
TAÛP CHÊ KHOA HOÜC, Âaûi hoüc Huãú, Säú 47, 2008
VẤN ĐỀ HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH
TRONG QUAN NIỆM VÀ NGHI LỄ PHẬT GIÁO HUẾ
Lê Thọ Quốc
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Vấn đề hôn nhân và gia đình tưởng chừng như là một vấn đề bình thường trong sự phát
triển tự nhiên của xã hội loài người. Nhưng khi đặt nó trong quan niệm và nghi lễ Phật giáo thì
nó đã chuyển sang một hình thức khác liên quan đến tôn giáo và tâm linh trước sự biến chuyển
tâm lý, giá trị chuẩn mực đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của con người trong xã hội Á
Đông, vốn mang nhiều ý thức hệ Nho giáo trong quan niệm về hôn nhân – gia đình.
Từ những ghi nhận qua kinh điển, chúng ta sẽ thấy được Phật giáo nhìn nhận hôn nhân –
gia đình như thế nào? Và những quan niệm đó, Phật giáo Huế đã thể hiện như thế nào trong cách
thức tổ chức lễ nghi, nhằm chuyển hóa những ý nghĩa mà nó đem lại cho người Phật tử trước
thực trạng xã hội hiện đại với nhiều sự đổ vỡ gia đình do ly hôn, bạo hành gia đình, tệ nạn xã
hội,…
Phật giáo luôn luôn đặt gia đình làm nền tảng cho sự phát triển của xã hội, dựa trên các
giá trị chuẩn mực đạo đức của con người, thiết chế văn hóa gia đình truyền thống, bổn phận và
quan hệ vợ chồng chung thủy,… mà còn đó là một quy phạm pháp luật đủ mức răn đe, giáo dục
nhằm hạn chế ly hôn, bạo lực gia đình,… mà xã hội đang ngày càng phải đối mặt. Đồng thời
thông qua lễ thức Phật giáo để thể hiện sự gắn kết giữa đời và đạo, theo đúng thuần phong mỹ
tục và luật hôn nhân gia đình của người Việt Nam.
1. Dẫn nhập
Không chỉ một số tôn giáo lớn của thế giới như Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Ấn
Độ giáo… mà còn một vài tôn giáo khác xuất hiện muộn hơn ở nước ta như Cao Đài,
Hòa Hảo… đều có nghi thức làm lễ kết hôn cho tín đồ. Xuất phát từ những quan niệm
khá riêng biệt, mỗi tôn giáo có những cách thức hành lễ riêng phù hợp với tôn giáo của
mình. Và tuỳ thuộc vào phong tục tập quán, chuẩn mực đạo đức, pháp luật,… của từng
vùng, mỗi một tôn giáo đều có những điều chỉnh thích ứng nhằm hướng tín đồ theo định
chế, tôn chỉ của mình.
Thực ra, trong nghi lễ Phật giáo hoàn toàn không đề cập đến nghi thức hay thủ tục để
điều hành một buổi hôn lễ tại chùa. Có chăng chỉ đơn thuần sự hiện diện của các vị Tăng cùng
những lời chúc phúc và thuyết giảng về ý nghĩa của hôn nhân, bổn phận vợ chồng cho đôi trẻ.

“Các sư Phật giáo không hành lễ trong đám cưới, vì sự cưới hỏi là một lẽ không phù hợp với
nếp sống độc thân của các bậc xuất gia. Nhưng nếu muốn cho nó có đôi chút danh tánh tôn
giáo, người ta thường mời các bạn thanh niên nam nữ Phật tử đến tụng những bài kệ chúc
lành. Các bậc xuất gia không bao giờ tham dự lễ cưới. Tuy nhiên, trước hoặc sau đôi ba ngày,
gia chủ thường tổ chức lễ trai tăng cúng dường đến các bậc phẩm hạnh và trong dịp ấy một vị
sư đứng ra giảng một thời pháp, nhắc lại những lời huấn từ của đức Phật và khuyên đôi tân
hôn hãy chung sống thuận hòa hầu lo xây đắp hạnh phúc gia đình ” (Walpola Rahula, 1965).
Vì khi thực hiện nghi lễ này, theo quan niệm của Phật giáo sẽ khơi dậy dục vọng thế gian, làm
lay động tâm niệm “diệt dục” trong chúng tăng trên bước đường tu học.
