intTypePromotion=1
ADSENSE

Báo cáo: ngoại giao của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 - 1975

Chia sẻ: Bui Thanh Quan | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:19

451
lượt xem
161
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việt Nam ta là quốc gia văn hiến có một nền lịch sử ngoại giao lâu đời và phong phú. Trong đó nổi bật nhất là nền ngoại giao trong giai đoạn nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ CHí Minh lãnh đạo , nay là cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo: ngoại giao của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 - 1975

  1. Đề tài Ngoại giao can Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954-1975. Trang 1
  2. MỤC LỤC trang I.GIỚ I THIỆU……………………………………………………..2 II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH Đ ƯỜNG LỐI ĐỐ I NGOẠI, NGOẠI GIAO Bố i cảnh lịch sử đầu những năm1954: ……………...…….3 Tình hình quốc tế……………………………………..…….4 Chủ trương của Đảng……………………………….………7 Chủ trương của Đảng………………………………….……8 Quá trình hình thành đường lối đối ngoại…………..…..…8 Ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa anh em………16 III.K ẾT LU ẬN…………………………………………………..….18 Trang 2
  3. I.GIỚ I THIỆU Việt Nam ta là quốc gia văn hiến có một nền lịch sử ngoại giao lâu đời và phong phú. Trong đó nổi bật nhất là nền ngoại giao trong giai đoạ n nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ C Hí Minh lãnh đạo , nay là cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.lịch sử nước ta đã trả i qua biết bao nhiêu lầ n kháng chiến chống quân xâm, lược ngoạ i bang, từ chống quân Tống thời Lý Thường Kiệt, chống quân xâm lược Nguyên Mông thời trầ n và mới đây chưa đầy nửa thế kỉ, chúng ta lạ i phải đương đầ u với thế lực phương tây vô cùng hung mạnh, đặc biệt là Mỹ, một nước đế quốc hùng mạ nh cả về kinh tế lẫn quân sự trên thế giới. Nhưng chính nghĩa luôn luôn dành thắ ng lợi, bằng lòng yêu nước truyề n thống từ trước tới nay c ủa ông cha ta, sự dẫn dắt c ủa các nhà lãnh đạo kiệt xuất, sự đoàn kết một lòng can nhân dân ta, sự ngoạ i giao tài tình,… đã dần dầ n đẩ y lùi bước xâm lăng kẻ thù ra khỏi bờ cõi . Trong nội dung c ủa bài tiể u luậ n này chúng ta sẽ tìm hiểu về cuộc kháng chiến c ủa nhân dân ta bằng sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam tiế n tới giả i phóng hoàn toàn đất nước khỏi tay đế quốc Mỹ xâm lược giai đoạn từ 1954-1975. Tháng 7 năm 1954,sau hiệp định Gionevo,đất nước ta bị chia cắt ra thành 2 miền: miền Bắc, hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ q uá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong lúc đó Mỹ đặt chân vào Miền Nam chiế m đóng, âm mưu biến khu vực này thành căn cứ quân sự lâu dài. Do mới kết thúc chiến sự, nên tình hình thế giới lúc này đang có nhiề u diễ n biế n phức tạp, xu thế hòa hoãn giữa các nước lớn, gây cho chúng ta nhiều khó khăn. Trong tình hình đó , đảng ta đã đề ra những sách lược đúng đắ n, phát huy tinh thần độc lập tự cường dân tộc. lịch sử nước ta giai đoạn này đã chứng kiế n quá trình nhận thức yêu cầ u của lịch sử, hình thành về cơ bản đườ ng lối đối ngoại c ủa đảng ta, đồng thời từng bước triển khai thực hiện đường lối đó, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế nhằ m phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miề n Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ ở miền Nam. Trang 3
  4. Chính trong quá trình này đã hình thành đường lối ,sách lược đúng đắn của đả ng, những kinh nghiệ m quý báu, tạo tiề n đề và là cơ sở vững chắc cho mặt trận ngoạ i giao sau này. II.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠ I, NGOẠI GIAO Bố i cảnh lịch sử đầu những năm1954: Bối cả nh trong nước. Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương được ký kết đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đố i với ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. sau hiệp đ ịnh c húng ta đã thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoả n quy định về đình chiế n, tập kết chuyể n quân và chuyển giao khu vực. Nhưng phía Pháp chỉ thực hiện khi có những đấu tranh mạnh mẽ và kiên quyết của nhân dân ta. Ngày 10-10-1954, quân Pháp rút khỏi Hà Nội. Cùng ngày, quân ta tiến vào tiếp quả n. Thủ đô Hà Nội. Ngày 1-1-1955, tại quảng trường Ba Đình lịch sử đã diễn ra cuộc mít tinh trọng thể c ủa hàng chục vạn nhân dân Hà Nội chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ C hí Minh về Thủ đô. Khi rút quân, Pháp mang theo hoặc trước đó đã phá hỏ ng nhiều máy móc, thiết bị, tài sản để gây khó khăn cho ta. Pháp còn cùng với Mỹ và Ngô Đình Diệ m chỉ đạo bọn phản động tiến hành dụ dỗ, cưỡng ép nhiều đồng bào công giáo vào Nam để thực hiện ý đồ chống phá cách mạ ng về sau. Trong khi đó, ở miề n Nam, thực dân Pháp cũng có những hành động phá hoạ i Hiệp định mới được ký kết. Quân Pháp rút toàn bộ k hỏi miền Nam Việt Nam khi còn nhiều điều khoả n Hiệp định có liên quan đế n trách nhiệ m của họ chưa được thi hành, trong đó có điề u khoản về việc tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử hai miền Bắc-Nam Việt Nam. Pháp trút bỏ trách nhiệm thi hành những điều khoản còn lại của Hiệp định cho Mỹ-Diệ m, người kế tục chúng ở miền Nam. Đế quốc Mỹ ra sức thực hiệ n ý đồ đã vạch ra từ trước nhằ m độc chiếm miề n Nam Việt Nam, tiến tới độc chiế m toàn Đông Dương. Trang 4
