
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(25).2008
SỨC MẠNH LẬP LUẬN CỦA PHẢN NGỮ
TRONG DIỄN VĂN CHÍNH TRỊ ANH - VIỆT
ARGUMENTATION POWER OF ANTITHESIS IN ENGLISH AND
VIETNAMESE POLITICAL SPEECHES
TS. PHAN VĂN HÒA
Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHĐN
LÊ THỊ HOÀNG VÂN
Học viên cao học khóa 2005-2008
TÓM TẮT
Lập luận hiệu quả dựa trên nhiều yếu tố, trong đó có sức mạnh của lý lẽ đanh
thép và sức quyến rũ của phong cách ngôn ngữ trong phần phản ngữ. Diễn văn
chính trị tiếng Anh - Việt là một trong những mảnh đất màu mỡ ở đó người
nghiên cứu có thể tìm hiểu và phát hiện ra những yếu tố cơ bản tạo ra sức mạnh
to lớn của lập luận, nhất là ở phần phản ngữ. Vì lẽ đó, sau khi đã thống kê, kiểm
chứng và phân tích một khối lượng tài liệu đáng tin cậy, người viết bài này sẽ tập
trung vào (a) xác định và phân loại một số khái niệm liên quan, (b) nêu lên những
chứng cứ nghiên cứu đã đánh giá và xác minh về sức mạnh của lập luận ở phần
phản ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt, (c) và đưa đến những kết luận hệ thống
về các đặc trưng của lập luận nói chung, của phần phản ngữ nói riêng, để thấy
rằng ngôn ngữ Anh và Việt có những điểm tương đồng và dị biệt trong bản chất
mỗi ngôn ngữ cũng như trong sự thể hiện của ngôn ngữ trong diễn văn chính trị.
ABSTRACT
Argumentation power is based on various linguistic features, especially on
argumentative ability and stylistic power of antithesis. Political speeches in
English and Vietnamese are a ‘ rich land’ where the writer of this article can
investigate and discover the basic features that endow the argumetative power to
speeches, especially in the antithesis of argumentation. After doing statistics,
checking reliable materials, and making scientific analysis of some typical
speeches in English and Vietnamese, the writer will (a) explain some new
concepts involved, (b) present study evidence evaluating and verifying
argumentation power of antithesis in English and Vietnamese, and (c) discover
the similarities and differences of these features in political speeches between the
two languages.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lập luận đóng vai trò rất quan trọng. Song, là “một khoa học- khoa học của lời
nói” [6:137], lập luận còn có ý nghĩa hơn trong xu hướng toàn cầu hoá, khi mà, lập luận
càng sắc bén, thuyết phục thì mục đích đạt được càng cao.Vì lẽ đó, người viết đi sâu tìm
hiểu bằng cách nào đó mà phản ngữ góp phần quan trọng trong cấu trúc lập luận để tạo ra
sức mạnh to lớn của lời.
Lập luận không phải là một vấn đề mới. Oswald Ducrot [1983], Jean Claude
Anscombre [1983], Đỗ Hữu Châu [2001], Nguyễn Đức Dân [1998], Đỗ Thị Kim Liên
[2005]… đã có những nghiên cứu rất thú vị về lập luận nói chung. Tuy nhiên, nghiên cứu
159

về sức mạnh lập luận của phản ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt vẫn là một địa hạt còn
cần phải tiếp tục nghiên cứu.
2. PHẢN NGỮ VÀ LẬP LUẬN
2.1. Phản ngữ: Khái niệm và phân loại
Tuy có một số điểm chưa thật thống nhất về phản ngữ nhưng Galperin [1971],
Đinh Trọng Lạc [1996], Cù Đình Tú [1883], Trần Ngọc Thêm [1999]… đều cho rằng
phản ngữ là phép tu từ trong đó người ta đặt trong cùng một chuỗi cú đoạn những khái
niệm hình ảnh ý nghĩa đối lập nhau được diễn đạt bằng những đơn vị lời nói khác nhau,
nhằm nêu bật bản chất của đối tượng được miêu tả nhờ thế đối lập tương phản [5:165].