Tuy vậy, trên tinh thần nhập thế, “tùy duyên” hoá độ, Phật giáo Huế thuận theo
nhu cầu của tín đồ, đồng thời hướng tín đồ của mình đến với niềm tin tôn giáo, các
chùa Huế đã vận dụng những lời dạy của Đức Phật làm phương tiện để tổ chức nghi
thức cầu an “Hằng thuận” cho những đám cưới của tín đồ, nhân đó khuyến hoá theo
tinh thần Phật giáo.
2. Từ những ghi nhận qua kinh điển…
Phật giáo với tinh thần nhập thế, bình đẳng, từ bi là phương tiện để hòa nhập với
xã hội. Khi còn tại thế, Thích Ca Mâu Ni vẫn xem hôn nhân - gia đình là một cách thể
hiện đúng nghĩa của con người về hiếu đạo, nghĩa vụ của họ trong xã hội và nghĩa vụ đó
được cụ thể bằng những hành động, việc làm. Mỗi người khi trưởng thành, lập gia đình
có nhiều mối quan hệ ràng buộc về nhân sinh, luân lý, đạo đức đối với chính mình và tha
nhân. Làm tròn bổn phận của người chồng và người vợ cũng được Phật nói khá nhiều
trong các kinh điển, bài thuyết giảng cho chúng đệ tử.
Trong những kinh điển và các bài thuyết giảng về hôn nhân gia đình, chủ yếu tập
trung vào các vấn đề như: Bổn phận của vợ, chồng, cha, con; quan hệ xã hội; vấn đề hiếu
đạo, luân lý.
Có thể thấy rằng, tình yêu và hôn nhân là việc rất thường tình của mỗi con người
sống trong xã hội và nó hạnh phúc, tốt đẹp hay dang dở là tùy thuộc vào người sở hữu,
tạo dựng nó. Trong kinh Đại Bảo Tích, đức Phật đã nhận định: “Nếu một người đàn ông
có thể tìm được một người vợ, người phụ nữ thích hợp và hiểu biết; người phụ nữ có thể
tìm được người đàn ông thích hợp và hiểu biết, cả hai thực sự may mắn” (Tuệ Nguyên,
2006: 62). Việc kết hợp giữa hai người nam và nữ trong hôn nhân là do nhân duyên của
họ tạo nên, dựa trên sự hiểu biết, phù hợp với nhau, đồng thời loại trừ những chia rẽ, mất
hạnh phúc dẫn đến những khổ đau trong cuộc sống gia đình. Và ai đạt được chính là
người có hạnh phúc thật sự trong cuộc sống thế gian.
Khi đức Phật còn tại thế, ngài luôn ca ngợi những cặp vợ chồng hạnh phúc, dạy
họ làm sao để có được cuộc sống hạnh phúc trong hôn nhân, vì xã hội bấy giờ đang có sự
phân hóa đẳng cấp rất mạnh mẽ ở Ấn Độ. Do đó, sự tương hợp văn hóa giữa vợ và chồng
là một trong những thành tố đem lại hạnh phúc lứa đôi, bỏ qua sự ngăn cách của đẳng
cấp, thoát khỏi các luật lệ cùng những nghi thức khắt khe, thành kiến của con người trong

xã hội. Đồng thời, đức Phật cũng nói về việc không chung thủy giữa nam và nữ trong hôn
nhân do nhiều nguyên nhân đưa đến tác hại vô cùng lớn cho gia đình và xã hội. Qua sự
hiểu biết về tâm lý, thực trạng của đời sống hôn nhân, Phật đã có những lời khuyên rất sát
với thực tế, nhằm gắn bó hạnh phúc trong hôn nhân, ngăn chặn sự đổ vỡ gia đình và
những hệ lụy của nó:
“Cô dâu mới về nhà chồng có thể gặp những khó khăn, vì thế nàng dâu phải tuân
thủ những nguyên tắc sống trong gia đình nhà chồng, phải kính trọng bố mẹ chồng, phục
vụ bố mẹ chồng một cách chu đáo như là bố mẹ ruột của mình, phải tôn trọng và kính
mến những người thân và bạn hữu bên nhà chồng. Như vậy là cô dâu mới đã tạo nên một
bầu không khí an vui và hòa hợp trong gia đình chồng. Đồng thời cần phải tìm hiểu
những bản tánh của chồng, biết rõ những hành động, tính khí của chồng và cộng sự với
chồng ở mọi lúc mọi nơi trong nhà mới của chồng. Phải lịch sự, tử tế và biết những thu
nhập của chồng, quản lý và chi tiêu một cách hợp lý” (Tuệ Nguyên, 2006: 68).