  5. Tháng 9-1954, Mỹ lôi kéo được một số đồng minh như Pháp, Anh... và một số nước Đông Nam Á lập ra khối "Liên minh quân sự Đông - Nam Á" (SEATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này. Đưa được tay sai lên nắ m chính quyề n ở miền Nam Việt Nam, gạt hết quân Pháp và tay sai của chúng ra khỏi miề n Nam, Mỹ đã thực hiện được bước đầ u ý đồ độc chiế m miề n Nam Việt Nam. Chính quyề n Ngô Đình Diệm, với sự giúp đỡ và có sự chỉ đạo của Mỹ, ra sức phá hoạ i Hiệp đ ịnh Giơnevơ, từ c hối hiệp thương với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộ ng hoà về việc tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất Việt Nam trong thời hạn hai năm theo điều khoản c ủa Hiệp định. Đến hạ n hai năm, tháng 7-1956, Diệ m tuyên bố. "Sẽ không có hiệp thương tổng tuyể n c ử, vì chúng ta không ký Hiệp định Giơnevơ, bất cứ phương diện nào chúng ta cũng không bị ràng buộc bởi Hiệp định đó". Bằ ng một loạt hành độ ng trái với hiệ p định, như bầy trò "trưng cầu dân ý" để phế truất Bảo Đại rồ i suy tôn Ngô Đình Diệ m làm Tổng thống (tháng 10-1955), tổ chức bầ u cử riêng rẽ, lập quốc hội lập hiến (tháng 5 -1956), ban hành hiến pháp của cái gọ i là "Việt Nam cộng hoà" (tháng 10-1956), Diệ m đã trắng trợn từ c hối và phá hoại việc thống nhất Việt Nam. Cùng với sự giúp đỡ dưới hình thức "viện trợ" quân sự, chính trị, kinh tế, miền Nam Việt Nam được xây dựng thành căn cứ quân sự, thành cơ sở kinh tế thực dân kiể u mới của Mỹ. Tất cả việc làm trên c ủa Mỹ - Diệ m không ngoài mục đích tách hẳn một phần lãnh thổ của Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để lập ra một quốc gia riêng biệt, thậ m chí là một phần lãnh thổ của nước Mỹ. Tháng 5-1957, Ngô Đình Diệ m tuyên bố tại Washington "Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyế n 17 " . Tình hình quốc tế. Chủ nghĩa xã hội thời kì này liên tục phát triể n mạ nh.chủ nghĩa xã hội nhanh chóng lan rộng từ C hâu Âu sang Châu Á. Liên Xô là một nước đi đầ u trong các nước xã hội chủ nghĩa càng phát triển mạnh hơn trước nữa. Năm 1955, Liên Xô đã hoàn thành kế hoạch 5 năm lầ n thứ năm (1950 -1955) trước thời hạn. Tổ ng Trang 5
  6. sản lượng công nghiệp tăng mạ nh so với lúc trước chiến tranh.N gành nông nghiệp c ũng có những bước phát triển đáng kể, mạng lưới giao thông được mở rộng, việc Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo tạo nên uy tín mạnh. Các nước đồng minh c ủa Liên Xô ở Đông Âu cũng được Liên Xô giúp sức và ra sức phát triể n kinh tế, nề n kinh tế ở các nước này cũng có những chuyển biến tích c ực rõ rệt.Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa cũng có nhiề u phát triển vượt bậc, từ một nước nông nghiệp ngèo nàn , kém phát triển đã tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội . phong trào giả i phóng dân tộc có những bước phát triể n mới, bao trùm các nước Trung Đông, lan nhanh sang Châu Phi và Mỹ Latinh, làm tan rã từng mả ng hệ thống thuộc địa, đưa nhiều quốc gia bước vào thời kỳ độc lập về chính trị, thoát khỏ i tình trạng lệ thuộc về k inh tế . Tháng 4-1955, Hội nghị Băngđung được triệu tập với sự tham gia c ủa 29 nước Á, Phi. Hội nghị đã đánh dấ u việc các nước Á, Phi quyết định bước lên vũ đài lịch s ử, đoàn kết với nhau từ những phong trào lẻ tẻ, tách rời, liên kết với nhau trong mộ t mặt trận thống nhất c ủa các dân tộc b ị áp bức chố ng chủ nghĩa đế quốc thực dân. Sau Hội nghị Băngđung, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ như vũ bão, nhiều nước Á, Phi, Mỹ Latinh giành độc lập ở mức độ khác nhau. Chiến thắng Điệ n Biên Phủ đã gợi lên cho nhân dân, trước hết là các lực lượng cách mạng ở các nước châu Phi những suy nghĩ mới về đường lối và phương pháp đấ u tranh chống chủ nghĩa thực dân. Tháng 8-1954, Đảng Cộng sản Marốc ra tuyên bố đòi chính phủ Pháp phải chấ m dứt các hành động đàn áp, khủng bố những người yêu nước, phải thả tù chính trị. Theo kinh nghiệm của nhân dân Việt Nam, nhân dân Marốc đã cầm vũ khí, kiên trì cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ở các nước châu Phi khác như: Tuynidi, Angiêri, Mali... phong trào đấu tranh giành độc lập cũng phát triển mạnh mẽ với khí thế sôi nổi. Điể n hình là phong trào giải phóng ở Angiêri. Mặt trận giả i phóng dân tộc Angiêri ra đời được sự hưởng ứng c ủa phần lớn các đảng phái và tổ c hức yêu nước, đạ i diện cho các giai cấp công nhân, nông dân, tư sản dân tộc, tiểu tư sả n, và các tầng lớp khác trong xã hội. Cuộc chiến đấu của nhân dân Angiêri bắt đầ u Trang 6
