
59
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 57, 2010
ĐẶC TÍNH HÓA HỌC CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN HỮU CƠ
VÀ PHỤ PHẨM CÂY TRỒNG SỬ DỤNG TRONG NÔNG NGHIỆP
TRÊN VÙNG ĐẤT CÁT BIỂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Hoàng Thị Thái Hòa, Đỗ Đình Thục
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
TÓM TẮT
95 mẫu hữu cơ được thu thập từ 7 thôn thuộc 7 xã tại vùng đất cát ven biển tỉnh Thừa
Thiên Huế để đánh giá các biện pháp sử dụng vật liệu hữu cơ hiện tại và đánh giá tiềm năng
của chúng trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra nông dân
trong vùng sử dụng nhiều loại vật liệu hữu cơ với các mục đích khác nhau, trong đó, rơm rạ và
thân lá lạc được sử dụng phổ biến nhất. Nông dân cũng sử dụng phân chuồng bón cho cây
trồng nhưng với lượng nhỏ (< 400 kg/500m
2
cho tất cả các cây trồng). Có sự dao động lớn về
hàm lượng của các nguyên tố dinh dưỡng chính trong các vật liệu hữu cơ (C, N, P, K, Ca, Mg)
(CV > 50%). Hàm lượng dinh dưỡng trong các vật liệu hữu cơ có sự khác nhau có ý nghĩa.
Hàm lượng C hữu cơ dao động từ 3,93 đến 38,8 % và hàm lượng N dao động từ 0,25 đến 1,61%.
Hàm lượng lân cao hơn 1,6% trong tất cả các loại vật liệu hữu cơ. Hàm lương K dao động tùy
loại vật liệu hữu cơ (>0,3%). Thân lá lạc và rong biển có đặc tính tốt so với các phụ phẩm khác
(Hàm lượng N > 1,5%). Chất lượng phân chuồng phụ thuộc vào loại gia súc và chất lượng chất
độn chuồng.
1. Đặt vấn đề
Sử dụng vật liệu hữu cơ trong nông nghiệp có truyền thống từ lâu đời ở Việt
Nam. Nhưng hiện nay do các ưu điểm nổi trội trong sử dụng phân hóa học cùng với
những khó khăn trong sử dụng nguồn phân bón hữu cơ, nên lượng phân hữu cơ bón cho
cây trồng ngày càng giảm xuống. Ở nhiều địa phương miền Trung, nông dân vẫn có tập
quán sử dụng phụ phẩm cây trồng hoặc rong, rêu làm phân bón, đặc biệt ở Thừa Thiên
Huế, nơi có diện tích đầm phá khá lớn là 22.000 ha, chiếm gần 1/3 so với tổng diện tích
canh tác, đây là nơi cung cấp một lượng lớn các vật liệu hữu cơ như rong, rêu cho người
dân ở các vùng ven đầm phá này. Theo nhận định của nhiều tác giả như Nguyễn Văn Bộ
và Đỗ Ánh (2002), phân hữu cơ cũng như các vật liệu hữu cơ khác sử dụng làm phân
bón đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, cũng như có
tác dụng cải tạo đất rất tốt. Tuy nhiên chất lượng của nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
loại gia súc nuôi, chất lượng chất độn chuồng, loại vật liệu hữu cơ bón. Vì vậy, muốn
nâng cao hiệu quả sử dụng phân hữu cơ chúng ta cần biết được các đặc tính hóa học của

60
chúng, để từ đó có thể sử dụng nguồn phân hữu cơ đó một cách hợp lý, có hiệu quả,
nhằm đáp ứng được xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay. Đề tài được
thực hiện với các mục đích sau:
_ Khảo sát sơ bộ tình hình sử dụng phân hữu cơ và phế phụ phẩm cây trồng tại
các xã nghiên cứu thuộc vùng đất cát ven biển.
_ Xác định đặc tính hóa học của một số loại phân hữu cơ và phế phụ phẩm cây
trồng ở vùng đất cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế.
_ Đề xuất biện pháp chế biến và sử dụng hiệu quả phân hữu cơ kết hợp với phân
hóa học vừa bảo vệ môi trường sinh thái, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Chọn điểm nghiên cứu
7 xã đại diện cho vùng đất cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế được chọn làm địa
điểm để thu thập các mẫu phân hữu cơ và phụ phẩm cây trồng, phục vụ cho việc xác
định một số tính chất hóa học gồm có Phong Hòa (Phong Điền), Quảng Thái, Quảng
Lợi (Quảng Điền), Vinh Phú, Phú Lương, Vinh Xuân (Phú Vang) và Vinh Hưng (Phú
Lộc).