Trong kinh Thiện Sinh (Singalovada Suttanta)1 đã thể hiện những mẫu mực căn
bản, những khía cạnh thiết yếu của cuộc sống đôi lứa trong mối quan hệ vợ chồng, gia
đình và xã hội, đồng thời nhấn mạnh đến các mối quan hệ này vì đời sống gia đình được
thuận hòa, hạnh phúc chính là nền tảng phát triển xã hội. Sự gắn kết lứa đôi bằng niềm
tin, nghĩa vụ trong hôn nhân, gia đình thông qua các mối quan hệ được gia cố bằng tinh
thần tâm linh tôn giáo, tương hợp với văn hóa xã hội đang có để làm nền tảng cho hạnh
phúc gia đình. Nếu mỗi người đều nhận thức, làm tròn nghĩa vụ, họ có được hạnh phúc,
an lạc cho chính bản thân và gia đình, đồng thời thể hiện tính bình đẳng giữa con người
với nhau một cách tương hỗ.
“Lễ bái phương Tây, chồng đối với vợ, sống trong lễ độ, giao phó việc nhà, tùy
sức sắm sửa áo quần nữ trang, đi về đúng giờ, đừng để chờ đợi. Một lòng chung thủy,
không để nghi ngờ, gia đình kém vui. Vợ đối với chồng, hòa nhã kính nhường, dậy trước
ngủ sau, công dung ngôn hạnh, nề nếp khuê môn, làm bếp cho khéo, vá may đủ dùng, giữ
gìn tài sản, không xa xỉ xài, giáo dục con cái, mái nhà êm ấm” (Hương Sen Ni Viện,
2005).
Phật giáo lấy “ngũ giới” làm chuẩn mực cho tín đồ, hướng đến giải thoát bằng
“bát chánh đạo” và “tứ diệu đế”. Cho nên, để có được bền vững trong hôn nhân – gia
đình thì sự hiện diện của năm giới2 và đi kèm với nó là năm bổn phận người chồng đối
1 Kinh Thiện Sinh (hay còn gọi là kinh Thiện Sanh Tử, kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ) trong Trường Bộ
Kinh (Digha - Nikaya) nói về lời dạy của Phật cho chàng thanh niên Singalovada khi đảnh lễ sáu phương.
Đây là bộ kinh đã trải qua quá trình phiên dịch từ Phạn ngữ sang Hán ngữ, sau đó từ Hán ngữ sang Việt
ngữ, được phổ biến rộng trong tầng lớp tu sĩ, bởi đó là tất cả những gì mà mỗi người tu sĩ hay người phật tử
phải học tập, khi đề cập đến hôn nhân – gia đình.
2 Vì năm giới (không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu) là sự
ràng buộc, giới hạn con người theo một quy cũ nhất định không chỉ phù hợp tương thích với xã hội mà
còn ngăn chặn sự nguy hại đến hạnh phúc trong gia đình.

với người vợ và ngược lại đối với người vợ cũng vậy3 là những cái cần thiết mà mỗi
người phải có. Từ đó, sự nảy mầm của hạnh phúc lứa đôi được vươn lên cao hơn, bền
vững và tốt đẹp hơn trong xã hội.
Mặt khác, hôn nhân được xem là sự tác hợp một cách bình đẳng nhất trong xã hội
giữa nam và nữ bằng mối quan hệ hòa nhã, rộng lượng, hiểu biết và hiến dâng cùng với sự
tự hy sinh mà chính họ phải là người thực hiện đầu tiên. Ngay từ ban đầu, Phật giáo luôn
luôn khuyến khích sự bình đẳng, xem bình đẳng xã hội là cách thức để phát triển giáo lý
giải thoát đến cho mọi người. Cho nên, muốn đạt được như vậy thì đức Phật cũng xem gia
đình là nơi khởi đầu của sự bình đẳng và dần hoàn thiện mối quan hệ gia đình theo đúng
chuẩn mực luân lý, đạo đức xã hội quy định4.
Từ những quan niệm, lời khuyên của đức Phật về hôn nhân - gia đình được kinh
điển ghi lại, trở thành phương tiện để Phật giáo ứng xử trong xã hội, trên tất cả các mặt
đạo đức, luân lý, chuẩn mực sống của con người. Đồng thời nó còn trở thành nền tảng
tâm linh gắn kết hạnh phúc lứa đôi thông qua lễ nghi tôn giáo.
