C CP BẬC KHÁC NHAU CỦA HIỆN TƯỢNG
CHUYỂN LOI TRONG TIẾNG VIỆT
DIFFERENT LEVELS OF CONVERSION IN VIETNAMESE
TRƯƠNG THỊ DIỄM
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
TÓM TT
Hiện tượng chuyển di từ loại là một hiện tượng phổ biến trong các ngôn ngữ và đặc biệt là
trong các ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Chuyển loại là một hiện tượng tích cực
trong ngôn ngữ, là mt biểu hiện của quá trình tự điều chỉnh hệ thống ngôn ngữ, là một trong
các phương thức cấu tạo từ. Hiện tượng chuyển loại là một quá trình cần được xem xét trên
quan điểm đồng đại động. Việc phân biệt chuyển loại với đồng âm và với đa nghĩa; việc chỉ ra
các mức độ khác nhau của quá trình chuyn loại; phân biệt chuyển loại đã ổn định với kiêm
nhim từ loại và với chuyển loại m thời là một việc làm cần thiết trong quá trình nghiên cứu
tloại tiếng Việt. Chúng tôi mong muốn góp một i nhìn hthống, toàn diện vhiện tượng
chuyển loại trong tiếng Việt qua bài viết này.
ABSTRACT
Conversion is popular in languages, especially in isolated languages. Conversion is a positive
phenomenon in languages, which manifests the systematical autoregulations in languages. It
is also one of the word-formation means. Conversion is the process that needs to be
examined in a synchronic-activity view. Distinguishing conversion from homonymous and
multivalued phenomenon, distinguishing stable conversion from temporary conversion and
pointing out different levels in this process are very important in studying the Vietnamese parts
of speech. This paper aims at presenting an overall view of conversion in the Vietnamese
language.
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngđơn lập, kng biến đổi hình thái. S lượng vỏ
âm thanh người Việt sử dụng làm vngữ âm cho hình vtối đa chỉ 4 vạn tiếng khác
nhau [3, tr.46]. thế, để khắc phục mâu thuẫn giữa cái hữu hạn của số lượng cái biểu hiện
(vỏ ngữ âm của từ) và cái vô hạn của cái được biểu hiện (hin thực khách quan cần phản ánh),
sxuất hiện tmới bằng phương thức dùng chất liệu sẵn để tạo nên các tphức như t
ghép, tláy hay việc xuất hiện tđa nghĩa, t đồng âm trong ngôn ngữ ngày càng nhiều là
mt tất yếu. Chính sphát trin của xã hội, nhận thức của con người và nhu cầu giao tiếp xã
hội là động lc thúc đẩy nn ngữ phải biến đổi.
S mặt của hiện tượng chuyn di từ loi trong ngôn ngữ ng là ltrên. Đứng
trên quan đim đồng đại - động, chúng ta nhận thấy rằng tĩnh chlà tm thời, tương đối. Vì
thế, đường ranh gii của sự phân loại không phải bao ging dứt khoát, tuyệt đối, điều
kiện, bởi vì mọi ranh giới trong tự nhiên trong hội đều di động qui ước đến một
mức nào đó” (nin). Bản chất của tín hiệu nn ngữ là vận động.
Xét mt cách sâu xa, hiện tượng chuyển di tloại là biểu hiện giữa mi quan hệ gia
tư duy và ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, chuyển loại diễn ra là do sthay đổi cách thức phản
ánh của người Việt, chứ không phải là sự thay đổi đối tượng phản ánh. Đó là sự thay đổi cấu
trúc sở biểu của t. (1, tr.178)
Tloi là lớp t cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo ý nghĩa phạm trù,
theo khnăng kết hợp trong đoản ngữ (cụm từ), trong câu để thực hin chc năng ngữ pháp
giống nhau.
