TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(36).2010
83
ĐỘI NGŨ TIẾN SĨ THỜI LÊ - TRỊNH VỚI VIỆC THỰC HIỆN
TƯ TƯỞNG TRUNG QUÂN
LE-TRINH DYNASTIES’ DOCTORS AND THEIR REALIZATION
OF “LOYAL TO THE KING” IDEA
Lê Thị Thu Hiền
Trường ĐH Sư phạm, ĐH Đà Nẵng
TÓM TẮT
Trung quân” là một nguyên tắc tối thượng trong hội Á Đông bắt buộc mọi người dân
phải tuân theo, nhất kNho sĩ. Việt Nam cũng vậy, đặc biệt dưới thời sơ, nền giáo
dục Nho học đã đào tạo ra một đội ngũ tiến đông đảo, vừa có tài năng đức hạnh, vừa ái
quốc trung quân bsung vào bộ máy quan lại. Chính đội ngũ tiến trung thành, tài giỏi y đã
góp phần chủ yếu o sự nghiệp y dựng phát triển đất nước, đưa xã hội Đại Việt chuyển
sang giai đoạn cực thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam. Tuy nhiên, vào thế kXVII - XVIII,
những biến đổi lớn về chính trị, kinh tế, hội, văn hóa đã làm cho chữ trung” không còn đầy
đủ ý nghĩa như trước.
ABSTRACT
“Loyal to the King” is the supreme principal in oriental society that everyone had to
obey, especially confucian scholar. And it is the same in Vietnam, in particular in Le-So period,
Confucian education had a large amount of doctors who had both talent and virtue, both
patriotism and loyal to the king that completed the government official system. Because of these
loyal and gifted doctor staffs that had a main part for the cause of national construction and
development, Dai Viet had been changed to the phase of quite prosperous of Vietnam feudal
system. However, in the 17th - 18th
century, the large change of politics, economy, society and
culture made “loyal” have no sufficient meaning as before.
1. Vài nét về bối cảnh thời Lê - Trịnh
Thời - Trịnh một thời kkhá đc bit trong lịch s Vit Nam. Đây thời
kđầy rẫy những biến động, những xung đột, những mâu thuẫn những đổi thay. Sự
hiện diện cùng một lúc hai thế lực vua chúa Trịnh kéo theo những toan tính, âm
mưu soán đoạt ngôi vị, tranh giành quyền lực, những cuộc nổi loạn chiếm đoạt ngôi
Chúa. Kết thúc cuộc chiến giữa hai tập đoàn Vua - Chúa là sthắng thế của chúa Trịnh
và mở ra một cục diện chưa từng có trong lịch sử Việt Nam: Chúa nắm thực quyền, Vua
givị. Mọi cố gắng nhằm khôi phục quyền hành của vua hay những người tôn
thất đều đưa đến một kết cục thất bại, cứ mỗi lần phục hồi một lần thoái lui,
nhượng bộ trước Chúa. Mâu thuẫn giữa vua - chúa Trịnh kéo dài dai dẳng lôi cuốn
toàn bquan lại triều đình cả quan lại ở địa phương vào vòng xoáy giành giật quyền
lực. Thể chế vua - chúa Trịnh với sự yếu thế của vua sự áp chế, lộng hành của
chúa Trịnh chi phối mọi hoạt động, cách xử, động thái của các quan lại. Mặt khác,
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(36).2010
84
tương ứng với thể chế đó hai hệ thống quan lại tồn tại song song tạo nên một cấu
chính quyền cồng kềnh, đồ sộ.
i s tr của vua Lê - chúa Trịnh, kinh tế - xã hội của Việt Nam gần như
không ớc phục hồi, chuyển biến, trái lại ngày càng lâm vào tình trạng trì trệ
chúa Trịnh đã đề ra một số giải pháp để cứu vãn tình thế. Tuy nhiên, trong những thế k
ởng chừng như tăm tối đó, chúng ta thấy e lên sự khởi sắc (nhất định) của nền kinh
tế hàng hóa. Sự phồn vinh của nền kinh tế hàng hóa Việt Nam trong hai thế kỷ XVII
XVIII kéo theo sphát triển của quan hệ tiền tệ đã ảnh hưởng to lớn đến sinh hoạt
hội, đặc biệt các quan niệm đạo đức cũ. Ý thức hệ Nho giáo ngày càng suy đồi. Tiền
tài trở thành một vị thần mới làm mê muội và hỏng con người. Có năm mất mùa, đói
kém, chúa Trịnh thậm chí còn ra lệnh cho cnước quyên thóc để được ban quan chức.
