trình kiến trúc phong phú, khung cảnh phố phƣờng đông vui phục vụ cho đông đảo cộng đồng dân cƣ gồm nhiều thành phần xã hội. Mở ra nhiều lựa chọn về cách sống, nơi sống và loại hình nhà ở phù hợp với nhu cầu, sở thích và khả năng chi trả của từng cá nhân. Tăng hiệu quả sử dụng các tiện ích đô thị và hỗ trợ hoạt động kinh doanh của các hộ gia đình. Đặc biệt, không gia đó phải luôn tạo cảm giác an toàn cho ngƣời dân. Tính khép kín và cố kết tương đối Đây là một trong các tiêu chí quyết định chất lƣợng của một khu dân cƣ, tăng tần suất giao tiếp và củng cố các quan hệ láng giềng. Sự giới hạn và khép kín về mặt không gian tạo ra cảm giác về lãnh thổ, về sự sở hữu không gian và khu vực sống làm tăng lòng yêu mến của ngƣời dân với đơn vị ở của họ. Đơn vị ở có ranh giới và vùng rìa Ranh giới của đơn vị ở có thể khác nhau về tính chất nhƣ: ranh giới tự nhiên (sông, kênh), ranh giới nhân tạo (đƣờng giao thông). Đô thị có mật độ dân cƣ cao thì các đơn vị ở thƣờng đƣợc đặt sát nhau, ranh giới giữa đơn vị ở này với đơn vị ở khác là đƣờng phố lớn hay đƣờng tàu điện. Điều quan trọng là đảm bảo an toàn về mặt giao thông, vì vậy giao thông xuyên cắt đơn vị ở đƣợc hạn chế tối đa. Các tuyến giao thông chính đô thị không đƣợc đi qua đơn vị ở. Thay vào đó, các tuyến giao thông này đóng vai trò ranh giới cho đơn vị ở. Đơn vị ở có một trung tâm Trung tâm thƣờng là một khu đất công cộng đặt ở trung tâm địa lý của khu vực ở hoặc ở những vị trí đặc biệt nhƣ sát bờ biển, bờ sông. Hạt nhân của đơn vị ở là trƣờng tiểu học, nằm tại trung tâm một khu vực công cộng hay cây xanh. Bên cạnh đó là các cơ quan chính quyền, khu vực dịch vụ liên quan, trục giao thông chính xung quanh bố trí các công trình công cộng. Hệ thống giao thông Giao thông trong đơn vị ở có chức năng chính là phục vụ nội bộ những ngƣời dân sinh sống và làm việc trong riêng từng đơn vị ở và không cho phép đƣờng giao thông cấp khu vực trở lên xuyên qua. Các thành phần của đƣờng phố cần phải đƣợc thiết kế và xây dựng dựa trên việc sử dụng các ngõ cụt, các tuyến đƣờng cong và bề mặt cấp phối thấp nhằm tạo nên những tuyến giao thông lƣu lƣợng thấp, yên tĩnh và an toàn, đồng thời bảo vệ và duy trì không khí yên bình đặc trƣng của khu ở. Ngoài ra, sự kết nối thể hiện ở hai khía cạnh, một là liên kết giao thông và hạ tầng kỹ thuật, hai là khoảng cách tới các khu vực chức năng. Kết nối giao thông theo 529
  4. trình tự ƣu tiên: đi bộ, xe đạp, giao thông công cộng, cuối cùng là giao thông cơ giới cá nhân. 3. Khả năng ứng dụng học thuyết trong thực tiễn Bài học kinh nghiệm trên thế giới Trong khi lý luận của Clarence Perry về đơn vị ở chỉ đƣợc phổ biến ở một số nƣớc phƣơng Tây, đa phần ở Anh, Thụy Điển, Đan Mạch… mà không mang tính chất rộng khắp, thì việc ứng dụng những nguyên tắc về đơn vị ở lại đƣợc phổ cập rất nhiều ở Liên Xô và hầu hết các nƣớc xã hội chủ nghĩa (cũ) nhƣ Bulgary, Hungary, Rumani, Tiệp Khắc, Ba Lan và CHLB Đức. Từ trong thực tế đến đúc kết thành lý luận kinh nghiệm, tạo nên một hệ thống lý luận về đơn vị ở mới với tên gọi ―tiểu khu – micro rayon‖. Lý luận về tiểu khu đã tổng kết nên một số nguyên tắc quy hoạch chứng tỏ sự ƣu việt của cách tổ chức đơn vị ở. Quan niệm tiểu khu đƣợc phân định biên giới bằng đƣờng giao thông có