
177
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 54, 2009
SINH KẾ NGƯỜI DÂN THỊ TRẤN LAO BẢO, TỈNH QUẢNG TRỊ
TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ -
THƯƠNG MẠI ĐẶC BIỆT LAO BẢO
Mai V
ă
n Xuân
Tr
ườ
ng
Đạ
i h
ọ
c Kinh t
ế
,
Đạ
i h
ọ
c Hu
ế
H
ồ
V
ă
n Minh
Tr
ườ
ng Nguy
ễ
n Chí Thanh, Th
ừ
a Thiên Hu
ế
TÓM TẮT
Khu kinh t
ế
th
ươ
ng m
ạ
i
đặ
c bi
ệ
t Lao B
ả
o (SECA)
đượ
c thành l
ậ
p n
ă
m 1998, góp ph
ầ
n
khai thác ti
ề
m n
ă
ng và l
ợ
i th
ế
v
ề
giao l
ư
u phát tri
ể
n kinh t
ế
- th
ươ
ng m
ạ
i c
ủ
a Vi
ệ
t Nam trên
hành lang kinh t
ế
Đ
ông - Tây (EWEC). SECA
đ
ã có nh
ữ
ng
ả
nh h
ưở
ng tích c
ự
c
đế
n sinh k
ế
c
ủ
a
ng
ườ
i dân, góp ph
ầ
n t
ạ
o vi
ệ
c làm và nâng cao thu nh
ậ
p; thúc
đẩ
y nhu c
ầ
u h
ọ
c t
ậ
p và c
ả
i thi
ệ
n
đờ
i s
ố
ng v
ậ
t ch
ấ
t và tinh th
ầ
n c
ủ
a dân c
ư
trong vùng. Tuy nhiên, SECA c
ũ
ng có nh
ữ
ng tác
độ
ng
tiêu c
ự
c
đế
n ho
ạ
t
độ
ng sinh k
ế
c
ủ
a ng
ườ
i dân nh
ư
, môi tr
ườ
ng b
ị
ô nhi
ễ
m, t
ệ
n
ạ
n xã h
ộ
i có xu
h
ướ
ng gia t
ă
ng, có s
ự
phân hoá giàu nghèo trong c
ộ
ng
đồ
ng
đặ
c bi
ệ
t là gi
ữ
a ng
ườ
i Kinh và
ng
ườ
i dân t
ộ
c thi
ể
u s
ố
Vân Ki
ề
u. Nghiên c
ứ
u ch
ỉ
ra r
ằ
ng
để
c
ả
i thi
ệ
n sinh k
ế
c
ủ
a ng
ườ
i dân t
ố
t
h
ơ
n, c
ầ
n th
ự
c hi
ệ
n m
ộ
t s
ố
v
ấ
n
đề
c
ơ
b
ả
n nh
ư
sau: (i)
Đ
ào t
ạ
o nâng cao k
ỹ
n
ă
ng ngh
ề
nghi
ệ
p,
kh
ả
n
ă
ng ti
ế
p c
ậ
n thông tin cho ng
ườ
i lao
độ
ng
đị
a ph
ươ
ng,
đặ
c bi
ệ
t
đố
i v
ớ
i ng
ườ
i dân t
ộ
c Vân
Ki
ề
u
để
giúp h
ọ
có c
ơ
h
ộ
i tìm
đượ
c vi
ệ
c làm t
ạ
i các c
ở
s
ở
kinh doanh
ở
khu kinh t
ế
th
ươ
ng m
ạ
i
đặ
c bi
ệ
t Lao B
ả
o; (ii) K
ế
t h
ợ
p ch
ặ
t ch
ẽ
gi
ữ
a s
ả
n xu
ấ
t nông nghi
ệ
p v
ớ
i các ho
ạ
t
độ
ng phi nông
nghi
ệ
p nh
ằ
m
đ
a d
ạ
ng hoá ngu
ồ
n thu và gi
ả
m thi
ể
u nh
ữ
ng r
ủ
i ro cho các h
ộ
dân; (iii) Ki
ể
m soát
ch
ặ
t ch
ẽ
các ho
ạ
t
độ
ng gây ô nhi
ề
m môi tr
ườ
ng, nâng cao nh
ậ
n th
ứ
c c
ủ
a ng
ườ
i dân
đặ
c bi
ệ
t là
thanh niên nh
ằ
m h
ạ
n ch
ế
các t
ệ
n
ạ
n xã h
ộ
i trên
đị
a bàn.
