
Bài 5: Mô hình độc quyền bán
TX KHMI02_Bai 5_v1.0014107222 57
BÀI 5 MÔ HÌNH ĐỘC QUYỀN BÁN
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
thảo luận trên diễn đàn.
Đọc tài liệu:
1. PGS.TS. Phạm Văn Minh (2011), Giáo trính Kinh tế học vi mô 2, NXB Lao động
xã hội.
2. PGS.TS. Vũ Kim Dũng – PGS.TS. Phạm Văn Minh (2011), Hướng dẫn thực
hành Kinh tế học vi mô 2, NXB Lao động xã hội.
3. PGS.TS. Vũ Kim Dũng – PGS.TS. Nguyễn Văn Công (2012), Giáo trình kinh tế
học tập 1, NXB Đại học Kinh tế quốc dân.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
Nội dung
Trong phần I, chúng ta đã nghiên cứu bản chất của nhà độc quyền bán tối đa hóa lợi
nhuận như thế nào. Nhược điểm của độc quyền gây ra cho xã hội và sức mạnh của độc
quyền ra sao. Trong phần này chúng ta sẽ nghiên cứu các chính sách phân biệt giá của độc
quyền nhằm chiếm đoạt thặng dư của người tiêu dùng để tăng lợi nhuận
Mục tiêu
Nắm được các chính sách phân biệt giá của nhà độc quyền.
Tính toán các dạng bài tập về phân biệt giá.

Bài 5: Mô hình độc quyền bán
58 TX KHMI02_Bai 5_v1.0014107222
Tình huống dẫn nhập
Do nhu cầu đi lại của người dân Việt Nam cũng như du khách nước ngoài vào Việt Nam đang
tăng mạnh nên các đại lý bán vé máy bay xuất hiện ở khắp nơi. Ngoài việc các hãng hàng không
chủ động tăng số lượng đại lý chính thức của mình nhằm phục vụ thị trường, một số công ty
không có hợp đồng đại lý với các hãng hàng không cũng vẫn tự nhận là đại lý và treo biển có
logo của các hãng hàng không.
Tình trạng này không những ảnh hưởng đến hình ảnh và chất lượng dịch vụ của các hãng hàng
không trên thị trường mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của khách hàng khi mua vé tại các công ty
giả danh đại lý bán vé máy bay được chính thức chỉ định. Cụ thể gần đây có nổi lên một số vụ
việc điển hình như: Đại lý giả danh VNA (gọi tắt là đại lý Non – VNA) nhận đặt chỗ và xuất vé
cho khách nhưng khi khách lên sân bay thì không có chỗ, phải bỏ tiền mua vé mới, và nhiều
trường hợp khách phải trả tiền vé với mức giá cao hơn mức giá của VNA.
Tại sao VNA lại có nhiều trường hợp khách hàng khiếu nại chính sách giá vé
của VNA?

Bài 5: Mô hình độc quyền bán
TX KHMI02_Bai 5_v1.0014107222 59
5.1. Phân biệt giá hoàn hảo (cấp 1)
Nhà độc quyền biết rõ mức giá cao nhất mỗi khách hàng sẵn sàng trả cho mỗi đơn vị
hàng hóa và đặt cho mỗi khách hàng một mức giá khác nhau tương ứng với mức giá
tối đa mà khách hàng đó chấp nhận trả. Việc mở rộng sản xuất đến sản lượng QA (mức
sản lượng tối ưu cho xã hội) sẽ thu được thêm lợi nhuận vì đường doanh thu cận biên
sau khi phân biệt giá sẽ trùng với doanh thu bình quân (MR = AR = D). Như vậy,
nguyên tắc xác định sản lượng trong trường hợp độc quyền thực hiện phân biệt giá cấp
I hay còn được gọi là phân biệt giá hoàn hảo sẽ là: P (= MR) = MC
Hãng sẽ đặt nhiều mức giá khác nhau cho mỗi đơn vị sản phẩm trong mức sản lượng
QA cho các khách hàng của mình tương ứng với đường cầu D. Như vậy tổng doanh
thu đạt được sẽ là diện tích BAQAO, nhà độc quyền chiếm toàn bộ thặng dư tiêu dùng.
Khi đó lợi nhuận biến đổi của hãng (PS) sẽ là phần nằm dưới đường cầu và đường chi
phí cận biên (MC). Hình 5.1 minh họa điều này.
Hình 5.1. Phân biệt giá cấp 1
Hình thức phân biệt giá cấp 1 được áp dụng trong trường hợp sản phẩm không thể
chuyển giao giữa các khách hàng. Việc tiêu dùng sản phẩm gắn liền với từng khách
hàng riêng rẽ để chênh lệch về giá không bị san bằng. Thông thường dịch vụ là dễ
dàng thực hiện hình thức này hơn như y tế, tư vấn luật pháp…
5.2. Phân biệt giá cấp 2
Trong một số thị trường, mỗi người tiêu dùng không mua duy nhất một đơn vị mà
mua nhiều đơn vị hàng hóa trong một khoảng thời gian nhất định và cầu của người
tiêu dùng giảm dần theo số lượng đã mua. Ví dụ nước, điện sinh hoạt. Khi tiêu dùng
tăng lên thì sự sẵn sàng chi trả của họ giảm xuống nên trong trường hợp này hãng
phân biệt đối xử theo số lượng tiêu dùng. Cơ chế hoạt động là đặt các mức giá khác
nhau cho các số lượng của cùng một hàng hóa hoặc dịch vụ.
Khi tồn tại tính kinh tế của quy mô, việc mở rộng quy mô sản lượng vừa làm tăng
phúc lợi nhưng đồng thời cũng làm tăng lợi nhuận cho hãng. Vì giá giảm xuống sẽ
làm lợi ích của người tiêu dùng tăng lên, trong khi đó chi phí thấp hơn sẽ làm cho
hãng thu được lợi nhuận.
Nếu không phân biệt giá, nhà độc quyền sẽ bán mức sản lượng Q0 với mức giá là P0.
Khi thực hiện phân biệt giá cấp 2, tổng số lượng sản phẩm bán ra sẽ là Q3. Vì những
đơn vị sản phẩm lớn hơn Q3 sẽ làm hãng bị lỗ. Tổng số lượng sản phẩm này được
MC
MR=D
Q
QA
P
A
B
O
PA