Theo Trần Ngọc Thêm [8:105], nếu căn cứ vào đặc điểm của các phương tiện
dùng làm chủ tố và đối tố, có thể phân loại phản ngữ thành: đối bằng từ trái nghĩa, đối
bằng từ không trái nghĩa (đối lâm thời), đối bằng dạng phủ định và đối bằng dạng miêu
tả.
2.2. Lập luận: Khái niệm và phân loại
Đỗ Hữu Châu [3], Nguyễn Đức Dân [2], Đỗ Thị Kim Liên [6] cùng cho rằng lập
luận là “một hoạt động ngôn từ. Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lí lẽ
nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó: rút ra một (hay một số) kết
luận hay chấp nhận một (hay một số) kết luận nào đó” [2:165].
Theo Đỗ Hữu Châu, một lập luận gồm tiền đề (premise) và kết đề (conclusion)
[3:156].
+ Tiền đề (TĐ) là những khẳng định chứa chứng cứ hay lí lẽ để suy ra kết đề [7:14].
+ Kết đề (KĐ) là một khẳng định đích hay là một khẳng định mục tiêu [2:181]. Đỗ
Hữu Châu [3:166], Nguyễn Đức Dân [2:185], Đỗ Thị Kim Liên [6:147] phân lập
luận thành 2 loại: lập luận logic và lập luận đời thường.
+ Trong lập luận logic, quan hệ lập luận xảy ra giữa các mệnh đề [6:146]:
Hôm nay ai là người Việt Nam thì đến họp mặt ở câu lạc bộ này
Tôi là người Việt Nam.
Tôi đến họp mặt ở câu lạc bộ này.
Kết luận của lập luận logic là hệ quả tất yếu của 2 TĐ và của thao tác suy diễn.
Lập luận logic không có phản lập luận [3:166 -167].
+ Lập luận đời thường có TĐ là những "lẽ thường", những kinh nghiệm sống
[3:167] và mang đặc thù địa phương hay dân tộc [6:158]. Trong khi đó, chính trị
là “những hoạt động kết hợp với cai trị một quốc gia hay một khu vực” [14].
Chính vì lẽ đó, qua khảo sát sơ bộ, lập luận đời thường của phản ngữ có tần số
xuất hiện rất thấp trong các bài diễn văn chính trị. Và lẽ hiển nhiên đây cũng
không phải là mối quan tâm của bài báo này.
3. DIỄN GIẢI
Bài viết này dựa vào cách phân loại phản ngữ và lập luận của các tác giả trên để
khảo sát. Chúng tôi tiến hành khảo sát các bài diễn văn chính trị tiếng Anh (DVCTTA) và
diễn văn chính trị tiếng Việt (DVCTTV) từ những năm 1990 trở lại đây. 450 lập luận chứa
phản ngữ tiếng Anh và 450 lập luận chứa phản ngữ tiếng Việt được tìm thấy ngẫu nhiên
trong các bài diễn văn này sẽ được phân tích, thống kê tần số xuất hiện và giải thích để tìm
ra nét giống cũng như khác nhau về sức mạnh lập luận của phản ngữ giữa 2 ngôn ngữ.
160

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(25).2008
3.1. Lập luận logic có phản ngữ ở vị trí TĐ
3.1.1. TĐ 1 > <TĐ 2 →KĐ
TĐ 1: These acts of mass murder were intended to frighten our nation into chaos and retreat.
TĐ 2: But they have failed.