1. Đặt vấn đề
Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo (SECA) tỉnh Quảng trị, được thành lập
từ năm 1998, có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực nói
chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng. SECA tạo điều kiện để phát huy tiềm năng, lợi thế về
giao lưu phát triển kinh tế - thương mại của Việt Nam trên hành lang kinh tế Đông - Tây
(EWEC). Qua trên 10 năm xây dựng và phát triển, SECA đã có bước phát triển mạnh
mẽ trên nhiều lĩnh vực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng tích cực. Tuy nhiên, sự tác động của SECA như thế nào đến sinh kế của
người dân là một vấn đề đáng quan tâm nghiên cứu.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá, phân tích tác động của SECA đến thay đổi sinh
kế và phúc lợi của người dân địa phương; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm

178
phát huy tác động tích cực của SECA đến việc cải thiện sinh kế của người dân nói riêng
và phát triển kinh tế xã hội của địa phương nói chung.
Phương pháp nghiên cứu: ngoài nguồn số liệu thứ cấp, chúng tôi điều tra 50 hộ
gia đình, trong đó: 9 hộ chuyên sản xuất nông nghiệp (nhóm I), 13 hộ sản xuất nông
nghiệp kiêm ngành nghề dịch vụ (nhóm II) và 28 hộ chuyên buôn bán – ngành nghề
dịch vụ (nhóm III); và 30 chuyên gia là cán bộ ở địa phương. Các phương pháp phân
tích cơ bản như phương pháp so sánh, phân tích nhân tố, phân tích phương sai
(ANOVA) và một số phương pháp khác được sử dụng trong nghiên cưú này.
2. Sinh kế bền vững
Ý tưởng về sinh kế được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu của R.
Chamber những năm 1980. Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên
cứu của F. Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward... Có nhiều cách tiếp cận và
định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao
hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình.
Về căn bản, các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào
năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và
những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng.
Trong nhiều nghiên cứu của mình, F. Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm những
tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội),
những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được
thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều
thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ (Ellis, 2000).
Theo R. Chamber (1989); T. Reardon, and J. E. Taylor, (1996), một sinh kế được
xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và
những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại
và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Các chính sách để xác định sinh kế cho người dân theo hướng bền vững được
xác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và tác động của các yếu tố bên
ngoài. Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Ellis (2004, 2005), Barrett và Reardon
(2000). Các nghiên cứu này đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ tăng trưởng kinh tế, cơ
hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân. Đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể
chế, chính sách cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế, xoá
đói giảm nghèo. Sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố như khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ của lao động, các mối quan hệ trong cộng
đồng, các chính sách phát triển... Tuy vậy, sự bền vững của tài nguyên thiên nhiên là
yếu tố nền tảng trong việc quyết định một sinh kế có bền vững hay không.
Hiện nay, sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà

179
nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.
Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện được sinh
kế và nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời phải luôn đặt nó trong
mối quan hệ với phát triển bền vững. Các nghiên cứu về sinh kế hiện nay về cơ bản đã
xây dựng khung phân tích sinh kế bền vững trên cơ sở các nguồn lực của hộ gia đình
bao gồm nguồn lực vật chất, tự nhiên, tài chính, xã hội và nhân lực.
Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những yếu tố khác
nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn hoặc
tạo cơ hội trong sinh kế. Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem
những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể. Tổ chức
phát triển toàn cầu của vương quốc Anh (DFID) đã đưa ra khung sinh kế bền vững như
sau:
(Ngu
ồ
n: DFID, 2001)
Hình 1. S
ơ
đồ
khung sinh k
ế
b
ề
n v
ữ
ng
3. Kết quả nghiên cứu
Thị trấn Lao Bảo nằm về phía Tây huyện Hướng Hoá, cách trung tâm huyện (thị
trấn Khe Sanh) 18km, cách thành phố Đông Hà 80km, có cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, có
Quốc lộ 9 đi qua trung tâm thị trấn. Với vị trí như trên, Lao Bảo là điểm đầu trên tuyến
hành lang kinh tế Đông - Tây, là nơi giao lưu và trao đổi hàng hoá từ nước ta sang các
nước trong tiểu vùng sông Mê Kông, khu vực châu Á và ngược lại.