Các nhà Đông phương hc -viết đã khng định rằng việc chuyển di "các ttừ loại
này sang tloại khác không thay đổi vỏ âm thanh của chúng (tức là hiện tượng chuyển
loại) là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của các ngôn ngữ này (ngôn ngđơn
lập)” [dẫn theo Hà Quang Năng, 6, tr.144]. Loại của t không phải là bất di bất dịch. Giữa các
loi của t mt bộ phận chuyn hoá ln nhau. Chuyn loại ng là mt phương thức cấu
to từ.
Vic phân định tloi tiếng Việt được dựa vào tập hợp ba tiêu chí: ý nghĩa khái quát
của từ, khả năng kết hợp của từ và chức năng cú pháp chủ yếu của từ. Trong đó, các tiêu c 1
2 có tác dụng nhiều hơn trong việc tập hợp và qui loại từ. Hay i cách khác, các đặc trưng
ng nghĩa - ngpháp của tlà căn cứ quan trọng để xác đnh tư cách từ loại của một tcụ
thể.
Khi khảo t vtừ loại tiếng Việt, chúng ta thường gặp hin tượng: những tcó th
được dùng với những đặc trưng ngữ nghĩa-ngpháp của từ loại này hay của từ loại khác.
Ví dụ 1: a. Anh y vác cuốc1 ra cuốc2 đám đất trước nhà để trng khoai.
b. ng việc tiến hành rất thuận lợi1. Những thuận lợi2 ấy làm anh ta
rất phấn khởi.
Stồn tại trong tiếng Việt i riêng trong các ngôn ngđơn lập i chung một số
lượng đáng kể các từ mang đặc trưng của các t loại khác nhau đã được các nhà ngôn ngữ học
quan tâm, lí giải và tranh lun trất lâu. Cho đến nay, ý kiến của các nhà ngôn nghọc về
vấn đề này vẫn còn nhiều điểm chưa thng nhất. Tựu trung có bn khuynh hướng sau đây:
Khuynh hướng thứ nhất cho đây hin tượng “nhất từ đa loại”. Đi din cho khuynh
hướng này H.Mát-xpê-rô, M.Grammont, Quang Trinh, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Lân,
Trần Trọng Kim... Họ cho rằng trong các nn ngữ đơn lp như tiếng n, tiếng Việt, t
ththuộc vào bất kỳ tloại nào. Quan niệm này dẫn đến chỗ phủ nhận phạm trù tloại trong
các loại hình ngôn ngđơn lập, cho rằng tvô định loại”, một từ có thđồng thời thuộc các
tloại khác nhau. Quan niệm này không được các nhà nghiên cứu đồng tình hầu hết các
nhà nghiên cứu đều thừa nhận sự mặt của phạm trù tloại trong tiếng Việt, chứng minh
được khả năng phân định từ loại bằng những tiêu chuẩn khách quan. Đó ba tiêu chuẩn: 1) ý
nghĩa khái quát của các lớp từ, 2) khả năng kết hp của từ, 3) chức vụ cú pháp của từ.
Khuynh hướng thứ hai, nợc lại, quan niệm tloại của từ là mti gì c định tuyệt
đối, không thay đổi, “nhất thành bất biến”, cho nên các tcuốc”, “thuận lợi” như ở ví dụ trên
vẫn thuộc vmt từ loại. Biên đã phê phán rằng đây là một cách nhìn siêu hình, không
biện chứng về hoạt động của các lớp từ[1, tr.178].
Cả hai quan niệm trên đều không hợp lý vì không hp với quy luật nhận thức, quy luật
hoạt động nn ngữ. Chúng ta dễ dàng nhận thấy cuốc1cuốc2ví dụ 1a, thuận lợi1
thuận lợi2ở ví dụ 1b không có cùng bn chất từ loại.