cạnh biên là đƣờng đô thị hoặc những giới tuyến tự nhiên nhƣ sông ngòi giới hạn, mà không cho phép các tuyến đƣờng từ cấp thành phố trở lên cắt ngang qua đơn vị tiểu khu. Tiểu khu có cơ cấu hệ thống kiến trúc công cộng phục vụ, có quy mô lấy quy mô nhỏ nhất của trƣờng tiểu học làm căn cứ và làm giới hạn dƣới, lấy bán kính phục vụ lớn nhất của cơ cấu kiến trúc dịch vụ làm giới hạn trên. Liên Xô và một số nƣớc xã hội chủ nghĩa cũ còn góp thêm vào hoạt động xây dựng theo lý luận tiểu khu bằng cách cải tiến cách xây dựng kiểu phƣờng (Kvartal). Năm 1958, Nhà nƣớc Liên Xô phê chuẩn tiêu chuẩn ―Quy phạm quy hoạch và xây dựng đô thị‖, trong quy phạm quy hoạch, tiểu khu là đơn vị cơ bản của thành phố và đƣa ra những quy định cụ thể và chi tiết về quy mô tiểu khu, mật độ dân số, nội dung và các hạng mục các công trình dịch vụ công cộng. Bằng những cơ sở pháp lý này, tiểu khu bắt đầu trở thành một tế bào cơ bản của đô thị. 530
  5. Hình: Mô hình phường (Kvartal) – Nguồn: Sưu tầm Đô thị hiện đại đòi hỏi những bƣớc phát triển mới đối với giao thông, khoảng cách giữa những tuyến đƣờng lớn tăng lên, quy hoạch sử dụng đất căng thẳng dẫn đến số tầng của nhà ở tăng lên, việc phân khu theo kiểu công năng bộc lộ nhiều nhƣợc điểm, ngoài ra còn để đáp ứng việc nâng cao tính lựa chọn cho việc mua bán sử dụng hàng hóa, đáp ứng hơn nữa tính linh hoạt cho bố cục thành phố. Ngoài ra đô thị hiện đại đã xuất hiện hình thức tổ chức các ―khu nhà ở‖ hoặc ―khu nhà ở tổng hợp‖, là một tập hợp các tiểu khu, ngoài việc tồn tại các trung tâm của tiểu khu, còn có trung tâm khu nhà ở, thƣờng đặt ở vị trí trung tâm, cân đối giữa các tiểu khu, nhằm hoàn thiện hơn việc đáp ứng các nhu cầu thƣờng nhật của ngƣời dân. Ngoài việc ứng dụng những nguyên tắc của Perry vào hoạt động xây dựng nhà ở của mình, khái niệm phƣờng (Kvartal) của Liên Xô còn xuất xứ từ những hoạt động xây dựng các khu phố trong thành phố cũ, phƣờng đƣợc tạo thành bởi 4 con đƣờng lớn, các khối nhà ở bố trí men theo đƣờng và tạo ra những không gian mở lớn phía bên trong. Bên trong khu vực sân vƣờn này bố trí nhà trẻ, mẫu giáo hoặc chỗ chơi trẻ em. Kiểu phƣờng này khác các khu phố cũ ở chỗ không gian cây xanh lớn, tạo điều kiện sống rộng rãi. Diện tích mỗi phƣờng rộng độ từ 2-3 ha, nhƣng trong bố cục thƣờng nhấn mạnh trục quy hoạch nên có một số nhà hƣớng gió, chiếu nắng chƣa đƣợc tốt, kiểu bố trí này có hạn chế là chƣa thật quan tâm đến địa hình, chƣa tận dụng đƣợc môi cảnh tự nhiên. Nguyên tắc cơ bản của quy hoạch tiểu khu đƣợc bao quát bằng những nét chính sau đây: 531
  6. - Tiểu khu (micro rayon) là một khu đất ở đƣợc bao quanh bởi các đƣờng thành phố, đƣờng phát triển không đƣợc đi vào tiểu khu. - Tiểu khu nhà ở đƣợc phục vụ bởi một loạt các công trình kiến trúc công cộng, phúc lợi, văn hóa, sinh hoạt, bao gồm trƣờng học, nhà trẻ, mẫu giáo và các cửa hàng. - Hình thành các nhóm nhà ở hoàn chỉnh, tạo thành các không gian sinh hoạt tiện lợi. Tiểu khu nhà ở đầu tiên thể hiện cô đọng nhất các nguyên tắc xây dựng theo tiểu khu là tiểu khu nhà ở thực nghiệm số 9 Novaia Trezemuska ở Moskva (1956-1957), có diện tích 12ha, dân số 3000 ngƣời, mật độ 250 ngƣời/ha, trong tiểu khu có bố trí đầy đủ trƣờng học, nhà trẻ, cửa hàng, rạp chiếu bóng và sân bãi