Bài 5: Mô hình độc quyền bán
60 TX KHMI02_Bai 5_v1.0014107222
phân chia thành nhiều khối nhỏ (ở đây ví dụ là 3 khối). Q1 đơn vị sẽ được bán với giá
P1, từ Q1 đến Q2 sẽ được bán với giá P2 và khối còn lại sẽ được bán với giá P3.
Hình 5.2. Phân biệt giá cấp 2
5.3. Phân biệt giá cấp 3
Trong trường hợp nhà độc quyền có thể phân chia các khành hàng của mình thành
nhiều nhóm nhỏ với hành vi và phản ứng khác nhau, đồng thời các nhóm khách hàng
này khi tiêu dùng sản phẩm hoàn toàn tách biệt nhau để không có sự trao đổi sản
phẩm qua lại giữa các nhóm thì nhà độc quyền có thể thực hiện hình thức phân biệt
giá cấp 3. Trong từng trường hợp việc phân chia khách hàng được căn cứ trên các tiêu
thức khác nhau như thu nhập, độ tuổi, thị hiếu, thói quen tiêu dùng…
Hình 5.3. Phân biệt giá cấp 3
Hình thức này được áp dụng khá phổ biến cho nhiều loại sản phẩm khác nhau ví dụ
như vé máy bay, đồ uống, quần áo… Vấn đề đặt ra là sau khi đã phân chia các nhóm
khách hàng thì giá bán áp dụng cho mỗi nhóm được xác định như thế nào? Hình 5.3
minh họa điều này.
Nếu nhà độc quyền không thực hiện phân biệt giữa 2 nhóm khách hàng thì sẽ bán mức
giá P0 trên cả 2 thị trường trên với mức sản lượng tương ứng là Q0 theo nguyên tắc tối
đa hoá lợi nhuận.
P2
P1
MR1
MR2
D1 D
2
P P
P
D1 + D2
MR1
+ MR2
Q Q Q
P0
Q0
Q1 Q2
O O O
D
MC
A
TC
P1
P2
P3
Q1
Q2 Q3 Q
Q0
P0
MR
P
O

Bài 5: Mô hình độc quyền bán
TX KHMI02_Bai 5_v1.0014107222 61
Khi thực hiện phân biệt giá thì giá và sản lượng tối ưu đảm bảo cho hãng thu được lợi
nhuận tối đa là mức giá và sản lượng sao cho doanh thu cận biên từ mỗi nhóm đều
bằng chi phí cận biên và chi phí cận biên phụ thuộc vào tổng sản lượng sản xuất ra của
nhà độc quyền. Như vậy nguyên tắc phân chia sản lượng trên cho mỗi thị trường sẽ là:
MR1 = MR2 = MC (tại mức Q0) với Q0 = Q1 + Q2
Khi đó sản lượng bán trên thị trường 1 là Q1 với mức giá tương ứng P1 và sản lượng trên
thị trường 2 là Q2 với giá là P2.
5.4. Phân biệt giá theo thời kỳ và đặt giá điểm cao
Phân biệt giá theo thời kỳ
Đây là một chiến lược quan trọng được sử dụng rộng rãi và có liên quan chặt chẽ
với phân biệt giá cấp 3. Ở đây người tiêu dùng được chia ra thành các nhóm khác
nhau với các hàm cầu khác nhau và nhà độc quyền sẽ áp dụng các mức giá khác
nhau theo thời gian.
Một số ví dụ cho hình thức này như: trong việc phát hành sách, lúc đầu đặt giá cao
và chiếm được thặng dư của người tiêu dùng có cầu cao và không sẵn sàng chờ
mua. Sau đó sẽ giảm giá xuống để thu hút những khách hàng có cầu co giãn theo
giá hơn; một bộ phim trình chiếu lần đầu sẽ được đặt giá cao sau một thời gian
nhất định giảm giá xuống để thu hút các khách hàng khác.
Với đường cầu của nhóm khách hàng tiêu dùng ở thời kỳ đầu khi đưa ra sản phẩm
là D1 mức giá sản phẩm sẽ là P1. Sau đó giá giảm xuống P2 đối với nhóm khách
hàng ở thời kỳ sau (ứng với đường cầu D2).
Hình 5.4. Phân biệt giá theo thời kỳ
Đặt giá cao điểm
Một dạng khác của phân biệt giá theo thời kỳ là đặt giá cao điểm. Cầu về một số
hàng hóa dịch vụ tăng nhanh trong những khoảng thời gian nhất định trong ngày
hoặc trong năm. Đồng thời chi phí cận biên trong khoảng thời gian cao điểm cũng
cao hơn do có sự ràng buộc về công suất hoạt động. Ví dụ như điện, đường xá, cầu
phà… Đặt giá cao ở thời kỳ cao điểm có lợi hơn cho hãng so với việc chỉ đặt một
giá trong suốt thời kỳ. Với cầu tại thời kỳ cao điểm là D1 nhà độc quyền đặt mức
giá P1 và tại đây nhà độc quyền cũng phải chịu mức chi phí cận biên cao hơn do
D2
MR2
MC
D1
MR1
Q2
P2
P1
Q1
P
Q
O