Chính vì thế, khuynh hướng thứ ba cho đây là hiện tượng chuyển loại. Sách Ngữ pháp
tiếng Việt của Uban Khoa học xã hi cho rằng “chuyển loại” là những từ vốn thuộc từ
loại này rồi sau chuyển sang từ loại khác và được dùng theo nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của
tloại này hay tloại kia[8, tr.92]. Tuy vy, khuynh hướng này gặp rắc rối chỗ không
phải khi nào cũng nhận rõ được quá trình lịch sử của sự chuyn loại tmột tloại này sang
mt t loại khác; những trường hợp không thể xác định chắc chn là từ đó vn xuất phát t
t loại nào.
Ví dụ 2: Anhy mượn cưa1 để cưa2 gỗ.
Khó thxác đnh là tên gi đồ vật trước hay tên gi nh động sử dụng đồ vật
có trước.
Để tránh xác định hướng chuyển, khuynh hướng thứ gi đây là “hiện tượng kiêm
nhiệm tloại”. Nghĩa là trong những hoàn cảnh cụ thể, một tthuộc tloại này thm
thời làm nhiệm vụ của mt từ loại khác. Hay i cách kc, một từ có thể được dùng nhng
tư cách từ loại khác nhau.
Lý do để từ thể thực hiện được việc kiêm nhiệm tloại của mình trong những ngữ
cảnh khác nhau là do những đường y ngữ nghĩa giữa một nghĩa chính của từ đó với c
tư cách tloại khác mà kiêm nhiệm trong những ngữ cảnh cụ thể. Nhưng chúng tôi thiết
nghĩ không thể thay tên gi “hiện tượng kiêm nhiệm tloạicho tên gi “hiện tượng chuyn
di tloại- tức là không thể đặt dấu bằng giữa chúng.
Cần khng định lại rằng, hiện tượng chuyển loại là mt tt yếu khách quan trong loi
hình ngôn ngữ đơn lập nói chung và trong tiếng Việt nói riêng. Vấn đề là ở ch nên nhìn nhận
sản phm của hiện tượng này như thế nào?
Một số tác giả cho đây các tđồng âm. Thế nhưng ch lý giải này thật khó chấp
nhận. So với các tđồng âm như: lợi (có lợi) với lợi (răng, lợi) hay ch (sợi ch) với ch(ch
5.000 đồng) thì những tđược in đậm các dụ 1, 2 trên khác xa vbản chất. Những
từ đồng âm như lợi, ch hoàn toàn không có mi liên h nào vý nghĩa mà ch là sự trùng hợp
ngu nhiên vngữ âm. Trong khi những từ chuyn loại lại có mi liên hệ chặt chẽ với nhau về
ý nghĩa. Khi chủ trương đồng âm hoá, Nguyễn Tài Cẩn cũng nhận thy đây không phải là một
giải pháp toàn m nhưng ông vẫn cho rằng chủ trương này “chỉ gây khó khăn chủ yếu cho địa
vc tvựng hc, nhưng lại là mt bảng phân loại hết sức đơn giản” [2, tr.74-75]. Một số tác
gi do nhận thấy tính thiếu thuyết phục của cách gọi tên “đồng âm” nên đã gọi đây là đồng âm
ngpháp học. Đại diện cho khuynh hướng này Đinh n Đức, Lê Biên... Trong "Tloại
tiếng Việt hiện đại”, Biên viết: “Chuyển loại không phải là hiện tượng đồng âm tvựng
đồng âm - ngpháp (đồng âm cùng gc)... Đây những tgiống nhau về hình thc
ng âm (đồng âm), cùng gc (xét về nghĩa) mà hiện nay được sử dụng thành hai từ khác nhau
v bản chất từ loại” [1, tr.179].
HLê đã khẳng định: Sự chuyển loi là mt phương thức cấu tạo từ, có khnăng tạo
tmới trên sở tđã , bằng ch giữ nguyên vâm của tcũ, tạo ra một nghĩa mới
mi quan hlô-gích ni ti nhất định với nghĩa của từ cũ, và đưa ra nhng đặc trưng ngữ pháp
của t... và giữa nghĩa của từ ấy với nghĩa của t được chuyn loại chỉ mt sự liên h
duy nhất” [5, tr.164]. Vậy bản chất của hiện tượng chuyn loại khác hẳn hiện tượng đồng âm.
