
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
231
TIÊU CỰC TRONG THI CỬ THỜI LÊ - TRỊNH (1592 - 1786)
NEGATIVE INFLUENCES OF EXAMINATIONS UNDER THE LE - TRINH DYNASTY
(1592 - 1768)
Lê Thị Thu Hiền
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Thi cử là một khâu trọng yếu trong quá trình giáo dục, là cách thức để đánh giá sản
phẩm của một nền giáo dục và là con đường chính để tuyển lựa bậc hiền tài ở bất kỳ thời đại
nào. Vào thời Lê sơ, học tập, thi cử Nho học phát triển rực rỡ và càng được chú trọng hơn khi
nhà nước phong kiến thiết lập bộ máy quan liêu hành chính và việc tuyển chọn quan lại dựa
trên chế độ tuyển lựa thi cử. Nhưng điều đó dần dần đưa đến một hệ quả tiêu cực khác, đó là
tạo nên tâm lý say sưa học hành khoa cử để tìm danh, tìm vị, tìm lợi. Đến thời Lê - Trịnh, thi cử
Nho học đã bộc lộ nhiều hạn chế, dẫn đến các hiện tượng tiêu cực ngày càng nhiều.
ABSTRACT
Examinations are essential factors in education. They are the main ways to evaluate the
products of education and select talented and righteous people in any epoch. The study and
examinations of confucianism under the Le-So period developed brilliantly and much attention
was paid when the feudal State established the administrative officialdom system and chose
government officials based on periodical examinations. However, this gradually generated
another negative corollary : the creation of an amorous psychology in learning and taking
examinations for honours, positions and benefits in society. Under the Le -Trinh reign, the
examinations of confucianism proved to have many limitations that led to increasing negative
phenomena in examinations.
1. Sơ lược về học tập và thi cử thời Lê - Trịnh
1.1. Về học tập
Tiếp tục sự nghiệp giáo dục thời Lê sơ và cả nhà Mạc, chính quyền Lê - Trịnh
vẫn duy trì hoạt động của Quốc Tử Giám và các trường học khác trong triều như Chiêu
văn quán, Tú lâm cục... Ở các địa phương, trường phủ cũng được tiếp tục mở. Các
trường được tăng cường cơ sở vật chất, đặc biệt là Quốc Tử Giám. Năm 1723, Lê Dụ
Tông và Trịnh Cương đã quy định việc cấp ruộng cho các trường Quốc học và hương
học ở các phủ.
Mặc dù kế thừa sự phát triển giáo dục của thời Lê sơ nhưng đến thế kỷ XVII -
XVIII, những hạn chế, yếu kém của nền giáo dục Nho học truyền thống bộc phát từ cuối
thời Lê sơ đã ngày càng rõ rệt và vô phương cứu chữa.
Tình trạng sa sút và yếu kém của sĩ tử trong học tập và thi cử là một trong những
nội dung chủ yếu được phản ánh trong các tờ khải của quan lại thời Lê - Trịnh. Khải 10

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
232
điều của Bùi Sĩ Tiêm, Kiến nghị về giáo dục, Vấn đề cốt yếu của giáo dục của Ngô Thì
Nhậm, Khải xin sửa đổi văn thể của Ngô Thì Sĩ, Lê Quý Đôn... đều cho chúng ta thấy
hiện trạng của một nền giáo dục đang xuống cấp, sự sút kém đạo đức của học trò, sĩ phu
và quan lại. Sự sút kém không chỉ ở mặt học lực, tri thức mà còn cả ở phẩm cách.
Nguyên nhân do các trường chăm dạy về văn học nhưng không chú trọng dạy về đức
hạnh. Chính vì không được dạy dỗ về đạo đức cho nên sản phẩm của nền giáo dục
đương thời là những người “lấy việc ngạo với bề trên cho là giỏi, nhờn với người lớn
cho là hay, không thích sửa mình mà thích bàn việc nước, không cầu thực học chỉ cầu
hư danh” [7].
Trước thực trạng trên, chúa Trịnh đã đưa ra một số chỉ dụ, chủ trương để chấn
chỉnh lại. Nhưng rốt cục những chủ trương, chính sách của Nhà nước cũng không thể
chấn hưng lại nền giáo dục đương thời.