2.2. Phương pháp thu thập số liệu
Tiến hành thu thập các thông tin cần thiết về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh
tế xã hội, tình hình sản xuất và sử dụng phân hữu cơ cũng như vật liệu hữu cơ sử dụng
làm phân bón từ các xã như ở trên thông qua các tài liệu thứ cấp như các báo cáo tổng
kết hàng năm, số liệu thống kê và phỏng vấn 146 hộ gia đình theo phiếu điều tra.
2.3. Phương pháp lấy mẫu và phân tích
* Tiêu chuẩn lấy mẫu:
_ Đại diện cho các loại phân hữu cơ phổ biển tại các điểm nghiên cứu
_ Đại diện cho phương pháp bảo quản
_ Đại diện cho các loại gia súc nuôi tại địa phương
_ Dựa vào thu nhập của nông hộ
* Mẫu cây trồng thu thập về được sấy khô trong điều kiện nhiệt độ 70
o
C và bảo
quản trong điều kiện khô.
* Mẫu phân bón thu thập về được bảo quản ở nhiệt độ 4
o
C.
* Tổng số 95 mẫu hữu cơ được thu thập tại 7 xã.
Số lượng mẫu và địa điểm lấy mẫu được trình bày ở bảng 1.

61
Bảng 1. Số lượng mẫu và địa điểm lấy mẫu
Xã Số
mẫu
Phân bố mẫu theo
Phân
trâu
Phân
bò
Phân
lợn
Phân
gà
Phân
vịt
Tro
bếp*
Mẫu
cây
Quảng Lợi 17 8 1 3 0 0 0 5
Quảng Thái 11 2 0 6 0 0 1 2
Phong Hòa 12 2 2 6 1 0 0 1
Vinh Xuân 17 1 3 4 0 2 1 6
Vinh Phú 17 0 1 3 2 2 2 6
Phú Lương 8 1 1 4 1 0 0 1
Vinh Hưng 13 0 0 7 2 1 2 1
Tổng 95 14 8 33 6 5 6 23
* Tro bếp cũng được sử dụng phổ biến như phân bón cùng với các loại phân hữu
cơ khác.
* Tiến hành phân tích các tính chất hóa học của 95 mẫu hữu cơ theo thủ tục phân
tích trong phòng thí nghiệm bao gồm: N tổng số (phương pháp Kjeldahl), lân tổng số
(P
tot
, phương pháp so màu), K tổng số (phương pháp quang kế ngọn lửa), Ca, Mg
(phương pháp tro hóa), C (tro hóa nhiệt độ 550°C). Tất cả các phân tích được tiến hành
tại phòng thí nghiệm Bộ môn Khoa học Đất và Môi trường, trường Đại học Nông Lâm
Huế, và kiểm tra chéo số mẫu được tiến hành tại Viện Thổ nhưỡng Nông hóa và Phòng
thí nghiệm Khoa học đất của Trường Đại học Louvain, Bỉ.
* Số liệu được xử lý thống kê trên phần mềm STATISTIC_SXW.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Tình hình sử dụng vật liệu hữu cơ làm phân bón tại vùng đất cát ven biển
tỉnh Thừa Thiên Huế
Phụ phẩm cây trồng là nguồn hữu cơ sẵn có trong nông hộ gồm có rơm rạ, thân
lá lạc, thân lá khoai lang, lá sắn và nguồn hữu cơ ngoại sinh như rong rêu từ đầm phá,
thực vật thuỷ sinh sống ở các ao hồ như bèo lục bình và bèo cám.
Kết quả bảng 2 cho thấy, hầu hết nông dân tại 7 xã nghiên cứu đều có sử dụng
nguồn vật liệu hữu cơ sẵn có trong nông hộ vào các mục đích khác nhau như chất đốt,
thức ăn gia súc, che phủ cây trồng hoặc độn chuồng gia súc. Tuy nhiên, qua điều tra
chúng tôi thấy rằng loại vật liệu hữu cơ được sử dụng và mục đích sử dụng cũng có sự
khác nhau ở từng địa phương. Hầu hết các địa phương đều có sử dụng phế phụ phẩm

62
cây trồng từ sản xuất nông nghiệp như rơm rạ, rễ và thân lá các loại cây trồng. Tuy
nhiên, một số nông hộ sống gần khu vực đầm phá Tam Giang, ngoài các nguồn hữu cơ
từ trồng trọt họ còn sử dụng nguồn hữu cơ lấy từ đầm phá như rong, rêu.