KĐ: Our country is strong. [14]
Phản ngữ ở hai TĐ thể hiện sự trái ngược giữa ý định và kết quả “These acts of
mass murder were intended to frighten our nation into chaos and retreat” >< “But they
have failed” là luận cứ vững chắc để rút ra KĐ “our country is strong”. KĐ dựa trên sự
trái ngược, đối lập giữa 2 TĐ làm cho lập luận trở nên chặt chẽ, có sức thuyết phục
mạnh mẽ và nhờ đó niềm tin của người nghe vào sự việc cũng tăng lên nhiều lần so với
việc chỉ đưa ra kết luận chung chung.
Cách lập luận này cũng được thể hiện trong các bài DVCTTV.
TĐ 1: Tổng thống Giôn –xơn nói nhiều về nền “độc lập” của miền Nam Việt Nam, miền
Nam “không bị sự can thiệp của nước ngoài, không bị sự ràng buộc bởi một khối liên
minh nào, không nhận một căn cứ quân sự của bất kì nước nào”.
TĐ 2: Nhưng hiện nay chính đế quốc Mỹ là kẻ đang cố sống cố chết bám lấy miền Nam
Việt Nam, đang tăng cường ngày càng nhiều đơn vị chiến đấu Mỹ vào miền Nam, và đang
đánh phá miền Bắc cũng chính là để cố bám lấy miền Nam.
KĐ: Rõ ràng như ban ngày, chính phủ Mỹ là kẻ xâm lược miền Nam mà còn trơ tráo vu
khống miền Bắc “xâm lược” miền Nam. [11]
Cách lập luận logic đối chọi nhau giữa 2 TĐ “nói nhiều về nền “độc lập” của
miền Nam Việt Nam” > <“đang cố sống có chết bám lấy miền Nam” để đưa ra KĐ
“chính phủ Mỹ là kẻ xâm lược miền Nam” là một chứng minh chặt chẽ thể hiện rõ bản
chất của “Mỹ”. Cách lập luận lột tả tính chất hai mặt của cùng một đối tượng đã giúp
người nghe cởi bỏ được những khúc mắc, thấy rõ bản chất, cốt lõi của vấn đề, của đối
tượng - bộ mặt thật của “Mỹ”.
Như vậy, nếu 2 TĐ chứa sự đối lập trong hành động của cùng 1 chủ thể - chính
phủ Mỹ - thì phần KĐ sẽ dựa trên hình ảnh phản ngữ để vạch trần, làm rõ chân tướng của
chủ thể đó. Nếu 2 TĐ chứa sự đối lập trong hành động của 2 chủ thể thì dựa trên hình ảnh
phản ngữ, tác giả sẽ dùng đối lập của bản thân chủ thể 1 - mass murder - để đi đến một
kết luận về tính đúng đắn của chủ thể thứ 2 - our country.
Khảo sát cho thấy lập luận chứa phản ngữ có KĐ cuối trong DVCTTV chiếm
54,34% lập luận chứa phản ngữ có KĐ trong khi đó trong DVCTTA, lập luận chứa phản
ngữ có KĐ cuối chiếm 22,7%.
Bảng 1: Kết quả phân bố của KĐ
Tồn tại KĐ KĐ đầu KĐ cuối Móc xích
Tiếng Anh 141 84 (59, 57%) 32 (22, 7%) 25 (17, 73%)
Tiếng Việt 392 143 (36, 48%) 213 (54, 34%) 36 (9, 18%)
Lập luận chứa phản ngữ có KĐ cuối chiếm tỉ lệ cao trong DVCTTV đã thể hiện
cách tiếp cận vấn đề của người Châu Á- gián tiếp, vòng vo và ý chính thường ở cuối phát
ngôn [4]. Cùng với Kaplan, Trần Ngọc Thêm cho rằng người Việt có “tư duy tổng hợp”
[9:24], “thích vòng vo, ưa tế nhị” [17] nên việc nêu bật sự trái ngược của các chủ thể
hoặc bản thân chủ thể rồi mới đi đến kết luận trong lập luận logic là điều hợp lý. Trái lại,
161

người Mỹ thiên về lối “tư duy phân tích” [9:25] nên KĐ thường trước 2 TĐ chứa phản
ngữ.