1.2. Về thi cử
Nối tiếp truyền thống thi cử Nho học của các triều đại trước, triều Lê Trịnh tiếp
tục tổ chức các khoa thi tiến sĩ để tuyển chọn người tài vào bộ máy triều đình - phủ
chúa. Thống kê cho thấy tổng cộng chính quyền Lê - Trịnh đã tổ chức 65 khoa thi tiến
sĩ, lấy đỗ 727 người [2]. Ngoài ra, còn có một số khoa thi khác bổ sung cho khoa thi tiến
sĩ như Sĩ vọng (khoa thi chọn lấy những người có danh vọng trong sĩ phu), Hoành từ
(lời lẽ lớn lao), Đông các (khoa thi chọn người vào cơ quan Đông các)...
Đến thời Lê - Trịnh, các sĩ tử tham gia khoa thi tiến sĩ phải trải qua 3 kỳ thi
chính: Thi Hương, thi Hội, thi Đình. Ngoài ra, trước khi thi Hương, sĩ tử còn phải tham
dự một kỳ khảo hạch: là kì thi sát hạch trình độ học vấn của thí sinh, bên cạnh điều kiện
lý lịch và đạo đức để xét cho thi Hương. Ở thời Lê - Trịnh, tùy từng thời điểm mà Nhà
nước áp dụng một trong hai phép thi khảo hạch là phép tứ trường hay phép sảo thông.
Đối với những người thi đỗ, có tên trong bảng vàng, chính quyền Lê - Trịnh
giành rất nhiều ưu đãi, không những giữ nguyên các ân điển thời Lê sơ mà còn đặt thêm
một số đãi ngộ khác. Tuy nhiên cũng giống như việc học, việc thi cử Nho học ở thời Lê
- Trịnh đã sa sút rất nhiều so với giai đoạn trước. Đi cùng với sự phát triển của kinh tế
hàng hóa là quá trình lên ngôi của đồng tiền kéo theo sự suy thoái đạo đức đã ảnh
hưởng tiêu cực đến thi cử. Người ta sử dụng tiền để lũng đoạn trường thi: Làm văn bài
để bán, nhờ người làm bài thay, hối lộ quan trường, nộp tiền khỏi thi khảo hạch... Mục
đích học tập của kẻ sĩ cũng thay đổi: Học rồi thi không phải để ra làm quan đem tài học
giúp dân, giúp nước mà ra làm quan để kiếm tiền, làm giàu.
Tình trạng sa sút và yếu kém của sĩ tử trong thi cử cũng là một nội dung quan
trọng được đề cập đến trong các tờ khải của quan lại thời Lê - Trịnh. Học hành và thi cử
lèm nhèm, hình thức đưa đến một hậu quả không thể tránh khỏi là “những người học
kém trà trộn được đỗ, người có học thường bị hỏng”, “khoa cử bị lạm dụng mà lối thực
học của học trò bị bãi bỏ”, “văn thể càng thấp hèn, người tài ngày càng sút kém” [7].

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
233
2. Các hiện tượng tiêu cực trong thi cử thời Lê - Trịnh
2.1. Ở kỳ khảo hạch
Nhà Lê - Trịnh theo nhà Lê sơ, tiếp tục phép thi tứ trường trong kỳ khảo hạch.
Nếu như ở thời Lê sơ, khảo hạch có tác dụng đáng kể trong việc loại bớt những kẻ học
lực yếu kém, giúp cho kì thi Hương đỡ nặng nề và khó khăn thì ở thời Lê - Trịnh, việc
khảo hạch dường như đã không còn phát huy vai trò của mình bởi sự nhũng nhiễu của
đội ngũ quan trường và sự gian trá của những người đi thi.
Theo ghi chép của Đại Việt sử ký tục biên, Lịch triều hiến chương loại chí,
Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều tạp kỷ, thi khảo hạch thời kỳ này
xuất hiện các trường hợp tiêu cực sau:
- Gian lận trong khảo hạch như ở kỳ khảo hạch năm Dương Đức thứ 2 (1673),
tham chính Sơn Tây Lê Chí Đạo làm thất thực trong việc thi khảo các sĩ tử. Cụ thể là
trong trường thi, đem quyển nào không trúng cách cũng cứ nêu tên vào bảng thi đỗ; lại
cho nhiều người sĩ tử gà văn bốn kỳ cho người đi thi.