  7. nổ ra ngày 1-11-1954 và được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới... Tiếp đó, năm 1956, 3 nước Bắc Phi: Tuynidi, Marốc, Xuđăng giành độc lập. Tháng 3 -1957, nước cộng hoà Gana ra đời, mở đầ u thời kỳ vùng dậy của các nước Tây Phi, để rồi đế n năm 1960 - có 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập và đi vào lịch sử với tên gọi “Năm Châu Phi”. Châu Á - đối tượng xâm lược của các đế quốc châu Âu và Bắc M ỹ từ hàng trăm năm, cuộc đấ u tranh của nhân dân các dân tộc ở đây được tiếp thêm sức mạ nh rõ rệt, đặc biệt là ở Đông Dương, sự đoàn kết gắn bó giữa nhân dân ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia càng thêm chặt chẽ, để chuẩn bị đối phó với những thủ đoạn xâm lược kiểu thực dân mới mà đế quốc M ỹ đang triể n khai tích cực. Đặc biệt, ngày 1-1-1959, cách mạ ng Cuba giành thắ ng lợi và tháng 5/1960, Chính phủ Cuba tuyên bố gia nhập hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, bất chấp sự ngăn chặ n thù đ ịch c ủa Mỹ. Cách mạng Cuba thành công trên một đất nước nằ m ngay ở cửa ngõ nước Mỹ đ ã xua tan ấ n tượng về s ức mạ nh c ủa bọn tư bản thống trị, c ủng cố lòng tin vào sức mạnh c ủa quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân các nước M ỹ Latinh càng giác ngộ về nhiệm vụ đấu tranh giành quyền số ng và độc lập tự do cho dân tộc mình. Cuba đã trở thành ngọn cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc ở Mỹ Latinh. Bằng việc công nhậ n hàng loạt các nước Á, Phi, M ỹ Latinh giành độc lập, các nước đế quốc phương Tây phả i thừa nhậ n sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giớ i. Thêm vào đó là sự phát triển mạnh mẽ của phong trào vì hoà bình dân chủ và tiế n bộ của giai cấp công nhân ở các nước tư bả n. “Nếu phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa có tác d ụng đánh phá các hậu phương của chủ nghĩa đế quốc thì phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở chính quốc có tác dụng công phá vào sào huyệt của CNTB.Sau chiến thắng Điệ n Biên Phủ ở V iệt Nam, cuộc đấu tranh giữa các lực lượng dân chủ với các lực lượng phả n động ở các nước tư bản ngày càng phát triển với quy mô rộ ng lớn, phong phú và linh hoạt. Ở Pháp, Italia, nhiều cuộc đấ u tranh để bảo vệ chế độ dân chủ, chố ng chế độ p hản động của nề n chuyên chế cá nhân cũng phát triển bằng nhiều hình thức. Trang 7
  8. Ở nhiều nước Mỹ Latinh, giai cấp cầm quyền vẫ n tiếp tục đi theo con đường cai trị của thực dân Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha đã bị lật đổ, làm cho đời sống nhân dân vẫn chịu cảnh cơ cực, xã hội càng suy thoái. Lạ m phát, nợ nầ n, đói rách là những vấn đề nhức nhối kéo dài mà chính quyền không giả i quyết được. Nhân dân đã nổi dậ y lật đổ chính quyền ở nhiề u nước. Ở Châu Á, cuộc đấu tranh c ủa nhân dân lao động chống sự hà khắc c ủa chính quyền tư sản cũng không kém phần sôi nổi, quyết liệt. Chủ trương của Đảng Trong tình hình đất nước tạm thời b ị chia cắt thành hai miền, Đảng và Chính phủ đề ra cho cách mạng mỗi miền những nhiệ m vụ chiế n lược phù hợp với đặc điểm tình hình và yêu cầu của cách mạng từng miền, nhằ m chấm dứt tình trạ ng đất nước b ị chia cắt. Ở miền Bắc, sau khi kháng chiến chố ng Pháp kết thúc, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân căn bản hoàn thành, Đảng chủ trương chuyển sang xây dựng chủ nghĩa xã hộ i. Trước khi bắt đầ u những nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc phải trải qua giai đoạn đấu tranh đòi phía Pháp thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, tiếp quả n vùng mớ i giải phóng, hoàn thành cả i cách ruộng đất, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế. Trong quá trình này, Mỹ đã mở rộng hoạt động ném bom bắn phá, nên miề n Bắc phả i kết hợp cả với cuộc chiế n đấu chống chiế n tranh phá hoại, nhằm bảo vệ miền Bắc và phối hợp với cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam. Xây dựng chủ nghĩa xã hội còn nhằm xây dựng miề n Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước và là hậu phương cho cuộc kháng chiến chống M ỹ, cứu nước của toàn dân tộc. Ở miền Nam, do vẫn còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Đảng chủ trương tiếp tục cuộc cách mạ ng dân tộc dân chủ nhân dân. Mở đầu thời k ỳ ta đấu tranh đòi Mỹ-Diệm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam. Trong quá trình diễn biến, cuộc cách mạ ng dân tộc dân chủ nhân dân phát triể n thành cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng dân tộc chố ng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, nhằm giải phóng Trang 8