3. … đến thực hành nghi lễ “Hằng Thuận” trong Phật giáo Huế
Trong hệ thống nghi lễ Phật giáo Huế, nghi lễ “Hằng Thuận” là một trong những
phương tiện được dùng để chuyển tải giáo lý đức Phật đến với tín đồ. Tên gọi của nghi lễ
này hàm chứa một ý nghĩa nhân sinh của Phật giáo đối với con người. Do vậy, nghi lễ
“Hằng Thuận” còn được gọi là lễ “cầu an Thành hôn”. “Hằng” là từ biểu thị tính liên tục
của một hoạt động tâm lý tình cảm (phần nhiều) diễn ra trong suốt thời gian dài và có sự
bền vững. “Thuận” là theo đúng chiều chuyển động, vận động tự nhiên của sự vật hay
bằng lòng, đồng tình với những gì mình chấp nhận được. Nên, Hằng Thuận là sự thuận
Theo kinh Thiện Sanh chỉ riêng giới tà dâm mà một trong hai người vợ hoặc chồng không giữ được sẽ đưa
đến: 1. Khó giữ vẹn thân mình; 2. Gây xáo trộn buồn rầu cho gia đình con cái; 3. Công việc sanh nhai
có thể thất bại, sự sản tiêu hao; 4. Thân thuộc khinh chê, trong gia đình thường có hiềm nghi, chống
trái; 5. Kẻ thù được cơ hội thuận tiện; 6. Các sự khổ ngày càng thêm thắt chặt, chồng chất.
Trong kinh Ưu Bà Tắc (hay còn được dịch kinh Người Áo Trắng) cũng thắt chặt trên năm nguyên tắc đạo
đức được đúc rút từ Ngũ giới mà thành, và trong năm nguyên tắc đạo đức đó, nguyên tắc thứ ba đã
nhấn mạnh việc từ bỏ quan hệ tình cảm phi pháp và bất chánh, tôn trọng vào bảo vệ hạnh phúc của
người khác.
Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt (Trường Bộ kinh) đức Phật có dạy: “Nếu một người đàn ông có vợ mà đi
đến với một người phục nữ khác ngoài hôn thú thì điều này có thể là nguyên nhân về sự sa sút của anh
ta và chắc chắn anh ta sẽ đối mặt với các vấn đề khác cùng với những phiền toái đưa lại” (Tuệ
Nguyên, 2006: 64).
3 Năm bổn phận của chồng đối với vợ: 1. Thương yêu; 2. Chung thủy; 3. Săn sóc đời sống vật chất; 4. Trao
cho vợ quyền quản lý trong gia đình; 5. Kính trọng gia đình vợ. Năm bổn phận của người vợ: 1. Kính
trọng chồng; 2. Chung thủy với chồng; 3. Quản lý gia đình tốt; 4. Siêng năng làm việc; 5. Đối đãi thân
thiện với gia đình chồng.
4 Mặc dù rằng, mỗi xã hội, dân tộc có sự quy định chuẩn mực riêng trong vấn đề hôn nhân – gia đình,
nhưng tất cả đều hướng đến sự hoàn mỹ, tốt đẹp trong nhân cách, đạo đức, lối sống phù hợp với phong tục
tập quán trong từng cộng đồng người đó sinh sống.

theo, bằng lòng với sự quyết định của mình đối với hôn nhân, xây dựng gia đình trong xã
hội một cách vững chắc, phù hợp với quy luật sinh tồn của con người.
Việc bảo lưu truyền thống và vận dụng cho phù hợp với xã hội đương thời, nghi
lễ “Hằng Thuận” trong Phật giáo Huế đã có sự biến đổi khá nhiều nhưng vẫn dựa trên
nền tảng có sẵn của nghi thức cầu an.
Quy trình của một nghi lễ Hằng thuận gồm: (1). Niệm hương; (2). Đảnh lễ Tam
bảo; (3).Tán Dương chi; (4). Tụng chú Đại bi; (5). Sái tịnh; (6). Đọc sớ cầu an (có thể có
hoặc không); (7). Tụng chú Tiêu tai cát tường; (8). Huấn thị (nói về lời dạy của Phật
trong hôn nhân - gia đình và quy y Tam bảo5); (9). Phục nguyện; (10). Hồi hướng (kết
thúc buổi lễ).