3.1.2. KĐ→TĐ 1> <TĐ 2
KĐ: But the hard truth is that not everyone is sharing in this city's splendor and glory.
TĐ 1: A shining city is perhaps all the President sees from the portico of the White
House and the veranda of his ranch, where everyone seems to be doing well.
TĐ 2: (But) there's another city; there's another part to the shining the city; the part
where some people can't pay their mortgages, and most young people can't afford one;
where students can't afford the education they need, and middle-class parents watch the
dreams they hold for their children evaporate.[14]
KĐ trước 2 TĐ chứa phản ngữ đã cung cấp cho người nghe thông tin tổng hợp
trước khi đi vào phân tích chi tiết. Đây là cách đề cập “trực tiếp” - một khuynh hướng
thường thấy của người Phương Tây [4]. Qua khảo sát (bảng 1), lập luận chứa phản ngữ có
KĐ đầu trong các DVCTTA chiếm 59,57% tổng số lập luận chứa phản ngữ có KĐ.
Ngoài lối tư duy phân tích, phương Tây thiên về “văn hóa lửa”, thích thẳng thắn, ưa
rạch ròi [17]. Với lập luận chứa phản ngữ có KĐ đứng đầu, tác giả muốn dùng đòn phủ đầu
“pre-emptive strike” để thuyết phục người nghe, chia sẻ quan điểm, tìm kiếm sự đồng tình
trước rồi đi sâu phân tích, chứng minh nêu bật sự khác nhau để làm mạnh hơn kết luận hay
quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, người Việt “ưa sự tế nhị, kín đáo hơn là sự rành mạch thô
bạo (cho dù có phải “vòng vo tam quốc”)” [9:316] nên cách đề cập “trực tiếp” bằng lập luận
logic với KĐ đứng trước TĐ trong các DVCTTV chiếm tỉ lệ thấp hơn (36,48%) so với các
DVCTTA (59,57%).
3.1.3. Lập luận logic có phản ngữ nằm trong cấu trúc móc xích:
TĐ 1+ KĐ 1, TĐ 2 + KĐ 2
> < > <
TĐ 1:Thế cách mạng của nhân dân ta tiếp tục đi lên,
KĐ 1: không một lực lượng phản động nào có thể ngăn nổi.
TĐ 2: Thế của địch đang trên đà đi xuống,
KĐ 2: dù chúng cố tìm trăm phương nghìn kế cũng không cứu vãn được. [12]
Như ta thấy, cách các câu đối được bố trí nêm vần thật chặt, những cặp hình ảnh
đối nhau chan chát, móc xích là hiện tượng thường thấy nên trong lập luận logic, ta cũng
bắt gặp phản ngữ nằm trong cấu trúc móc xích. Sự đối lập xen kẽ giữa “Thế cách mạng của
nhân dân ta tiếp tục đi lên” ><”Thế của địch đang trên đà đi xuống”, “không một lực
lượng phản động nào có thể ngăn nổi” ><“dù chúng cố tìm trăm phương nghìn kế cũng
không cứu vãn được” tạo cho người nghe niềm tin về sự lớn mạnh, khả quan của “cách
mạng”. Trong DVCTTA, ta cũng thấy sử dụng thủ pháp này.
TĐ 1: (I believe) if you obey the law,
KĐ 1: you should be protected.
TĐ 2: But if you break the law,
KĐ 2: you must pay for your crime. [14]
Sự trái ngược giữa 2 TĐ “if you obey the law” >< “if you break the law” cũng
như giữa KĐ 1 và KĐ 2 “you should be protected” ><“you must pay for your crime”
khiến người nghe thấy rõ cần phải lựa chọn như thế nào là đúng, là thích hợp. Phản ngữ
trong cấu trúc móc xích với vế đối vế, câu đối câu, cân đối cấu trúc giống như câu đối đã
162

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(25).2008
tạo nhịp điệu, sự chặt chẽ và tính logic cao cho lập luận, giúp người nghe dễ tiếp thu và
thấy rõ sự trái ngược của vấn đề một cách dễ dàng.