Như thế, quan tước cũng trở thành một thứ hàng hóa bộ y quan lại đã btiền làm
cho thoái hóa, biến chất.
Kinh tế hàng hóa cũng ảnh hưởng đến lĩnh vực giáo dục, khoa cử thời -
Trịnh. Đồng tiền chui cả vào thi cử làm xuất hiện các sinh đồ ba quan”, gia tăng các t
nạn: nhờ vả, gửi gắm người thân, đút lót quan trường, mua bán văn bài… Giáo dục Nho
học vẫn theo đường lối cũ, nặng về từ chương, khoa cử, ít học thực tế nên thi cử phần
nhiều chuộng hình thức. Những tiêu cực trong thi cử dưới thời - Trịnh phản ánh một
điều rằng thi cử không còn phương cách hữu hiệu để thẩm định năng lực của kẻ ,
tuyển lựa hiền tài cho triều đình.
Sphức tạp của hội Đàng Ngoài thời - Trịnh đã tác động rất lớn đến mọi
lĩnh vực, trong đó nền giáo dục Nho học và tầng lớp Nho - kết quả của nền giáo
dục ấy. Cùng chung sgiáo dục, cùng một nền tảng lý thuyết Nho giáo nhưng mỗi kẻ sĩ
lại mang tư tưởng khác nhau dẫn đến hành xử không giống nhau trước thời cuộc.
2. Đội ngũ tiến sĩ với việc gia nhập hàng ngũ quan lại
Trong gần 200 năm trị (1595 - 1789), chính quyền - Trịnh đã tổ chức tổng
cộng 65 khoa thi, tuyển chọn được 727 tiến , chia ra ba giáp: Đệ nhất giáp tiến sĩ cập
đệ (32 người), đệ nhị giáp tiến xuất thân (85 người), đệ tam giáp đồng tiến xuất
thân (610 người). Song đỗ cao hay đỗ thấp, trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa, tiến
sĩ xuất thân hay đồng tiến xuất thân, tất cả những người thi đỗ đều chung một
hướng đi: Ra làm quan.
Làm quan là mục đích cuối cùng trong xâu chu ỗi học hành - thi ccủa kẻ sĩ.
Ra làm quan là cách thc hữu hiệu nhất để thực hành nhữn g lý tưởng của nhà Nho.
vậy, trong 727 người đỗ tiến thời - Trịnh 712 người làm quan, hoặc bổ giữ các
chức vụ trong triều đình, hoặc đi nhậm chức các địa phương. Còn lại 15 trường hợp
thì có 4 trường hợp chưa vinh quy đã mất, 9 trường hợp khô ng ghi lại nh trạng 2
trường hợp không ghi làm quan thời - Trịnh hay không nhưng làm quan
triều Tây Sơn.
Theo thống của chúng tôi, trong 77 nời làm bên phủ Chúa 11 người
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(36).2010
85
xuất thân từ đệ nhất giáp (chiếm 14,3%), 10 người xuất thân từ đệ nhị giáp (chiếm
13%), 56 người xuất thân từ đệ tam giáp (chiếm 72,7%). Những người từng đỗ đệ nhất
giáp tiến cập đệ đệ nhị giáp tiến xuất thân đều giữ chức tham tụng bồi tụng
(tương đương với chức Tể tướng Á tướng bên triều đình vua Lê) . Những người có
nguồn gốc tđệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, gần 2/3 giữ chức tham tụng, bồi
tụng, số còn lại giữ các chức: nhập thị tham tụng, hành tham tụng, nhập thị bồi tụng,
thiêm sai, đô đốc, chưởng phủ sự, thự phủ sự…
3. Đội ngũ tiến sĩ với tư ởng trung quân
“Trung quân” vốn từ Hán Việt. Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh,
“trung” là “Hết lòng với người - Hết lòng với nước”; “quân” là “Vua - Làm chủ” .