  9. miề n Nam, bảo vệ miền Bắc, phối hợp với cuộc chiến đấu của nhân dân hai nước Lào và Campuchia... Hai miề n đồ ng thờ i thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng cả nước là đánh Mỹ và bọn tay sai của chúng, giả i phóng miề n Nam, bảo vệ miề n Bắc, hoàn thành cách mạ ng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất đất nước, tạo điề u kiệ n để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới. Trong việc thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng cả nước, cách mạng mỗi miền có vị trí và vai trò khác nhau. Miền Bắc là hậu phương nên nó có vai trò quyết định nhấ t đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng cả nước và sự nghiệp thống nhất đất nước. Miền Nam là tiề n tuyến nên nó có vai trò quyết đ ịnh trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hậ u phương và tiề n tuyến, cách mạng hai miền Bắc-Nam, do đó, có quan hệ gắn bó với nhau, phối hợp vớ i nhau, tác động qua lại và thúc đẩy lẫ n nhau, tạo điề u kiệ n cho nhau phát triể n. Quá trình hình thành đường lối đối ngoại. Yêu cầu bức thiết đặt ra đối với đảng lúc này là phải đề ra được đường lối và sách lược đúng đắn, vừa phả i phù hợp với mỗi miền vừa phù hợp với xu thế chung c ủa thời đại. 7-1954 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp hội nghị lần thứ 6 đánh giá sự chuyển biến tình hình và vạch ra nhiệm vụ mới, quyết định chủ trương, phương châm, sách lược đấu tranh của cách mạng Việt Nam. Tại hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định “Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính c ủa nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Đông Dương’’.với khẩu hiệu đấu tranh “Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”. Những chuyển hướng của hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 tuy mới vạch ra những nét chung nhất song nó có ý nghĩa quan trọng đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Trang 9
  10. Tuy chúng ta giành thắng lợi ở hiệp định Giownevo nhưng Mỹ vẫn không từ bỏ ý định độc chiếm Đông D ương. Âm mưu chia cắt đất nước, bành trướng thế lực ra toàn đông dương. Sau 2 tháng, ngày 5-9-1954, Ban Chấp hành Trung ương Đả ng đã họp Hộ i nghị bổ sung và cụ thể hoá Nghị quyết Hội nghị lầ n thứ 6 của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị chỉ rõ 5 đặc điể m của cách mạng Việt Nam từ sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, trong đó, 2 đặc điểm lớn ảnh hưởng đến đường lối, chủ trương cách mạ ng của nước ta là Việt Nam đang trong giai đoạn “từ chiế n tranh chuyển sang hoà bình” và “Nam Bắc tạ m thời phân làm 2 vùng”. Vì vậ y, nhiệm vụ c hung của Đảng là “đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đề phòng và khắc phục mọi âm mưu phá hoạ i Hiệp định đ ình chiến để củng cố hoà bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để c ủng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, đặ ng củng cố hoà bình, thực hiệ n thống nhấ t, hoàn thành độc lập dân tộc, dân chủ trong toàn quốc”. Hội nghị xác định nhiệm vụ cụ thể của cách mạng miền Nam “lãnh đạo nhân dân miề n Nam thực hiện Hiệp đ ịnh đình chiế n, củng cố hoà bình, thực hiệ n tự do dân chủ (tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do đi lạ i...), cải thiệ n dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độc lập. Đồ ng thời, phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống hoạt động khủng bố, đàn áp, phá cơ sở của ta, bắt bớ cán bộ ta và quần chúng cách mạ ng, chống những hoạt động tiến công của địch, nguỵ, giữ lấy quyề n lợi quầ n chúng đã giành được trong thời kỳ k háng chiế n, nhất là ở những vùng căn cứ địa và vùng du kích cũ c ủa ta” với phương châm đấu tranh: Kết hợp công tác hợp pháp và công tác không hợp pháp, lợi dụng các hình thức tổ chức hoạt độ ng hợp pháp để tập hợp và lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Như vậy, lúc này chúng ta phải chủ trương tạm thời giữ cách mạ ng miề n Nam ở thế giữ gìn lực lượng. Điề u đó có nghĩa là: Trong hoàn cả nh hiện tại cần phả i hết sức bình tĩnh để phân tích tình hình, trên cơ sở những phân tích khoa học trước yêu cầ u của thực tiễ n mới có thể có được đối sách thích hợp. Cuộc Trang 10
  11. đấu tranh ở Việt Nam đến thời điể m đó đã không còn mang ý nghĩa đơn thuầ n của một cuộc chiế n tranh cục bộ nữa mà ngày càng có ý nghĩa c ủa sự đối đầu mang tính chất quốc tế. Chính vì vậy mà Việt Nam đã và đang trở thành điể m nhạ y cả m trong quan hệ của các nước, đặc biệt là của các cường quốc. Những khó khăn trong nước cùng với những điều kiện bất lợi khác c ủa tình hình cách mạ ng trên thế giới lúc này chưa thể c ho phép Đảng ta phát động một cuộc chiến tranh mới để thống nhất đất nước. Tuy nhiên, giữ gìn lực lượng không có nghĩa là thủ tiêu đấu tranh, mà vẫn tiế n hành đấu tranh liên tục trong khuôn khổ của Hiệp định Giơnevơ đã được ký kết. Theo đó thì hình thức đấ u tranh chính trị là chủ yế u nhằ m duy trì và củng cố lực lượng cách mạng. Hộ i nghị Giơnevơ đã làm cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thêm những khả năng mới để mở rộng quan hệ với nước ngoài. Để cụ thể hoá những nhiệ m vụ c hung đó, Bộ C hính trị ra bản chỉ thị về tình hình và nhiệ m vụ công tác mới cho Đảng bộ miề n Nam, trong đó có công tác ngoại giao và chính sách đối ngoạ i. Chỉ thị k hẳng định “Chính sách ngoạ i giao của ta là xây dựng và phát triển quan hệ ngoạ i giao với bất cứ nước nào dựa theo nguyên tắc bình đẳ ng, hai bên đều có lợi và tôn trọng lãnh thổ, chủ quyền c ủa