
Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Báo cáo quốc gia lần thứ 5 và 6
về tình hình thực hiện Công ước Liên hiệp quốc
Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
(CEDAW)
Hà nội - 2006

Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung
Lời mở đầu
Trên cơ sở quy định tại Điều 18 của Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử
với phụ nữ (Công ước CEDAW) và các văn bản hướng dẫn của Uỷ ban CEDAW, Việt Nam đã
hoàn thành các Báo cáo định kỳ (từ lần đầu đến lần thứ 4) và đã được Uỷ ban thông qua.
Được sự đồng ý của Uỷ ban CEDAW, Việt Nam chuẩn bị bản Báo cáo ghép lần thứ 5 và
thứ 6 về tình hình thực hiện Công ước tại Việt Nam giai đoạn 2000-2003. Đặc điểm của giai
đoạn này là Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ đổi mới nền kinh tế, phải đương đầu với những
thách thức to lớn do tác động của thiên tai, lũ lụt, hạn hán ở khắp các vùng trên cả nước, của
các vấn đề về xã hội và môi trường cũng như của quá trình hội nhập kinh tế và cạnh tranh gay
gắt trên thị trường quốc tế. Kinh tế khu vực vẫn chưa được phục hồi mạnh sau khủng hoảng tài
chính tiền tệ, cộng thêm tác động của sự kiện ngày 11/9/2001 ở Mỹ và đặc biệt là đầu năm
2003, dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp (SARS) và chiến tranh Irắc đã ảnh hưởng lớn đến sự
phát triển của Việt Nam trong ba năm qua, làm hạn chế nhịp độ tăng trưởng kinh tế của đất
nước.
• Tiếp theo Báo cáo ghép lần thứ 3 và 4, Báo cáo này sẽ tiếp tục cập nhật tình hình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, con người Việt Nam, những đổi mới về hệ thống chính trị,
hệ thống pháp luật, chính sách, tình hình thực hiện pháp luật, chính sách, những tồn tại và
phương hướng khắc phục theo từng điều khoản cụ thể của Công ước trong 4 năm qua tại Việt
Nam. Báo cáo cũng thể hiện những thành tựu mà Nhà n ước và nhân dân Việt Nam đã nỗ lực
phấn đấu trong thực hiện Cương lĩnh Bắc Kinh, thực hiện những cam kết của Hội nghị Bắc
Kinh +5 trên cơ sở tiếp thu nghiêm túc các Khuyến nghị của Uỷ ban CEDAW khi Việt Nam
trình bày báo cáo năm 2001.
Báo cáo gồm các phần chính như sau:
- Lời mở đầu.
- Phần I: Những vấn đề chung.
- Phần II: Tình hình thực hiện Công ước.
- Kết luận.
- Các phụ lục.
• Để hoàn thành bản Báo cáo này, Việt Nam đã thành lập Ban soạn thảo gồm 22 thành
viên là đại diện của các Bộ, ngành và một số tổ chức có liên quan do Thứ trưởng Bộ Ngoại
giao, kiêm Phó Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam làm Trưởng ban.
• Trong quá trình làm việc, Ban soạn thảo đã thu thập thông tin, phân tích các số liệu
thống kê và tổ chức lấy ý kiến các cơ quan của Chính phủ, các tổ chức chính trị -xã hội, đại
diện của các tầng lớp phụ nữ, các học giả, những người làm công tác xã hội để bổ sung, hoàn
thiện nội dung của Báo cáo.
Với những quan điểm đã nêu trong các Báo cáo trước đây, lần này Nhà nước Việt Nam
vẫn chủ trương tiếp tục bảo lưu Khoản 1, Điều 29 của Công ước. Việc bỏ điều khoản bảo lưu

Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung
này vào thời điểm thích hợp đang được tiếp tục xem xét. Nhà nước Việt Nam cũng đang tiến
hành nghiên cứu việc ký Nghị định thư lựa chọn của Công ước.

Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung
Phần I
Những vấn đề chung
Giới thiệu về đất nước và con người:
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nước nằm trong khu vực Đông Nam châu á, có
diện tích trên 331 ngàn km 2.
Việt Nam có 54 dân tộc khác nhau, trong đó dân tộc Kinh (Việt) là chủ yếu (chiếm
86,8% dân số). Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức.
Hà Nội là thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Dân số Việt Nam tăng từ 76,597 triệu người năm 1999 lên 80,902 triệu người năm 2003,
trong đó phụ nữ chiếm 50,8%. Năm 2003, mật độ dân số ở mức 245 người/km2 và dân số thành
thị chiếm 25,7%. Năm 2002, tỷ lệ dân số d ưới 15 tuổi giảm còn 30% và trên 65 tuổi t ăng lên
6,3%. Trong giai đoạn 2000-2002, tỷ lệ phát triển dân số giảm chậm (năm 2000 đạt 1,36%, năm
2001 đạt 1,35%, năm 2002 đạt 1,32%). Năm 2003, tỷ lệ phát triển dân số đã tăng lên mức
1,47%. Năm 2003, tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi là 21%o và dưới 5 tuổi là 42%o, tỷ lệ
chết mẹ là 0,85%o.
Năm 2003, tỷ lệ hộ gia đình do nữ làm chủ hộ tăng và chiếm gần 27%.
Năm 2002, lực lượng lao động trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động là
44,73 triệu người (chiếm trên 56,1% dân số) và lao động nữ chiếm 50,6%. Số lao động đang
hoạt động trong các ngành kinh tế quốc dân tăng từ 36,7 triệu năm 2000 lên trên 38,7 triệu năm
2002, 41,2 năm 2003 và 50,9 năm 2004, trong đó nữ chiếm trên 50%.
Năm 2002, tuổi thọ trung bình là 71, trong đó nữ là 73.
Năm 2003, GDP bình quân đầu người là trên 485 USD.
Năm 2003, tỷ lệ lạm phát là 3,0%.
Năm 2003, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 5,78%, trong đó nữ chiếm 7,22%
• Bốn năm qua, Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản
Việt Nam đề xướng từ 1986. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 đã
được công bố với mục tiêu tổng quát là “Đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng
cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020
Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người,
năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được
tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản,
vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế được nâng cao. Đưa GDP tăng ít nhất gấp đôi so với
năm 2000, cải thiện đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI), xóa đói, giảm nhanh hộ nghèo,
tăng tuổi thọ và phổ cập giáo dục trung học cơ sở, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng
xuống khoảng 20%, tăng tuổi thọ trung bình lên 71 tuổi. Chất lượng đời sống vật chất, văn hóa,
tinh thần được nâng lên rõ rệt trong môi trường an toàn, lành mạnh; môi trường tự nhiên được
bảo vệ và cải thiện". Chiến lược đã chú trọng việc xây dựng và nâng cao n ăng lực của con

Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung
người cũng như phát huy hiệu quả nguồn nhân lực vào công cuộc phát triển đất nước vì mục
tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Thực hiện Chiến lược cũng
chính là tạo điều kiện thuận lợi để Chính phủ Việt Nam thực hiện có hiệu quả những cam kết
của mình đối với Công ước CEDAW.
• Mặc dù gặp nhiều khó khăn như đã đề cập ở Lời mở đầu, trong thời gian qua, Việt Nam
đã đề ra các biện pháp phù hợp để ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội. Chính phủ
cũng như các ngành, các cấp có sự đổi mới trong công tác chỉ đạo, điều hành. Luật pháp và
chính sách tiếp tục được đồng bộ hoá, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước.
Trong giai đoạn 2000-2003, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được mức khá cao so với
những năm trước đây (6,8% năm 2000, 6,9% năm 2001, 7,08% năm 2002 và 7,26% năm 2003).
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các ngành đều có bước
phát triển. Năm 2003, tỷ trọng nông- lâm- thuỷ sản trong GDP là 21,83% (năm 2000 là 24,5%),
tỷ trọng công nghiệp và Xây dựng trong GDP là 39,5% (năm 2000 là 36,7%); tỷ trọng các
ngành dịch vụ trong GDP là 38,22% (năm 2002 là 38,74%). Giá trị sản xuất công nghiệp n ăm
2003 là 302,990 tỷ đồng, tăng 16% so với n ăm 2002; kim ngạch xuất khẩu n ăm 2003 là 20,176
tỷ đồng; sản lượng lương thực có hạt năm 2003 đạt 37,4 triệu tấn, tăng 01 triệu tấn (3%) so với
năm 2002 và đạt mức cao nhất từ trước tới nay.
Cùng với những kết quả về kinh tế, Việt Nam cũng đã đạt được nhiều thành tựu đáng
khích lệ về phát triển xã hội, nổi bật là chỉ số phát triển con người cao hơn chỉ số phát triển kinh
tế. Theo Báo cáo về phát triển con người năm 2003 của Chương trình phát triển Liên hợp quốc,
trong số 175 nước, Việt Nam có chỉ số phát triển con người (HDI) là 0,688 (xếp thứ 109), trong
khi thu nhập bình quân đầu người xếp thứ 128. Chỉ số phát triển giới (GDI) của Việt Nam là
0,687 (xếp thứ 89/144 nước), thuộc nhóm có thành tựu tốt nhất khu vực Đông Nam á-Thái Bình
Dương. Việt Nam hầu như không có chênh lệch giữa chỉ số phát triển con người và chỉ số phát
triển giới. Bên cạnh đó, Việt Nam liên tục dẫn đầu các nước đang phát triển về thành tích xoá
đói, giảm nghèo và đạt được những kết quả đáng khích lệ tr ong các lĩnh vực giải quyết việc
làm, giáo dục và đào tạo, dân số và kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Bình
quân mỗi năm, Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm đã giúp 30 vạn
hộ dân thoát khỏi đói nghèo và đưa tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2003 xuống còn 11,8% tổng số hộ
dân cả nước. Trong 4 năm qua, số lao động được giải quyết việc làm khoảng 4,3 triệu người,
trong đó.một nửa là phụ nữ. Năm 2002, tỷ lệ dân số biết chữ đạt 94%, trong đó phụ nữ đạt 92%.
Năm 2003, có 19 tỉnh thành đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở. Từ năm 2001-2003,
công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nhất là ch ăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em ngày càng
được cải thiện. Tổng tỷ xuất sinh tiếp tục giảm từ 2,3 con năm 1999 xuống còn 2,13 con n ăm
2003. Năm 2002, trên 90% số xã, phường trong cả nước xây dựng trạm y tế, có quỹ thuốc thiết
yếu phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh. Hàng năm, đầu tư của Nhà nước cho các lĩnh vực xã hội
ngày càng tăng, chiếm trên 25% tổng chi ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo và chênh lệch về mức sống giữa các cộng đồng dân cư
đang là một trong những trở ngại đối với việc thực hiện Công ước CEDAW. Những thách thức
chính hiện nay là: Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, tập trung ở nông thôn và những vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phụ nữ nông dân ở vùng
sâu, vùng xa, nhất là nữ chủ hộ độc thân, phụ nữ cao tuổi là những nhóm người dễ bị tổn
thương nhất. Phụ nữ nghèo phải lao động nhiều thời gian hơn, thu nhập ít h ơn, ít có quyền
quyết định trong gia đình và cộng đồng, do đó họ cũng có ít cơ hội tiếp cận các nguồn lực và lợi
ích do chính sách công mang lại.