“Trung quân” là “bầy tôi hết lòng ngay thẳng với nhà vua” [1].
Còn theo Hán Vit từ điển của Thiều Chửu, trung” là “thực, dốc lòng, hết bổn
phận mình”; “quân” là “vua, người làm chủ cả một nước” [2].
Như vậy, trung quân” là kbề tôi hết lòng với vua, làm hết bổn phận củanh
đối với nhà vua. Việt Nam, trung quân phải gắn liền với ái quốc, không những hết
lòng vi vua mà còn phi hết lòng với c, nếu không rt d rơi vào ngu trung
(trung thành mù quáng).
Chịu ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc, Nho học Việt Nam nói chung
thời - Trịnh nói riêng cũng giáo dục kẻ khuôn mình theo tinh thn tuyệt đối trung
thành với vua trong một bối cảnh đặc biệt như xã hội Đàng Ngoài thế k XVII -
XVIII, thì các nhà Nho còn phải trung thành với một nhân vật nữa xem ra có phần trọng
hơn, đó là chúa Trịnh . Đỗ tiến sĩ rồi ra làm quan là để phò vua hành đạo nhưng rốt cuộc
chẳng mấy ai chịu ở bên cạnh vua Lê, hầu hết đều chạy qua phủ Chúa, chịu sự sai khiến
của Chúa để hưởng nhiều quyền lợi, bổng lộc. Phải chăng do Nho phong khí đang
ngày một suy đồi? thuyết Nho giáo dạy họ phải trung với vua, nhưng thực tế chúa
Trịnh mới người cầm quyền nên chống lại chúa đồng nghĩa với việc đi vào chỗ chết.
Phan Huy Chú nhận định: Tthời Trung hưng về sau, chính sự về tay họ Trịnh 200
năm, cương thường trái ngược, các sĩ phu điềm nhiên không biết lo” [3].
3.1. Ở thời bình
thời bình, chính quyền do họ Trịnh giữ, vua cử động cũng đều bị
ngăn cn, ức chế, quan lại đã không biết nhà nữa, chỉ vây quanh chúa Trịnh chầu
chực, nịnh bợ, ton hót. Có người như viên Thượng thư, Tham tụng Nguyễn Công Hãng
(tiến năm 1700) còn táo tợn đến mức xin Trịnh Cương khi tiếp bề tôi nên mặc áo
vàng mặc của thiên tử). Rất ít người còn giữ được được khí khái như viên Thượng
thư bộ Lễ Nguyễn Bá Lân (tiến sĩ năm 1731), không chịu theo lệnh của chúa Trịnh Sâm
mặc áo triều yết (chỉ dành cho vua ngự ra xem thi) khi Chúa ngự đến trường thi
Hội trong khoa thi năm Ất Mùi (1775). Sử cũ chỉ ghi chép có vài ba trường hợp quan lại
xuất thân từ tiến dám dâng lời can gián sự lộng quyền của chúa Trịnh. Bùi Tiêm
(tiến sĩ năm 1715), trong tờ khải 10 điều năm 1929 đã tỏ ý nghi ngờ khi nhắc lại sự kiện
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(36).2010
86
nhường ngôi năm Kỷ Dậu (chỉ việc Trịnh Cương b Dụ Tông, lập Duy Phường ):
Không biết quả thật xuất phát từ việc mệt mỏi thật lòng phó thác hay còn sự
bất đắc dĩ. Ông xin chúa Trịnh Giang gắng tôn phò để tiêu tan biến dị” vìnhà vua
không thkhông tôn phù[6]. Khéo léo sâu xa hơn, Bồi tụng Bùi Huy Bích (tiến
năm 1769) đã viện dẫn lời dạy bảo của cổ nhân quân quân thần thần phụ phụ ttử
trong sách Luận ngữ để khun can Trịnh Sâm hãy chính danh vua ra vua tôi ra tôi.
Đương nhiên không có lời can gián nào được chúa Trịnh nghe theo.