hoạt động ngoài trời, diện tích cây xanh chiếm 49%. Tuy có những điểm cần khắc phục do xây dựng công nghiệp hóa nên cấu trúc kiến trúc có cứng nhắc, nhƣng vào thời điểm đƣơng thời, cách xây dựng tiểu khu nhà ở đã đáp ứng đƣợc các khu cần ở ở Liên Xô cũ một cách đại trà. Các nƣớc xã hội chủ nghĩa khác ở Đông Âu cũng gặt hái đƣợc những kinh nghiệm nhất định trong xây dựng tiểu khu, ngoài tính chất chung là xây dựng nhà ở theo một đƣờng lối kế hoạch hóa, các nƣớc còn căn cứ vào điều kiện đặc thù riêng của mình mà sáng tạo nên những khu nhà ở đáp ứng nhu cầu riêng của mình. 4. Mô hình đô thị theo “đơn vị ở” trong tƣơng lai Trƣớc tình trạng đô thị ngày càng bị quá tải, việc kế thừa và ứng dụng học thuyết “Đơn vị ở” có thể là một giải pháp cần đƣợc xem xét. Theo đó, một mô hình đơn vị ở của B.C. Bamber đƣa ra vào năm 2007 có thể sẽ trở thành mô hình của các khu ở trong tƣơng lai cho con ngƣời. Dựa trên các cơ sở lý luận đã phân tích, có thể thấy rằng đây là một mô hình với sự kế thừa có chọn lọc từ các quan điểm về quy hoạch phát triển đô thị của các nhà lý luận không tƣởng, các kiến trúc sƣ trƣớc đây nhƣ: C.Perry, Le Corbusier, Paul Maymont,... và các mô hình thành phố trong tƣơng lai mà Trƣơng Quang Thao đã đề cập đến trong quyển ―Đô Thị Học Nhập môn”. Dựa trên nền tảng đó, mô hình cụ thể nhƣ sau: 532
  7. ình 3: Mô hình đơn vị ở tương lai – Nguồn: B.C. Bamber Về cấu trúc khu ở Mô hình này sẽ đƣợc thiết kế trên một khu đất hình tròn với diện tích 78.5ha, bán kính đƣờng tròn sẽ là 500m, gồm có 3 tầng sắp xếp theo hình bậc thang đồng tâm với 3 tầng chính. Trong đó, tầng cao nhất sẽ dành cho các cơ quan hành chính nhà nƣớc, tầng 2 là khu vực dân cƣ và tầng 3 là khu vực cảnh quan, khu vui chơi giải trí và khu dự trữ nông nghiệp. Ngoài ra, ở trung tâm lõi của mô hình sẽ đƣợc đặt một hồ chứa nƣớc ngầm để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của ngƣời dân. Khu vực nhà ở Ngƣời dân sẽ sinh sống tập trung tại khu vực tầng 2 với các căn hộ đƣợc xây dựng đáp ứng nhu cầu sống của các gia đình hạt nhân từ 3 – 4 thành viên. 533
  8. Hình 4: Phối cảnh bên trong mô hình - Nguồn: B.C. Bamber Khu vực cơ quan hành chính Các cơ quan quản lý sẽ đƣợc bố trí trụ sở ở tầng cao nhất trong mô hình này với chức năng chính là duy trì sự ổn định của xã hội thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cho cộng đồng. Khu vực công trình tiện ích Tầng 3 (Tầng đáy) sẽ là nơi tập trung các công trình tiện ích nhƣ trƣờng học, bệnh viện, trung tâm vui chơi giải trí, khu thƣơng mại, công viên. Đây sẽ là nơi diễn ra các hoạt động chính trong ngày của cộng đồng. Việc bố trí khu vực này ở tầng thấp nhất là do nhu cầu diện tích lớn nhất dành cho các tiện ích ở nơi đây. Nguồn năng lượng và nước Mô hình này chủ yếu sử dụng nguồn năng lƣợng sạch nhƣ năng lƣợng mặt trời đƣợc lấy từ hệ thống mái vòm, năng lƣợng gió từ các hệ thống đƣợc bố trí xung quanh rìa của các tầng. Ngoài ra, nguồn nƣớc dự trữ sẽ đƣợc chứa ở khu vực lõi trong mô hình này. Hình 5: Phối cảnh của mô hình – Nguồn: B.C. Bamber Hệ thống vận hành và quản lý Toàn bộ mô hình sẽ đƣợc vận hành dựa trên nguyên tắc tự động, an toàn và thân thiện với ngƣời sử dụng. Các cơ quan quản lý, an ninh và duy trì pháp luật sẽ vận 534