nhau. Phương châm chính sách ngoạ i giao của ta là chống chính sách chiế n tranh của đế q uốc Mỹ, chố ng Mỹ tổ chức khối xâm lược Đông Nam Á, củng cố hoà bình ở Đ ông Dương và bảo vệ hoà bình Đông Nam Á và toàn thế giới”. Trên cơ sở phương châm đó, “mối quan hệ giữa Việt Nam dân chủ Cộng hoà với nước Pháp cần tiếp tục dùng hình thức thương lượng và đàm phán để điề u chỉnh, tránh quá găng để đế n nỗi tan v ỡ. Đồng thờ i, nên “mở rộng quan hệ kinh tế, mậ u dịch với nước Pháp trên cở s ở bình đẳng và cùng có lợi. Quan hệ với nhân dân nước Pháp cầ n được tăng cường... Làm cho nhân dân hai nước Việt và Pháp liên hợp chặt chẽ hơn nữa để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất đất nước, phả n đối và ngăn ngừa sự gây hấn c ủa Mỹ và phe thân M ỹ” Bên cạnh đó, cần phả i tranh thủ mở rộng quan hệ với những nước Đông Nam Á như Ấn Độ, Nam Dương, Miến Điệ n... “làm cho Chính phủ những nước Trang 11
  12. đó đồng tình với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoặc ít nhất cũng giữ trung lập, có thiện cảm đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộ ng hoà và có thái độ khinh bỉ c hính quyề n Bảo Đạ i, Ngô Đình Diệm” Trong khi tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á, cần đặc biệt chú trọng quan hệ giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với Lào và Cao Miên. “Mối quan hệ với họ nên đặt trên 5 nguyên tắc lớn là “tôn trọng chủ quyền và lãnh thổ c ủa nhau, bình đẳ ng và cùng có lợi, sống chung trong hoà bình”. Chính phủ Việt Nam nên tìm mọi cách tăng cường tình hữu nghị giữa nước ta và hai nước Lào, Cao Miên; tăng cường đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam, Lào và Cao Miên. Xây dựng mố i quan hệ hoà hoãn với Lào, Cao Miên cùng với việc tiếp tục phát triể n và c ủng c ố tình hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và tất cả các nước XHCN trên thế giới là điều kiện quan trọng để c ủng cố hoà bình ở Đông Dương và tranh thủ độc lậ p, thống nhất c ủa nước ta. Bên cạ nh đó, đối với U ỷ ban quốc tế, chủ trương của ta nói chung là tranh thủ cảm tình, không để xảy ra những việc đáng tiếc, bất lợi cho ta. Đố i vớ i Ba Lan, mặc dù Ba Lan là bạn c ủa ta song trong thái độ giao tiếp, Đảng chủ trương không nên vồn vã hơn các đại biể u khác, để các đồng chí Ba Lan có thể giữ địa vị trung lập mà làm việc. Đối vớ i Ấn Độ, chúng ta có thể và cần tranh thủ cảm tình của Ấn Độ vì Ấn Độ luôn có thái độ tán thành hoà bình ở Đông Dương, chống Mỹ dùng vũ lực làm bá chủ C hâu Á. Còn với Gia Nã Đạ i (Canađa), ta phả i cẩ n thậ n song phải giữ quan hệ ngoại giao tốt với các đại biểu Gia Nã Đạ i. Trước tình hình đế quốc Mỹ ngày càng bộc lộ rõ âm mưu và bả n chất ra sức phá hoạ i Hiệp đ ịnh Giơnevơ, xây dựng chính quyền thực dân mới ở miền Nam, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7(8/1955) chủ trương đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam. Hộ i nghị khẳ ng định kẻ thù cụ thể trước mắt c ủa nhân dân ta hiện nay là “đế quốc Mỹ, phái thực dân Pháp phả n hiệp định và bọ n Ngô Đình Diệ m, đế quốc M ỹ là kẻ thù đầu sỏ và nguy hạ i nhất”. Vì vậy, mục tiêu đấu tranh trước mắt c ủa cách mạng vẫ n không thay đổ i “chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ; triệt để lợi dụng mâu Trang 12
  13. thuẫ n giữa Mỹ và Pháp, giữa bọn thân M ỹ và bọ n thân Pháp, giữa phái thực dân Pháp thân M ỹ và những phầ n tử thực dân Pháp chống Mỹ. Đoàn kết bất cứ ngườ i nào ta có thể đoàn kết được, tranh thủ bất cứ người nào ta có thể tranh thủ được, trung lập bất cứ người nào ta có thể trung lập được, cốt nhằ m phân hoá kẻ thù đến cao độ và cô lập chúng, đồng thời kiế m thêm nhiều bạ n cả trong nước và ngoài nước”. Trên cơ sở đó, Hội nghị chủ trương: “Đẩy mạnh công tác ngoại giao, tăng cường đoàn kết hữu nghị với các nước bạn, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ c ủa nhân dân thế giới” và coi đó là “một trong những công tác lớn”. Phương châm chính sách ngoại giao của ta là “Củng cố không ngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các nước Dân chủ nhân dân; thực hiệ n việc phối hợp chặt chẽ giữa các nước anh em trong hoạt động quốc tế và trong đấ u tranh ngoại giao; giao hảo với bất cứ nước nào cùng ta công nhậ n năm nguyên tắc chung hoà bình; kiên quyết và bề n bỉ dùng cách thương lượng để giải quyết mọi vấn đề tranh chấp quốc tế . Trước tình hình đó, chủ trương của chúng ta là đấu tranh để hoà bình, thống nhất nước nhà. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà bằ ng phương pháp hoà bình lại là một cuộc đấu tranh vô cùng gian khổ và phức tạp. Trong hoàn cả nh đất nước bị chia cắt với hai chế độ chính trị, hai chế độ xã hội khác nhau, muố n giành thắng lợi, việc cấp thiết là mở rộng và c ủng cố Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cả nước, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo quyết tâm đè bẹp âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam c ủa đế quốc Mỹ. Vì vậ y “Mặt trận dân tộc thống nhất cầ n có một bản cương lĩnh chung phù hợp với tình hình thực tế của hai miền, làm cơ sở tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình trong cả nước để đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bọn thân Mỹ, bọ n chia rẽ, bọn ngoan cố, đặng củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà, trên cở sở độc lập và dân chủ, tiến tới xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạ nh” Trong khi đó Mỹ - Diệ m bộc lộ rõ âm mưu chiế m đóng và chia cắt lầu dài miền Nam Việt Nam. Tất cả mọ i hoạt động chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá của chúng ở miề n Nam từ trước đến nay và sau này đề u nhằ m thực hiện âm Trang 13