Bảng 2. Tình hình sử dụng các vật liệu hữu cơ trong nông hộ vùng cát ven biển
tỉnh Thừa Thiên Huế (Có: x; Không: i)
Nguồn
hữu cơ
Xã
Rơm rạ
Rễ,
thân, lá
lạc
Thân, lá
khoai
lang
Lá sắn Bèo lục
bình
Rong
rêu đầm
phá
Phong Hòa x x _ x _ _
Quảng Thái x x x _ x x
Quảng Lợi x x x _ x x
Vinh Phú x x x x _ x
Vinh Xuân x x x x _ x
Phú Lương x x x x x _
Vinh Hưng x x x _ x _
Nguồn: Số liệu điều tra, 2005.
Bảng 3. Sử dụng phụ phẩm cây trồng của các nông hộ tại 7 xã khảo sát
Xã
Cách sử dụng
Phong
Hoà
(n=20)
Quảng
Thái
(n=20)
Quảng
Lợi
(n=20)
Vinh
Phú
(n=20)
Vinh
Xuân
(n=20)
Phú
Lương
(n=20)
Vinh
Hưng
(n=5)
Rơm
rạ
Đốt tại
ruộng 5 10 15 0 10 0 5
Che tủ
đất 20 90 15 57 5 10 20
Chăn
nuôi 90 15 65 5 65 5 40
Độn
chuồng 75 100 95 95 100 90 100
Trồng
nấm 0 0 5 0 0 100 0

63
Phế
phụ
phẩm
cây
trồng
khác
Che tủ
đất 5 70 0 14 21 0 27
Chăn
nuôi 84 15 56 62 87 5 0
Độn
chuồng 21 95 83 45 100 15 0
Nguồn: Số liệu điều tra, 2005.
Kết quả bảng 3 cho thấy, số gia đình có sử dụng thân lá cây trồng để độn chuồng
gia súc dao động từ 0 _ 100%, dùng làm thức ăn cho trâu bò cao nhất ở Vinh Xuân 87%
và che phủ cây trồng 70% (Quảng Thái). Rơm rạ sử dụng trong độn chuồng gia súc
chiếm tới 100% (Quảng Thái, Vinh Xuân và Vinh Hưng), che phủ cây trồng 90%
(Quảng Thái). Nhiều hộ dùng rơm rạ để sản xuất nấm rơm chiếm 100% (Phú Lương),
đốt tại ruộng 15% (Quảng Lợi).
3.2. Tình hình sử dụng phân chuồng cho cây trồng tại các xã ở vùng đất cát
ven biển
Người dân thường sử dụng phân chuồng trong trồng trọt. Theo thói quen, người
dân sử dụng phân chuồng bón cho cây trồng chủ yếu là các loại cây lấy củ, rau màu, cây
họ đậu.
Bảng 4. Tình hình sử dụng phân chuồng cho cây trồng của các hộ ở các xã điều tra (%)
Cây trồng
Xã Lúa, ngô Khoai, sắn Các loại rau Lạc và các
loại đậu
Phong Hòa 66,7 53,7 44,4 89,5
Quảng Thái 80,0 87,0 58,8 90,0
Quảng Lợi 90,0 68,8 37,5 84,7
Vinh Phú 64,0 70,0 37,3 40,0
Vinh Xuân 87,5 100,0 100,0 93,3
Phú Lương 55,7 18,2 44,4 0
Vinh Hưng 100,0 100,0 0 100,0
Nguồn: Số liệu điều tra, 2005.
Kết quả bảng 4 cho thấy, số hộ sử dụng phân chuồng cho lúa, ngô ở xã Vinh
Xuân, Vinh Hưng, Quảng Lợi chiếm tỷ lệ cao nhất > 87 %. Xã Vinh Xuân và Vinh
Hưng có số hộ sử dụng phân chuồng cho tất cả các loại cây trồng cao nhất, trong lúc đó