Tuy nhiên cho đến nay, Phật giáo Huế vẫn áp dụng và có sự thay đổi với hình
thức đọc sớ qua một bài văn soạn riêng6 thay thế cho sớ cầu an, mang ý nghĩa cụ thể hơn
đối với nghi lễ Thành hôn được tổ chức ở trong nhà chùa.
5 Trên tinh thần hiếu thảo, tôn kính cha mẹ và các bực trưởng thượng, thương yêu anh em, vị chủ lễ còn căn
dặn rất rạch ròi bổn phận con dâu đối với cha mẹ chồng và con rễ đối với cha mẹ vợ. “Phải có lòng
hiếu kính cha mẹ, tùy thuận lời hiếu kính cha mẹ dạy bảo, không được cãi lại. Phải ngủ sau dậy trước,
lo cơm nước cho chu đáo. Phải làm các công việc nặng nhọc trong nhà cho cha mẹ. Phải luôn luôn
nhớ đến công ơn cha mẹ sanh thành dưỡng dục chồng mình, mà bổn phận làm con dâu có trách nhiệm
nối dòng dõi cho gia nghiệp chồng. Khi cha mẹ chồng có đau ốm, làm dâu con phải chăm nom thuốc
thang, thay đổi thức ăn uống, cầu cho cha mẹ chóng lành khỏi, để trong nhà được yên vui. Đó là bổn
phận làm con dâu đối với cha mẹ chồng”. Ngược lại người chồng phải kính trọng cha mẹ vợ như cha
mẹ mình, không nên có lời bất bình hoặc bất kính, nhớ công ơn sanh thành dưỡng dục vợ mình của cha
mẹ vợ, khi cha mẹ vợ cần việc gì nhờ hãy vui vẽ sẵn lòng, không sợ khó nhọc (Thích Hoàn Thông,
1973: 183 – 184). Lời huấn thị của vị chủ lễ mang tính cách giáo dục, nhắc nhở, nói lại lời Phật dạy
cũng như cách sống trong xã hội theo tinh thần Phật giáo.
6 Văn sớ lễ cầu an “Hằng Thuận” (được ghi lại từ buổi lễ “Hằng Thuận” tại Chùa Thiên Minh - Huế):
“Phục dĩ, âm dương phối hợp vốn nhơn duyên định sẵn từ lâu, loan phụng hòa minh là hạnh phúc xây
đắp hiện tại. Quy y Tam bảo nguyện gọt trừ túc trái, hương từ bi nên gây lấy thiện duyên. Chữ minh
tâm giữ một lời nguyền, câu hải thệ trọn niềm chung thủy. Bái sớ vị, Việt Nam quốc,… tỉnh,… huyện,…
thôn, gia đình vu…[tên chùa đến làm lễ] phụng Phật tu hương phúng kinh giá thú thành hôn, kỳ an
nginh tường tập phước sự. Kim đệ tử:….[tên cha mẹ chú rễ, cô dâu] hiệp đồng nhị gia đình thân quyến
đệ tử chúng đẳng. Nhất tâm cầu nguyện giá thú thành hôn đệ tử: …[tên chú rễ, cô dâu và năm sinh,
tuổi]. Nguyện cầu chư Phật từ bi gia hộ nhị đệ tử: tiếng cầm sắt trăm năm hòa điệu tụng chữ minh
tâm, nghĩa tào khang một niệm vuông tròn ngâm câu kiến tánh, đạo lục hòa gìn giữ sớm hôm, ơn Tam
bảo khắc ghi thân mạng. Bốn điều hoằng thệ chúng con xin thực hiện tròn đầy, hai chữ quy y chúng
con nguyện tựa nương nhất định. Trượng năng nhơn soi xét tâm tư, cầu Thiện thệ ân ban giới hạnh.
Kim tắc cần cù sớ văn hòa nam bái bạch: [đọc các danh hiệu Phật, Bồ tát như sớ cầu an]. Diên
phụng, tam thừa thượng thánh, tứ phủ vạn linh, hộ pháp long thiên, chư vị thiện thần đồng thùy chiếu
giám, cộng giáng cát tường. Phục nguyện: Nhân buổi thành hôn hảo hiệp, nguyện cầu cho gia đình an
khánh, gặp thời đôi trẻ giao hòa thành nguyện để nhân phong vật thịnh, cảnh môn phong muôn vẻ
khang trang, bề gia thất vạn phần hưng khánh. Ngưỡng lại Phật ân chứng minh cẩn sớ. Phật lịch…tuế
thứ….niên….nguyệt…nhật, đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ”.