  14. mưu thâm độc đó. Để lừa bịp dư luận, chính quyền miền Nam đã tuyên bố những điề u xảo trá về "hoà bình, thố ng nhất, tổng tuyển cử tự do..." song bản chất c ủa chúng vẫ n là không công nhận Hiệ p định Giơnevơ. Mỹ - D iệ m ra sức phá hoạ i Hiệp đ ịnh G iơnevơ, khủng bố trả thù những người kháng chiến, bóp nghẹt các quyề n tự do dân chủ gây kho chiến tranh, chuyển vũ khí vào miề n Nam, cắt đứt quan hệ Bắc – Nam, thúc ép Pháp rút quân khỏi miề n Nam, đồng thời tìm mọi cách chèn ép và nắm dần cơ sở kinh tế của Pháp. Chúng liên tiếp tiến hành chính sách "tố cộng, diệt cộng", đàn áp các phong trào cách mạng, đặc biệt là trong chiến dịch tố cộng, diệt cộng đợt 2,3, Mỹ - Diệm khủng bố vô cùng dã man nhằ m phân hoá giữa Đảng và quầ n chúng, buộc những người lưng chừng phải có thái độ dứt khoát, buộc những người đầ u hàng phải thật sự làm tay sai cho chúng. Mỹ - Diệ m đã đẩy cách mạ ng miền Nam vào thời k ỳ khó khăn chưa từng có. Tuy nhiên miề n nam vẫn đ ứng trước một số thuậ n lợi cơ bản.đó là công cuộc đấu tranh của ta được nhân dân tham gia tích cực. vì thế Trung ương Đảng nhấ n mạ nh những nhiệ m vụ quan trọ ng lúc này là ra sức củng cố miề n Bắc, giữ vững và phát triển cuộc đấu tranh miền Nam, tăng cường đấu tranh ngoại giao, và trước mắt là phải hết s ức tăng cường cuộc đấu tranh để khôi phục và phát triển quan hệ b ình thườ ng giữa miền Nam và miề n Bắc. Trong đó, việc tăng cường đấu tranh ngoạ i giao được đặc biệt chú trọng. Cuộc đấu tranh c ủng cố hoà bình, thực hiện thống nhất của nhân dân ta là một bộ phận của cuộc đấu tranh c ho hoà bình thế giới. Do đó, Việt Nam phải phố i hợp và tranh thủ sự đồ ng tình của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, làm cho M ỹ - D iệm ngày càng b ị cô lập. Vì vậ y, "ta phải tăng cườ ng việc tuyên truyền ra ngoài nước, vạch trần âm mưu c ủa Mỹ - D iệm ở miề n Nam phá hoại hoà bình, thống nhất và vi phạ m Hiệp định Giơnevơ; nêu cao ý chí hoà bình c ủa ta và chính sách tôn trọng Hiệp định Giơnevơ c ủa ta".Công tác ngoại giao của ta phải "ra sức tranh thủ sự đồng tình của các nước yêu chuộng hoà bình trên thế giới đối với cuộc đấu tranh thống nhất, cuộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp đ ịnh Giơnevơ c ủa nhân dân ta. Ngoài việc tăng cường đoàn kết với các nước anh em là việc ta phải thường Trang 14
  15. xuyên chú trọng, chúng ta cầ n hết sức phấn đấu để đặt quan hệ tốt với hai nước láng giềng Lào, Miên, tăng cường và phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á, với nước Pháp" Có thể nói, những chính sách ngoại giao được thông qua Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lầ n thứ 10 mở rộng (9/1956) là sự bổ s ung quan trọng trong quá trình hình thành đường lối đối ngoạ i của Đả ng trong thời kỳ 1954-1960. Yêu cầ u thực tiễ n lúc này cho thấ y làm thế nào để vừa phát huy được sức mạ nh c ủa quần chúng nhân dân, vừa tranh thủ tối đa sự giúp đỡ, ủng hộ của các nước bạ n; vừa kết hợp sức mạ nh dân tộc với s ức mạnh thờ i đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến đ ấu và chiến thắ ng kẻ thù. Trước tình hình địch thẳng tay khủng bố, tàn sát phong trào cách mạng, nhiều vấn đề xuất hiệ n trong thực tiễn đấu tranh của nhân dân miền Nam, cuối 1956 - đầu 1957, đồng chí Lê Duẩn trong bản Dự thảo đề cương cách mạng miề n Nam, trong đó khẳ ng định: Ba nhiệm vụ quan trọng nhất làm đường lối chung cho toàn bộ công tác cách mạ ng hiện nay của toàn quốc là: C ủng cố thật vững chắc miề n Bắc; . Đẩy mạnh phong trào cách mạng miền Nam; Tranh thủ sự đồ ng tình và ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình, dân chủ, độc lập dân tộc trên thế giới". Ba nhiệ m vụ ấy không thể tách rời, có mối liên quan mật thiế t với nhau. Có làm tròn ba nhiệ m vụ ấy, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta mới đi đến thành công. Nội dung của Đề c ương Cách mạng miền Nam đã làm rõ một số vấ n đề lý luận và thực tiễ n cách mạng miền Nam, là cơ sở quan trọ ng góp phần xây dựng nội dung cơ bản c ủa Nghị quyết 15 và Đạ i hội lần thứ III của Đảng sau này. sau thắ ng lợi của phong trào Đồng Khở i, cuộc đấu tranh của đồng bào miề n Nam chống đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệ m được giữ vững và ngày càng phát triể n. Nhân dân cả nước một lòng phấ n đấ u và được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi c ủa nhân dân thế giới. Đại hội Đại biể u toàn quốc lần thứ 3 của Đảng (9-1960) đã chỉ ra 2 nhiệ m vụ chiế n lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tạ i: Một là, tiến hành cách mạ ng xã hội chủ nghĩa ở miề n Bắc; Hai là giả i phóng miề n Nam khỏi ách thố ng trị của đế quốc M ỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Trang 15