- Quan trường ức hiếp sĩ tử để lấy tiền bạc, như trường hợp của Tham chính
Nghệ An Lương Khoái vào năm Dương Đức thứ 2 (1674).
- Khảo hạch không chính xác, như vào năm Chính Hòa thứ 17 (1696), trước khi
thi Hương các quan viên chấm thi kiểm tra lại các thí sinh tứ trường do hai ty khảo
hạch, kết quả là thí sinh ở các trường thi Thanh, Nghệ, Sơn Tây, Phụng Thiên bị đánh
hỏng rất nhiều.
- Năm Cảnh Hưng thứ 11 (1750), theo lời Thự phủ Đỗ Thế Giai, chúa Trịnh hạ
lệnh cho nộp tiền thông kinh sẽ được miễn khảo hạch mà vào thi Hương. Chính sách
này đã tạo điều kiện cho các tiêu cực ngày càng nhiều hơn, công khai hơn. Khâm định
Việt sử thông giám cương mục viết: “Từ lúc có thể lệ nộp tiền để đi thi, học trò quen
thói đua nhau chạy chọt, quan trường lại coi thường kỷ luật, làm sự gửi gắp công khai,
người thi đỗ phần nhiều không phải thực học” [6]
- Quan trường nhận tiền, tự ý cho đỗ hay rớt như năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765),
hai ty khảo duyệt học trò, phần nhiều theo ý riêng mà lấy đỗ hay bỏ. Số tiền ngoài tiền
thông kinh bị thu lại, nộp vào quỹ công.
- Quan trường khảo hạch không công bằng, như khảo hạch ở xứ Nghệ An năm
Cảnh Hưng thứ 32 (1771).
- Quan trường chấm không đúng trong việc chấm lại những người kêu tị (xin xét
lại) vì không đỗ khảo hạch, như năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774) triều đình biết có cái tệ
là Thừa hiến và Phủ doãn khi khảo lại những học trò kêu tị, văn lý hơi thông thì đều cho
đỗ cả, hơi kém thì đều đánh hỏng cả, do đó học trò chẳng kêu tị mà phép khảo cũng
không thi hành nữa nên lệnh phải hạch lại. Kết quả là thấy văn lý của học trò kẻ hay
người dở thật khác xa nhau, mà lấy đỗ đánh hỏng lộn xộn không đúng.
Nhìn chung, tiêu cực trong thi khảo hạch chủ yếu là từ phía quan trường do chấm
bài thi không đúng, tự tiện lấy đỗ theo ý mình và hạch sách thí sinh để lấy thêm tiền.

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
234
* Ở cấp thi Hương
Thi Hương là cấp thi chính thức đầu tiên trong khoa thi tiến sĩ. Người thi Hương
đỗ tứ trường gọi là Hương cống, đỗ tam trường gọi là sinh đồ. Những ưu đãi của nhà
nước Lê - Trịnh giành cho những người đỗ thi Hương, một mặt là sự khích lệ các sĩ tử
ra sức đua tài, mặt khác cũng dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh trong thi Hương ở
thời kỳ này. Qua các nguồn sử liệu, chúng tôi lập ra được bảng 1.
Bảng 1. Các hiện tượng tiêu cực trong thi Hương
Stt Thời gian Hiện tượng
1 Năm Cảnh Trị thứ 2
(1664)
Học trò đi thi mang sách vào trường thi
2 Năm Dương Đức thứ 2
(1673)
Tham chính Thanh Hoa Vũ Cầu Hối nhận hối lộ, gửi gắm
học trò làm kỳ đệ tứ
3 Nt Phủ doãn phủ Phụng Thiên Ngô Sách Dụ làm việc trong
trường thi mang giấu sách vào trường, ngầm sai gia nhân
làm thay quyển thi đưa lẫn vào chấm lấy đỗ xoay lấy tiền
của
4 Năm Chính Hòa thứ 8
(1687)
Nha môn hai ty Thừa, Hiến hạch sách tiền của của người
đã đỗ tam trường, tứ trường
5 Năm Chính Hòa thứ 17
(1696)
Ngô Sách Tuân đưa quyển thi của con Lê Hy cho khảo
quan chấm lấy đỗ. Đề điệu Ngô Hải biết nhưng không nói.