Giải quyết thật rốt o rằng sản phẩm của hiện tượng trên hai t đồng âm nhưng vì
mi quan hngữ nghĩa còn đủ rõ nên gi là đồng âm - ngpháp hay xem đây một từ đa
nghĩa, tcó khả năng “kiêm nhiệm tloại” - t được dùng những tư cách từ loại khác nhau
- là mt vấn đề khá phức tạp nhưng cũng rất thú và cn thiết.
Theo chúng i, ccái được gọi là đồng âm ngữ phápcái được gọi là tkiêm
nhimđều cùng là sản phẩm của sự chuyển hoá ngữ nghĩa do chuyển hoá chức năng. Chúng
phn ánh hai mức độ, hai trình độ của cùng một q trình. Vấn đề là tìm ra được cáiđường dây
ng nghĩa”, cầu ngữ nghĩa” giữa nghĩa của từ loại gốc với từ loi kiêm nhiệm.
Ông Hoàng P- chbiên cuốn Tđiển tiếng Việt (Nhà xuất bản Giáo dục 1988) -
mc dù không chtrương tranh lun về vấn đề y nhưng thông qua cách sắp xếp thứ tcác
mục từ, các nghĩa của từ, ông đã phân biệt hai kiểu loại trên.
phần đu [7, tr.11], khi đưa ra nhng qui ước nhằm sự thoả thuận giữa soạn giả
người sử dụng từ đin, ông chỉ ra 3 kiểu sắp xếp đáng chú ý sau đây:
a. Trường hợp 1: Mỗi đơn vị đồng âm là mt mục từ.
Ví dụ: đường1 d. Lối đi nhất định được tạo ra để nối liền hai địa điểm, hai nơi...
đường 2 d. Chất kết tinh, vị ngọt, thường chế bằng mía hoặc củ cải đường
Theo chúng i, cái ông gi là đơn vị đồng âmở đây thực chất là đồng âm - t
vựng học”: những thình thức ngữ âm trùng nhau nhưng không mi “quan hbà con”
v nghĩa.
b. Trường hợp 2:
Nhng đơn vị đồng âm mi quan hệ nguồn gốc ngữ nga tương đối rõ và không k
đó là nhng từ cùng mt từ loại hay là nhng từ thuộc từ loại khác nhau, cũng không kể đó là
thay những đơn vị không phải là từ, đều được xếp chung vào trong mt mục từ, đánh số
bằng chữ số La Mã I, II,... theo mt trình tự căn cứ vào quan h chuyển nghĩa.
Ví dụ: Cưa I. d. Dụng cụ để xẻ, cắt gỗ, kim loi và vật liệu cứng khác, lưỡi bằng thép
mng, có nhiều răng, sắc, nhọn.
II. đg. X, cắt bằng cái cưa.
đây ông Hoàng Phê xem hai tnhưng vì “quan h nguồn gốc - ngnghĩa còn
tương đối rõ” nên xếp chung vào mt mục từ. Theo chúng tôi, trường hợp 2 này trùng với i
mà Lê Biên gi là đồng âm - ngữ pháp”, “đồng âm cùng gốc”.
c. Trường hợp 3: Ông khẳng đnh quyển t đin này không tách thêm nghĩa trong
trường hợp hiện tượng chuyển nghĩa đều đặn, có tính qui luật, trong hàng loạt từ cùng loi
của tiếng Việt (như tchỉ đồ đựng, dùng để chỉ lượng đựng; tên gi y, đồng thời dùng để
ch quả, củ, hoa, lá...). Ông xem từ trong trường hợp này từ đa nghĩa.
d1: Thuận lợi t. (hoặc d.). nhiều sự dễ dàng, không hoặc ít khó khăn, trở
ngại.
d 2: Khó kn t. (hoặc d.). Khó, có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn (nói khái quát)
Theo chúng tôi, i mt số tác giả gọi là tkiêm nhiệm”, tđược dùng những
tư cách từ loại khác nhau” nằm trong trường hợp 3 này.