3.2. Ở thời loạn
Đến thời loạn, lúc quân Tây Sơn tiến ra Bc Hà với danh nga phù Lê diệt
Trịnh”, những người tước vị triều đình, bao hàm cả các quan xuất thân từ tiến sĩ,
lại rơi vào trạng thái ngả nghiêng, dùng dằng, vội vàng lo ngại không biết nên tận trung
với ai: chết họ Trịnh phản bội nhà Lê, trung với nhà Lê là bỏ họ Trịnh, thế phân
vân hai ngả, không đườ ng tiến lui. Thậm chí ngay ckhi chúa Trịnh đã thất thế, con
cháu lưu lc, mầm mống loạn chính nhân hội này thể tiêu diệt tận gốc , song
không ai nghĩ đến chuyện cầm quân đánh dẹp, để cho viên tướng Đinh ch Nhưỡng
tìm cách khôi phục địa vị ngôi chúa cho quận Côn Trịnh Bồng mà không dám hó hé, chỉ
ngồi im để xem Nhưỡng ngả về bên nào (vua hay chúa) cân nhắc nặng nhẹ. Duy
Nguyễn Hàn (tiến năm 1779) dám lên tiếng trả lời câu hỏi của Nhưỡng: Chẳng hay
hoàng thưng đãi nhà chúa như thế hậu hay bạc?” rằng: Nhà chúa không thgi
nổi tôn miếu, Hoàng thượng bảo tồn cho như thế kể cũng đã là hậu [5].
Trước sức mạnh của quân Tây Sơn, tướng các thành chỉ chống cự cho có lệ rồi vội
vã tìm đường thoát thân như viên quan Ninh Tốn (tiến năm 1778) làm hiệp trấn đóng ở
Động Hải (thuộc Lệ Thủy, Thái Bình), Đương trung hầu Bùi Thế Toại trấn thủ Nghệ An,
Thùy trung hu Tạ Danh Thùy trấn thủ Thanh Hóa đều bỏ thành mà chạy khi quân Tây
Sơn thừa thắng tấn công ra Bắc. Chẳng mấy ai chịu noi theo khí tiết của trấn thủ Lạng
Sơn Ngô Đình Thạc (tiến năm 1700) mấy chục năm trước, một mình vẫn cương
quyết lại thành đối địch với viên thổ làm phản Toản vào năm 1740. Lúc y
người khuyên Đình Thạc btrốn, song ông nói: Chức phận của ta chỗ giữ đất triều
đình, ta phải sống chết với thành này, toan chạy đi đâu?”. Nc lại lúc y, nghe t
báo tin quân triều đình thua trận tới tấp đưa về Kinh, các quan văn trong triều ai nấy
chcuống lên lo thu xếp chỗ nương u cho vợ con, lo cất của cải, không một ai đứng ra
nhận đánh nhau với quân Tây Sơn. Rồi Nguyễn Huệ rút quân vào Nam, trao trả quyền
bính lại cho vua thì hậu duệ của chúa Trịnh, được sự hậu thuẫn của các thủ lĩnh địa
phương, một lần nữa lại ngo ngoe ngóc đầu dậy muốn lấn át quyền lực của nhà vua buộc
vua Lê Chiêu Thống phải nhờ lực lượng cùa Nguyễn Hữu Chỉnh Nghệ An ra Bắc dẹp
yên. Không ngChỉnh lại biến thành mối họa nguy hiểm không kém. Dẹp xong quân
chúa Trịnh, Nguyn Hữu Chỉnh nắm hết quyền bính trong nước, việc gì cũng tự tay y
ra. Càng ngày y càng lộng hành ”, “quyền Chỉnh thật ngang với nhà vua, thế của Chỉnh
có thể lật nghiêng cả ớc[5]. Đứng trước tình thế “chướng tai gai mắt” như vậy, các
quan văn võ vẫn giữ thái độ thụ động, chỉ biết chán nản”, “kiêng nói”, ngay cnhà
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(36).2010
87
Nho “chính quy” Bùi Huy Bích (tiến 1769) khi được vua vời vào cung để hỏi việc
thiên hcũng sợ không dám nói, xin cho về quê nhà bảo riêng với người thân tín
rằng: “Thiên hạ sắp loạn mất rồi! Từ đây ta cũng bỏ mà đi thôi!”.