  16. Hai nhiệ m vụ ấ y có quan hệ mật thiết và có tác dụng thúc đẩ y lẫn nhau. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miề n Bắc có vai trò quyết đ ịnh nhất đối vớ i sự phát triển c ủa toàn bộ cách mạng V iệt Nam và s ự nghiệp thống nhất nước nhà. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. “Nhiệ m vụ cách mạ ng ở miề n Bắc và miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗ i nhiệ m vụ nhằ m giải quyết yêu cầ u cụ thể của mỗi miề n trong hoàn cả nh nuớc nhà tạ m thời bị chia cắt nhưng hai nhiệm vụ đó đều hướng tới một mục tiêu chung là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạ nh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới”. nhưng sau đó, Mỹ_Diệ m đã không tuân thủ hiệp định , lấ y cớ là đã không kí kết hiệp đ ịnh. Tiếp tục những cố gắng kiên trì để thực hiện hoà bình, thống nhất đất nước, ngày 7-3-1958, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộ ng hoà lại gửi công hàm cho chính quyền Ngô Đình Diệ m nêu rõ nguy cơ của chính sách xâm lược, nô dịch c ủa đế quốc M ỹ và đề nghị hai miền cử đạ i biểu gặp gỡ nhau bàn bạc những biệ n pháp hoà bình thống nhất trên tinh thầ n hiể u biết lẫn nhau. Lầ n này, chính quyền Ngô Đình Diệ m càng b ị dư luận thúc ép và ngày 26-4-1958, chính quyề n Sài Gòn đã ra một bả n tuyên bố nói đến hoà bình, thống nhất nhưng trên cơ sở điề u kiệ n tiên quyết là miền Bắc phả i giả m quân số trước, đòi cho di cư vào Nam... Điề u đó có nghĩa là chúng không muốn thố ng nhất đất nước. Ngày 22-12-1958, Chính phủ V iệt Nam dân chủ cộng hoà lại gửi công hàm cho chính quyền miền Nam, vạch rõ thực trạ ng miền Nam dưới chế độ Mỹ – Diệ m “Đồng bào ta không ngừng hy sinh phấ n đấu chống chế độ thực dân Pháp và anh dũng kháng chiế n 9 năm, chính là để xây dựng một chế độ mới độc lập, tự do, hạnh phúc. Thế mà hoà bình đã lập được hơn 4 năm rồ i, đồng bào ta ở miề n Nam vẫn chưa được an cư lạc nghiệp. Đồng bào phải chịu cảnh số áp bức bóc lột nặ ng nề hiện nay bao nhiêu thì càng nhậ n rõ sự can thiệp của đế Trang 16
  17. quốc Mỹ vào miền Nam là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình cả nh ấ y và ngăn trở sự nghiệp hoà bình thống nhất tổ quốc ta’’. Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, trong bản tuyên ngôn mặ t trận nêu rõ: “Mặt trận dân tộc giả i phóng miền Nam Việt Nam chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và thân sĩ yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, để đấ u tranh đánh đổ ách thố ng trị của đế q uốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đ ình Diệm tay sai của Mỹ, thực hiện độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới hoà bình thố ng nhất Tổ quốc... Mặt trận kêu gọi toàn thể nhân dân miền Nam đoàn kết lạ i và dũng cả m đứng lên phấ n đấ u theo chương trình hành động tóm tắt dưới đây: 1. Đánh đổ c hế độ thuộc địa trá hình của đế quốc M ỹ và chánh quyề n độc tài Ngô Đình Diệ m tay sai của Mỹ, thành lập chánh quyề n liên minh dân tộc dân chủ. 2. Thực hiệ n chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bố, ban b ố quyền tự do ngôn luậ n, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do nghiệp đoàn, tự do đi lại và các quyền tự do dân chủ k hác. Toàn xá chánh trị phạ m, giả i tán các trại tập trung, các khu trù mật và dinh điền, bãi bỏ luật phát xít 10/59 và các luật phản dân chủ khác. 3. Bãi bỏ độc quyền kinh tế c ủa đế quốc Mỹ và của bọn tay sai, bảo vệ nội hoá, khuyến khích công nghiệp trong nước, mở mang nông nghiệp, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ. 4. Thực hiện giả m tô, đảm bảo nguyên canh, chia lạ i công điền, tiến tớ i cải cách điền địa. 5. Bài trừ văn hoá nô dịch, đồi bạ i kiểu Mỹ, xây dựng nền văn hoá và giáo dục dân tộc và tiến bộ. Xoá nạn mù chữ, mở mang trường học, cải cách chế độ học tập và thi cử. Trang 17