Qua khảo sát (bảng 1), ta thấy cấu trúc móc xích tồn tại trong lập luận chứa phản
ngữ trong DVCTTA chiếm 17,73% lập luận chứa KĐ so với 9,18% trong DVCTTV. Theo
Trần Ngọc Thêm, phương Tây có lối tư duy phân tích nên một tư tưởng được coi là khoa
học khi nó “được biện giải, lập luận một cách chặt chẽ, lý tính” [16:41]. Do đó, tính chặt
chẽ, logic cao rất được coi trọng để thuyết phục người nghe trong DVCTTA.
3.1.4. KĐ ẩn ( Ø KĐ + TĐ 1 > <TĐ 2)
Ngoài cấu trúc thông thường gồm TĐ và KĐ, lập luận logic sử dụng KĐ ẩn cũng
được sử dụng rộng rãi trong DVCTTA.
United, there is little we cannot do in a host of cooperative ventures. Divided, there
is little we can do-for we dare not meet a powerful challenge at odds and split asunder. [14]
Trong ví dụ này thì ta chỉ có 2 TĐ.
TĐ 1: United, there is little we cannot do in a host of cooperative ventures
TĐ 2: Divided, there is little we can do-for we dare not meet a powerful challenge at odds
and split asunder.
Kết hợp với cấu trúc đảo ngữ, phản ngữ trong hai TĐ đã tạo cho người nghe ấn
tượng mạnh, nhận biết ngay tính cấp thiết của vấn đề - “united” hay “divided”. Khi đã
hiểu, bị thuyết phục bởi những luận cứ chứa phản ngữ trong hai TĐ, người nghe sẽ tự rút
ra KĐ từ hai TĐ - phải “united”.
Dưới đây là tần số xuất hiện của KĐ ẩn thông qua kết quả khảo sát.
Bảng 2: Kết quả phân bố của KĐ và KĐ ẩn
Tồn tại KĐ KĐ ẩn
Tiếng Anh 141 (31,33%) 309 (68,67%)
Tiếng Việt 392 (87,11%) 58 (12,89%)
Khảo sát cho thấy KĐ ẩn chiếm tỉ lệ cao (68,67%) trong DVCTTA. Phương Tây
rất “coi trọng vai trò cá nhân”, muốn tự do lựa chọn, tự do theo đuổi chính kiến của mình
- chính là sự thể hiện “cái tôi”, “cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó” [18], không thích
phải theo sự chỉ huy của người khác nên để cho người nghe tự rút ra kết luận, tự tìm ra
giải pháp cho chính bản thân tạo ra hiệu quả tác động rất cao. Do đó, trong DVCTTA, lập
luận logic phần lớn sử dụng KĐ ẩn hay nói cách khác là KĐ được hiểu thông qua 2 TĐ.
Trong khi đó, các bài DVCTTV chịu ảnh hưởng tinh thần của bút pháp Hồ Chí Minh:
“viết và nói là làm cho người khác hiểu” [15]; đó là phải làm sao cho mọi tầng lớp nhân
dân lĩnh hội điều tác giả truyền tải. Vì vậy, lập luận trong DVCTTV phần lớn phải sử
dụng TĐ, KĐ rõ ràng (87,11%).
3.2. Lập luận logic có phản ngữ ở vị trí KĐ
Lập luận logic của phản ngữ không chỉ có cấu trúc phản ngữ nằm trong 2 TĐ mà
phản ngữ có thể ở trong KĐ.
TĐ 1: This is the question which must be answered in 1976: Are we to be one people bound together
by common spirit, sharing in a common endeavor; or will we become a divided nation?
TĐ 2: For all of its uncertainty, we cannot flee the future.
KĐ: We must not become the "New Puritans" and reject our society. We must address
and master the future together. [14]
163