Ăn cơm vua, ởng lộc chúa nhưng đến lúc vua, chúa gặp nạn thì trung thần
chẳng còn được mấy người. So sánh phong tiết của các bậc khoa giáp thời cuối Lê sơ và
thời cuối trung hưng, Phan Huy Chú cho rằng: Nhà Lê vào những năm Quang
Thiệu, Thống Nguyên (đầu thế kỷ XVI) biến cố luôn xảy ra, nghịch thần tiếm ngôi làm
loạn. Lúc này c bậc khoa giáp đương thời, cảm đời đem mình ra sức tận trung giữ
tiết, bắt chước nhau khích lệ… Kịp đến binh biến cuối nhà chỉ ông Tri lại họ
(tức Trần Quán) chết nạn Chúa [4]. Lý Trần Quán, người Vân Canh,
huyện Từ Liêm (nay là Vân Canh, huyện Hoài Đức), tỉnh y, đỗ tiến khoa
Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời Hiển Tông. Năm Bính Ngọ (1786),
quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, Đoan vương Trịnh Khải thua trận chạy lên phía
y huyện Yên Lãng, nghe tin Trần Quán, giữ chức Thiêm sai Lại phiên đi phủ dụ
phTam Đới, đóng quân tại huyện vội cho người chạy đến nhờ Quán giúp sức. Không
ngviên tuần huyện tên Trang, vốn học trò của Quán, được sự ủy thác của ông
dẫn đường cho Chúa lại bắt Trịnh Khải đem về nộp cho Nguyễn Huệ. Khi biết tin thì đã
quá muộn, Lý Trần Quán kêu khóc thảm thiết rồi nhờ người đào huyệt tự chôn sống
chết. Thiên hạ kính trọng Quán là bậc nghĩa khí.
Tuy nhiên, không ch mỗi Trần Quán bậc tiết nghĩa, trung thần. Các
nguồn sử liệu khác như Đại Việt sử tục biên, Khâm định Việt sử thông giám cương
mục, Hoàng nhất thống chí… còn ghi lại một số tấm gương bậc Nho th ần tận trung
với vua (Chiêu Thống) trong hoàn cảnh hỗn loạn cuối thế kXVIII, và mỗi vị, với
quan điểm riêng của mình, đã thực hiện chữ “trung” bằng nhiều cách khác nhau:
- người nguyện vào doanh trại giặc(quân Tây Sơn) đđòi lại đất đai cho
nhà Lê dù biết khó thoát khỏi cái chết như Trần Công Xán (tiến sĩ năm 1772), Ngô Nho
(tiến sĩ năm 1785).
- người tỏ thái độ bất hợp tác với giặcnhư Lại bộ hữu thị lang Phạm Đình
Dư (tiến sĩ năm 1775) thủ tiết không ra làm quan khi Nguyễn Hữu Chỉnh làm loạn, nắm
hết quyền bính Bắc Hà; như Phó đô ngự sử Nguyễn Đình Giản (tiến sĩ năm 1769),
Tham tri chính sLê Duy Đản, Phạm Đình (đều tiến năm 1775), Đồng xu mật
viện Nguyễn Duy Hợp (tiến sĩ năm 1772), Phạm Trọng Huyến (tiến năm 1778),
Thiêm sai tri Công phiên Phạm Quý Thích (tiến sĩ năm 1779), Đô cấp sự trung Nguyễn
Đình Tư (tiến năm 1785) trốn tránh không chịu yết kiến Nguyễn Huệ trong buổi gặp
mặt giữa Nguyễn Huệ với các quan văn triều (năm 1778); hay như Nguyễn Huy
Trạc (tiến năm 1787) không chu ký vào t biu mi Nguyn Huệ lên ngôi của các
cựu thần văn võ nhà Lê, đêm về ông uống thuốc độc tự sát.
- người về quê hoặc đi các nơi chiêu mộ lực lượng giúp vua Lê Chiêu Thống
đánh lại loạn quân Chỉnh quân Tây Sơn như Nguyễn Kh ản, Nguyễn Đình Giản,
Phạm Nguyễn Du.