  18. 6. Bãi bỏ chế độ cố vấn quân sự Mỹ, xoá bỏ các căn cứ quân sự của nước ngoài ở V iệt Nam, xây dựng một quân đội dân tộc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. 7. Thực hiệ n nam nữ bình quyề n, đả m bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc và thực hiện quyề n tự trị của các dân tộc thiể u số. Bảo về quyề n lợi chính đáng của ngoại kiề u sinh sống ở Việt Nam. Bảo hộ và chăm sóc quyề n lợi của kiề u bào ở hải ngoại. 8. Thực hiệ n chánh sách ngoạ i giao hoà bình trung lập, đặt quan hệ ngoạ i giao với tất cả các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam. 9. Lập lại quan hệ b ình thường giữa hai miền, tiến tớ i hoà bình thống nhất Tổ quốc. 10. Chố ng chiến tranh xâm lược. Tích cực bảo vệ hoà bình thế giới” Ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa anh em Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng ta đã nhận được sự việ n trợ tích cực, sự giúp đỡ tinh thầ n của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc là một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắ ng lợi c ủa Việt Nam – và nhân dân Việt Nam không bao giờ có thể quên điề u đó. chuyến thăm Liên Xô, Trung Quốc của Chủ tịch Hồ C hí Minh, trao đổ i về tình hình Việt Nam, Đông Dương và các quan điểm c ủa Đảng và Nhà nước ta về đường lố i cách mạng nước ta trong giai đoạ n mới. Năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh lầ n đầ u tiên thăm chính thức Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ. Tiếp đó, năm 1957, Người dẫ n đầu đoàn đại biểu Việt Nam thăm 9 nước, bao gồ m các nước xã hộ i chủ nghĩa ở Đông Âu, Bắc Á và một số nước dân tộc chủ nghĩa ở Châu Á. Trong các cuộc đi thăm này, Chủ tịch Hồ C hí Minh đã bày tỏ mong muố n tăng cường quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước, đồng thời đề cao quan hệ đoàn kết giữa các nước trong phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô và Trung Quốc đứng đầ u. Một trong những thành tựu lớ n của ngoại giao Việt Nam giai đoạn 1954- 1960 là việc mở rộng, c ủng cố mối quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa anh Trang 18
  19. em, tranh thủ sự giúp đỡ để khôi phục và phát triển kinh tế miề n Bắc, tạo ra lực lượng cho cách mạng cả nước. Bằng các chuyế n thăm hữu nghị của Đả ng, Chủ tịch Hồ C hí Minh với mục đích mở rộng quan hệ ngoại giao, Việt Nam đã nhận được s ự viện trợ to lớn cả về vật chất và tinh thầ n trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiế n chống Mỹ. Liên Xô đã đồ ng ý viện trợ c ho Việt Nam 400 triệu rúp không hoàn lạ i để thực hiệ n kế hoạch 3 năm khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc. Ngoài ra, Liên Xô còn cử các chuyên gia sang giúp Việ t Nam khôi phục 25 xí nghiệp, công trình công nghiệp, nhà máy thuộc các ngành cơ khí, than, điện lực và công nghiệp nhẹ. Cùng với Liên Xô, Trung Quốc đã cam kết việ n trợ cho Việt Nam 800 triệu nhân dân tệ, bao gồ m việ n trợ hàng hoá và khôi phục hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, xây d ựng nhà máy... Theo thố ng kê, chỉ riêng năm 1956, số tiền việ n trợ c ho Việt Nam từ các nước XHCN là 150 tỷ (chiế m 4/5 ngân sách). Có thể nói, đây là nguồ n việ n trợ quý giá trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này. Các hoạt động đối ngoại thời kỳ này đã tạo điề u kiệ n cho Chính phủ V iệt Nam dân chủ cộng hoà tranh thủ được sự việ n trợ kinh tế từ các nước xã hộ i chủ nghĩa, góp phần bảo đả m hoàn thành kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế (1955-1957) và kế hoạch phát triể n kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958- 1960). Những thắng lợi đó đã tạo nên sự chuyể n biế n căn bản trong nề n kinh tế- xã hội miề n Bắc, làm cho miền Bắc được củng cố thực sự, trở thành hậu phương lớn, đáp ứng yêu cầ u của sự nghiệp cách mạng miền Nam. Các cuộc tiếp xúc, trao đổ i giữa các nhà lãnh đạo cấp cao các nước góp phầ n tăng cường quan hệ hữu nghị và nâng cao vị thế của Việt Nam dân chủ cộng hoà trên trường quốc tế. III.K ẾT LU ẬN. Mặc dù thời kì chố ng Mỹ, đất nước ta bị chia cắt ra thành 2 miề n. Đảng ta vẫn kiên trì lãnh đạo nhân dân đấ u tranh chố ng Mỹ xâm lược, chúng ta luôn chủ trương hòa bình, hợp tác và hữu nghị. Trong suốt quá trình chống M ỹ, Trang 19
  20. ta luôn luôn gương cao ngọn cờ hòa bình, chống chiế n tranh phi nghĩa; đưa ra nhiề u sáng kiến hoà bình và đẩy mạnh hoạt độ ng ngoại giao làm cho dư luận thế giới thấ y được nguyện vọng hoà bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam, đồng thời thấ y được âm mưu, bả n chất c ủa đế quốc Mỹ và chính quyề n Ngô Đ ình Diệm. Tuy nhiên, chúng ta chủ trương hoà bình phả i có nguyên tắc và phải gắ n với phong trào độc lập dân tộc, gắn với bảo vệ các quyền dân tộc cơ bả n của Việt Nam và phục vụ sự nghiệp giải phóng các dân tộc b ị áp bức trên thế giới. Kế tiếp truyền thống đấ u tranh ngoạ i giao của ông cha ta, Đảng, Chủ tịch Hồ C hí Minh đã lãnh đạo toàn dân đấ u tranh trên mặt trận ngoạ i giao đi từ thắ ng lợi này đến thắ ng lợ i khác, cuối cùng giành độc lập, tự do, chủ quyề n cho dân tộc. Kết thúc thắ ng lợi hào hùng, ghi vào trang sử vàng chói lọi của cách mạng Việt Nam mãi mãi gắn liền vớ i tên tuổ i Chủ tịch Hồ C hí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người vun đắp khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, vị lãnh tụ thiên tài cách mạng đã chỉ ra con đườ ng duy nhất đúng đắ n của cách mạ ng Việt Nam. Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, là chủ trương chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được quân và dân ta thực hiện một cách trọn vẹn nhất, đi đến thắng lợi hoàn toàn, thống nhất đất nước. Trang 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2