21/02/2024
1
I GIẢNG
VẬT LÝ NGUYÊN TỬ VÀ HẠT NHÂN
21/02/2024
2
Chương 1. Các mẫu nguyên tử theo thuyết cổ điển
1. Mẫu nguyên tử Thomson
2. Mẫu nguyên tử Rutherford
3. Mẫu nguyên tử Bohr
3
Chương 1. Các mẫu nguyên tử theo thuyết điển
1. Mẫu nguyên tử Thomson
4
Ý niệm về mẫu nguyên tử được V. Thomson đề xuất lần đầu tiên vào năm 1902.
Sau đó ít lâu, vào năm 1904 J. Thomson đã y dựng thuyết về mẫu nguyên tử dựa
trên ý ởng của V. Thomson.
Nguyên tử dạng hình cầu nhiễm điện dương
đều khắp với bán nh cỡ 10-8 cm.
Các electron kích thước nhỏ hơn kích thước
nguyên tử rất nhiều, được phân b theo các
quy luật xác định trong khối cầu tích điện
dương ấy. Ngoài ra, electron có thể chuyển
động trong phạm vi kích thước của nguyên tử.
Về phương diện điện thì tổng trị số điện tích âm
của các electron bằng ngược dấu với khối
cầu nhiễm điện dương. Do vậy nguyên tử là
một hệ thống trung hòa về điện tích.
Quan niệm J. Thomson về nguyên
tử
21/02/2024
3
Chương 1. Các mẫu nguyên tử theo thuyết điển
1. Mẫu nguyên tử Thomson (1904)
5
Dựa vào mẫu nguyên tử, Thomson tính toán đối với nguyên tử Hi-đ bức xạ năng
lượng điện từ bước sóng trong ng trị số c 𝜆 = 0,6𝜇𝑚 thì kích thước của
nguyên tử bằng 𝑅 = 3 × 10𝑐𝑚.
Kết quả này phù hợp với kết quả cho được từ các thuyết khác, điều đó chứng tỏ
sự đúng đắn của mẫu nguyên tử Thomson.
Ngày nay mẫu nguyên tử Thomson được xem như một biểu tượng về nguyên tử
mang ý nghĩa lịch s nhiều hơn là ý nghĩa vật nó quá đơn giản không đủ khả
năng giải thích những tính chất phức tạp của quang phổ bức x của nguyên tử Hi-đrô
các nguyên tử phức tạp khác.
Chương 1. Các mẫu nguyên tử theo thuyết điển
2. Mẫu nguyên tử Rutherford (1911)
6
a) Thí nghiệm tán xạ hạt anpha lên vàng
Khi nghiên cứu các hiện tượng xuyên thấu
qua các lớp vật liệu của các hạt mang điện
tích chuyển động với năng lượng lớn đã làm
thay đổi quan niệm về cấu trúc của nguyên
tử.
Năm 1903 Lenard nhận thấy c chùm hạt
năng lượng cao dễ dàng xuyên qua các
kim loại dát mỏng. Điều đó chứng tỏ phần
nhiễm điện dương trong khối cầu nguyên tử
không thể phân bố đều trong toàn bộ nguyên
tử chỉ định x một vùng kích thước
nhỏ hơn rất nhiều so với R = 10-8 cm.
Những nhận xét của Lenard được Rutherford
khẳng định bằng những thí nghiệm về hiện
tượng tán x hạt lên kim loại vàng dát
mỏng trong những năm (1908 1910).
21/02/2024
4
Chương 1. Các mẫu nguyên tử theo thuyết điển
2. Mẫu nguyên tử Rutherford
7
a) Thí nghiệm tán xạ hạt anpha lên vàng
Kết quả thí nghệm cho thấy dấu vết các hạt
để lại trên kính ảnh không phải là một đốm
đen một vùng lấm tấm nh tròn.
Hiện tượng này phản ánh sự tán xạ của
chùm hạt khi xuyên qua vàng mỏng.
Rutherford khảo sát hiện tượng tán xạ của
chùm hạt khi xuyên qua vàng mỏng đã
nhận thấy các hạt bị tán xạ dưới nhiều góc
độ khác nhau t = 0ocho tới = 180o
Đối với những hạt bị tán xạ ới góc độ lớn
= 180okhông thể giải thích được nếu dựa
vào mẫu nguyên tử Thomson.
Chương 1. Các mẫu nguyên tử theo thuyết điển
2. Mẫu nguyên tử Rutherford
8
b) Mẫu nguyên tử Rutherford
Trong nguyên tử một trung tâm tích
điện dương và hầu n tập trung toàn bộ
khối lượng của nguyên tử bán kính nhỏ
hơn bán kính nguyên tử gấp nhiều lần gọi
hạt nhân nguyên tử.
Kích thước của nguyên tử xác định bởi
khoảng cách từ tâm hạt nhân cho đến
các electron phân bố xung quanh hạt
nhân. Như vậy mẫu nguyên tử Rutherford
hoàn toàn khác so với mẫu nguyên tử
Thomson.
Mẫu nguyên tử theo quan niệm của Rutherford
21/02/2024
5
Chương 1. Các mẫu nguyên tử theo thuyết điển
2. Mẫu nguyên tử Rutherford
9
b) Mẫu nguyên tử Rutherford
Những hạn chế của mẫu nguyên tử Rutherford
Theo quan điểm điện động lực học thì một hệ gồm hạt nhân tích điện dương
electron chuyển động xung quanh không thể tồn tại bền vững khi electron chuyển
động quanh hạt nhân tương đương như một dòng điện tròn khép n mômen
lưỡng cực điện mômen từ bức xạ sóng điện từ nên năng lượng liên kết E sẽ bị
giảm dần, kéo theo làm cho bán kính quỹ đạo của electron giảm dần. Cuối cùng thì
electron sẽ rơi vào hạt nhân nguyên tử. Như vậy nguyên tử không tồn tại bền vững;
điều này hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế. Nguyên tử hệ tồn tại bền vững nhưng
theo mẫu nguyên tử Rutherford thì không bền vững. Như vậy ý tưởng xây dựng mẫu
nguyên tử theo kiểu học thiên thể không thành công.
Mẫu nguyên tử Rutherford cũng không giải thích được quang phổ của Hi-đ quang
phổ vạch.
Các vấn đề còn tồn tại của mẫu Rutherford
sẽ được giải quyết trong mẫu Bohr
Chương 1. Các mẫu nguyên tử theo thuyết điển
3. Mẫu nguyên tử Bohr (1913)
10
a) Tính quy luật quang phổ của nguyên tử Hi-đrô
Vào những m cuối của thế kỷ XIX, khi nghiên cứu quang phổ người ta nhận thấy
các bước sóng trong phổ nguyên tử hợp thành những dãy vạch xác định gián đoạn
gọi dãy phổ.
Năm 1885 Banme (Balmer) mt nhà toán học Thụy đã thiết lập được biểu thức
tả các vạch trong dãy quang phổ bức xạ của nguyên tử Hi-đrô trong vùng ánh
sáng nhìn thấy.
Dãy quang phổ này dãy Banme. Trong dãy Banme vạch bước sóng dài nhất
nhất 𝜆 = 6564 𝐴được hiệu H, vạch tiếp theo ký hiệu H, với bước sóng
𝜆 = 4863 𝐴. Theo chiều giảm của bước sóng các vạch phổ càng bố trí sát vào nhau
cường độ sáng yếu dần cho đến một vạch giới hạn từ đó không còn phân biệt
được các vạch riêng lẻ nữa chỉ thấy một dãy mờ liên tục.