  9. hành dựa trên việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và kiểm soát tự động. Hệ thống ra vào các khu nội bộ và các lối kết nối giao thông đối ngoại đều đƣợc kiểm soát bằng hệ thống camera và quét mã vạch để quản lý ngƣời dân và các hoạt động của họ. Phƣơng tiện giao thông chủ yếu đƣợc sử dụng là các tuyến xe lửa chạy vòng quanh các tầng, hệ thống thang máy hay đơn giản chỉ là đi bộ. Các phƣơng tiện cá nhân sẽ đƣợc giữ ở tầng trệt để ngƣời dân sử dụng với các mục đích di chuyển đến những nơi bên ngoài khu vực quản lý của mô hình. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng mô hình này đã ứng dụng triết lý quản lý dựa trên sự tự giác, phục vụ theo những cộng đồng nhỏ theo quan điểm tối ƣu hóa lợi ích và khả năng tự vận hành của xã hội. 5. Kết luận Cuộc cách mạng công nghiệp giữa thế kỷ XVIII đã mở ra một thời kỳ mới của lịch sử phát triển đô thị. Trong quá trình cách mạng công nghiệp, do nhu cầu hiệp tác và cạnh tranh, các xí nghiệp và nhà máy đƣợc phát triển một cách tƣơng đối tập trung. Đặc biệt, việc phát minh máy hơi nƣớc đã làm thay đổi cục bộ công nghiệp: các nhà máy tập trung ở khu vực sản xuất than và các nguyên liệu khác, do đó, nhanh chóng xuất hiện một loạt thành phố, đô thị kiểu mới. Vì vậy, có thể nói, đô thị hóa hiện đại là kết quả của công nghiệp hóa. Do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh, các nƣớc khác cũng lần lƣợt hoàn thành cách mạng công nghiệp, tốc độ đô thị hóa tại các nƣớc này tăng lên nhanh, các thành phố mới không ngừng xuất hiện. Thế nhƣng với những khó khăn do việc xuất hiện ấy con ngƣời đã tự mình chữa trị những căn bệnh ―phát sinh‖ của đô thị bằng những giải pháp, những lý luận và qua thực tiễn rất nhiều lý luận đã đạt đƣợc nhiều thành công. Thiết kế đô thị hiện đại thế giới ngày nay đƣợc đặc trƣng bằng việc chia đô thị thành các vùng quy hoạch, các khu nhà ở, các đơn vị ở và các tiểu khu nhà ở. Đây là một đóng góp quan trọng vào nền văn hóa xây dựng đô thị hiện đại, khai thông một hƣớng phát triển đô thị hợp lý mới, luận thuyết của Perry thực sự đã gây một chấn động trong dƣ luận các giới chuyên môn và công chúng. Nói tóm lại, lý luận ―đơn vị ở láng giềng‖ của Clarence Perry đã kế thừa đƣợc những ƣu điểm mà các lý luận khác từ trƣớc đó và nó đã trở thành một trong những yếu tố căn bản tạo nền tảng cho xu hƣớng xây dựng và phát triển quy hoạch đô thị sau này. Các nhà khoa học, các cơ quan quản lý có thể sử dụng học thuyết này nhƣ một kim chỉ nam trong quá trình hình thành và phát triển của các khu vực đô thị trong các thời kì tiếp theo một cách hiệu quả thông qua việc chọn lọc thông tin và phát huy những giá trị cốt lõi của mô hình này, từ cách tổ chức, vận hành, xây dựng cho đến mô hình quản lý xã hội và con ngƣời. 535
  10. Tài liệu tham khảo 1. C.A. Perry (1929), The Neighborhood Unit, a Scheme of Arrangement for the Family-Life Community, New York: Committee on Regional Plan of New York. 2. Larry Lloyd Lawhon (2009), The Neighborhood Unit: Physical Design or Physical Determinism?, Journal of Planning History, America. 3. T. Banerjee and W.C. Baer (1984), Beyond the Neighborhood Unit, New York: Plenum. 4. P. Hall (1988), Cities of Tomorrow, Cambridge. 536
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2