6 Năm V
ĩ
nh Thịnh thứ 7
(1711)
Sĩ tử lén đem sách và văn cũ vào trường thi hoặc nhờ
người khác gà văn, bán “sách mẫu” cho nhau; người chấm
thì tùy ý phê duyệt lấy đỗ
7 Năm Vĩnh Thịnh thứ
13 (1717)
Giám thị trường Phụng Thiên bí mật làm sẵn bài gà cho s
ĩ
tử
8 Năm Vĩnh Thịnh thứ
16 (1720)
Tệ nạn riêng tư, gửi gắm ở hai kỳ đệ tam, đệ tứ
9 Năm Bảo Thái thứ 7
(1726)
Nhiều sĩ tử nhờ người khác gà văn cho mà đỗ; con em nhà
quyền thế phần nhiều thi gian dối
1743 Sĩ tử đốt phá trường thi Nghệ An
10 Năm Cảnh Hưng thứ
12 (1751)
Các viên đề điệu, giám khảo, khảo thí ở các trường đều coi
thường pháp luật, công nhiên nhờ cậy nhau lấy đỗ
11 Năm Cảnh Hưng thứ
20 (1759)
Giám sát ngự sử Nguyễn Đình Ngọc làm giám khảo
trường thi Phụng Thiên, vì làm gian, bị quan trường tố cáo

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
235
12 Năm Cảnh Hưng thứ
24 (1763)
Đề điệu trường thi Nghệ An ăn hối lộ, ẩn giấu hơn 1000
quan tiền
13 Năm Cảnh Hưng thứ
29 (1768)
Có người tố cáo trường Nghệ An có Nguyễn Công Cơ thi
gian
14 Năm Cảnh Hưng thứ
38 (1777)
Có gian lận trong thi cử
(Nguồn: Đại Việt sử ký tục biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều tạp kỷ,
Lịch triều hiến chương loại chí)
Từ bảng 1, xét một cách tổng quát, chúng ta có thể thấy các tượng tiêu cực phổ
biến trong thi Hương bao gồm: Sĩ tử giấu sách mang vào trường thi; sĩ tử gà văn cho
nhau; quan trường gà văn cho sĩ tử; quan trường nhận hối lộ để giúp đỡ người đi thi;
quan trường chấm bài tùy tiện, không đúng sự thực; hiện tượng gửi gắm trong thi cử,
quan trường nhờ cậy nhau lấy đỗ.
2.3. Ở cấp thi Hội
Có thể nói thi Hội là kỳ thi quan trọng nhất trong khoa thi tiến sĩ vì thí sinh sau
khi đỗ thi Hội chỉ cần tham dự thi Đình sẽ được công nhận danh hiệu tiến sĩ (dù văn bài
chỉ làm tạm được) bởi đã có lệ “Đình thí bất truất” (thi Đình không bị trượt). Nói cách
khác, đỗ thi Hội đồng nghĩa với việc đỗ thi Đình. Do thi Hội quan trọng như thế nên
người ta lại càng cố gắng tìm mọi cách để đỗ và vì vậy, tiêu cực trong thi Hội vẫn tiếp
diễn. Chúng ta có thể thấy những tồn tại này thông qua các nguồn sử liệu như sau:
Bảng 2. Các hiện tượng tiêu cực trong thi Hội
Stt Thời gian Hiện tượng
1 Năm Đức Long thứ 3
(1631)
Nguyễn Văn Quang thiếu điểm mà vẫn trúng tuyển
2 Năm Cảnh Hưng thứ 9
(1748)
Vũ Miên may mắn mà thi đỗ chứ không phải do thực học
3 Năm Cảnh Hưng thứ
16 (1755)
Người hầu đề là Nguyễn Công Khuê cho đầu đề cũ trong
khi đã có quy định phải thay đổi văn thể
4 Năm Cảnh Hưng thứ
27 (1766)
Khảo quan vì ghen ghét nên cố ý đánh hỏng quyển văn
của Ngô Thì Sĩ
5 Năm Cảnh Hưng thứ
30 (1769)
Ngô Duy Viên, Nguyễn Trọng Đang vì biết trước đề thi,
làm sẵn đề thi nên đỗ đại khoa
6 Năm Cảnh Hưng thứ
33 (1772)
Nguyễn Quýnh may mắn mà thi đỗ chứ không phải do
thực học