Đến đây, chúng tôi nêu ra 3 kiểu loại cần phân biệt:
x: Hiện tượng đồng âm từ vựng học.
y: Hiện tượng đồng âm ngữ pp hc.
z: Hin tượng kiêm nhiệm từ loại.
Cba (x, y, z) giống nhau chỗ các đơn vị trong mi kiểu loại đều là các đơn vị
cùng hình thức ngữ âm.
Chúng khác nhau ở ch:
- Nếu chúng ta không ththấy được quan hệ nguồn gốc ngữ nghĩa của c đơn v
trong (x) thì lại có thể thấy được mi dây liên hệ này của các đơn vị trong (y), (z). dụ: i
cần bàn1 với anh điều nàyCái bàn2 này làm bằng gỗ mun”; bàn1: động từ, bàn2: danh
t. Giữa hai từ không liên h về ngữ nghĩa và hoạt động “bàn” có thdiễn ra bất cứ đâu,
không nhất thiết phải gắn với cái “bàn(đây đồng âm tvựng học). Ngược lại, giữa cưa1,
khoá1 danh tvới cưa2, khoá2 động tthì dứt khoát phi liên hvề nghĩa chỉ “hoạt
động” và “phương tiện” (đây là đồng âm ngữ pháp học).
- Nếu c nghĩa của những đơn v trong (x), (y) là các nghĩa của những từ khác nhau thì các
nghĩa của nhng đơn v thuộc (z) là những nghĩa khác nhau của cùng một từ nhiều nghĩa.
Như vy, thphân biệt các sản phẩm của hiện tượng chuyển loại - hiện tượng từ
chuyển biến ý nghĩa do thay đổi chức năng - ra tnh 2 loại:
- Những từ cùng hình thức ngữ âm, quan hệ nguồn gốc về ngữ nghĩa, là
thành viên của các từ loại khác nhau. Ở mỗi lớp từ loại mà chúng tham gia, chúng đều
tư cách bình đẳng với các từ khác trong lớp từ đó.
Ví dụ: Anh ấy mượn cưa1 để cưa2 gỗ.
Tcưa1 danh t(có tư cách vtloại tương đương vi dao, kéo, búa, kèm...)
cưa2 là động từ (có tư cách về tloại tương đương với đục, xẻ, cắt, bào, đập, đóng...). Kh
năng hoạt động của từ “cưa” là danh tvà tcưalà động từ tương đương nhau.
- Những từ nghĩa gốc (hoặc nghĩa chính) quyết định cách từ loại gốc của
và có các nghĩa phụ (hoặc nghĩa phái sinh) khiến nó có thể kiêm nhiệm tư cách chức năng
của các từ loại khác.
Ví dụ:
- Công việc tiến hành rất thun lợi1. Những thuận lợi2 đó làm anh rất phấn khởi.
Thuận lợi1 là tính t đó cnh tloại gốc; thuận lợi2 là danh từ, là tloại kiêm
nhiệm của tính t“thuận lợi”. cách tloại tính tcủa t“thuận lợi” đương nhiên rõ
hơn, mnh hơn tư cách từ loại danh từ của từ này.
Khi nói đến khái niệm “từ chuyên hoá vchức ng tín hiệu học”, ông Đỗ Hữu Châu
cho rằng chuyên hoá không nghĩa là thực hiện và chthực hiện một chức năng nào đấy
thôi. Chuyên hoá chcó nghĩa là những từ này một chức năng nào đó “trội” hơn chức
năng khác. Trong các từ chuyên hoá vẫn tồn tại những nhân tố thuộc các chức năng khác và
các nhân tnày cùng với các nhân tố do chức năng chuyên hoá hợp thành một thể
thống nhất gọi là ý nghĩa của từ” [4, tr.118].