Số liệu thống kê năm 2008 của địa phương cho thấy: tổng diện tích tự nhiên của
Quá
trình
hình
thành
Lu
ậ
t l
ệ
,
Chính
sách,
V
ă
n
hoá,
Th
ể
ch
ế
t
ổ
ch
ứ
c...
C
ơ
c
ấ
u
- Các
c
ấ
p
chính
quy
ề
n
-
Đơ
n
v
ị
t
ư
nhân
C
ơ
c
ấ
u và
ti
ế
n trình
th
ự
c hi
ệ
n
CHI
Ế
N
L
ƯỢ
C
SINH
K
Ế
K
ế
t qu
ả
sinh k
ế
- T
ă
ng thu
nh
ậ
p
- T
ă
ng s
ự
ổ
n
đị
nh
- Gi
ả
m r
ủ
i
ro
- Nâng cao
an toàn
l
ươ
ng th
ự
c
- S
ử
d
ụ
ng
b
ề
n v
ữ
ng
h
ơ
n các
ngu
ồ
n l
ự
c
t
ự
nhiên
Ả
nh
h
ưở
ng
và
kh
ả
n
ă
ng
ti
ế
p
c
ậ
n
Tình
hu
ố
ng d
ễ
b
ị
t
ổ
n
th
ươ
ng
- Các cú
s
ố
c
- Các
khuynh
h
ướ
ng
- Tính
th
ờ
i v
ụ
TÀI S
Ả
N SINH K
Ế
T
ự
nhiên
Tài chính
Nhân l
ự
c
Xã h
ộ
i
V
ậ
t ch
ấ
t

180
thị trấn là 1.700,5 ha, đất nông nghiệp chiếm 33,4%; phi nông nghiệp 16,2% và đất
chưa sử dụng chiếm 50,4%. Tổng số nhân khẩu là 9.460 người, có 5.654 lao động, trong
đó lao động nông nghiệp có xu hướng giảm xuống nhanh chóng, chỉ còn 7,3%; trong
khi đó, lao động phi nông nghiệp tăng đáng kể và đạt 92,7%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
của thị trấn trong những năm qua khá ấn tượng, bình quân từ 1998 đến 2008 là 13,5%;
tỷ lệ hộ nghèo đói giảm đáng kể từ 23,3% năm 2003 xuống còn 7,5% năm 2008; cơ cấu
kinh tế của địa phương chuyển dịch theo hướng tỷ trọng giá trị sản lượng công nghiệp
và dịch vụ tăng lên, trong khi tỷ trọng giá trị sản lượng nông nghiệp giảm xuống. Năm
2008, nông nghiệp chiếm 12,5%, công nghiệp – xây dựng 20,5% và dịch vụ 67,0%.
3.1. Một số đặc điềm về các hộ điều tra
Cơ cấu mẫu điều tra thể hiện qua một số chỉ tiêu cơ bản như sau: người Kinh có
40 hộ, chiếm 82%, hộ người dân tộc Vân Kiều 10 hộ, chiếm 18%, hầu hết hộ dân tộc
Vân Kiều đều thuộc nhóm I (8/9 hộ), nhóm II và III đa số là các hộ người Kinh (12/13
và 27/28 hộ). Đa số các chủ hộ đều là nam giới (88%). Số chủ hộ trong độ tuổi từ 35 –
55 chiếm tỷ lệ cao nhất là 60%; dưới 35 tuổi là 16%; và trên 55 tuổi là 24%. Trình độ
văn hoá còn thấp, 64,7% của lực lượng lao động cấp II trở xuống, chỉ có 35,3% cấp III.
Hầu hết lao động đều chưa qua đào tạo, không có trình độ chuyên môn, 92,6%.
3.2. Kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ điều tra
Số liệu Bảng 1 cho thấy có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm hộ về kết quả
sản xuất và thu nhập. Thu nhập các hộ nhóm III cao nhất, 90,0 triệu đồng/hộ; nhóm II,
63,5 triệu đồng/hộ và nhóm I là 14.3 triệu đồng/hộ. Rõ ràng hộ nhóm I, hầu hết là người
dân tộc thiểu số chủ yếu làm nông nghiệp nên có mức thu nhập thấp, trong khi các hộ
nhóm III chuyên về kinh doanh dịch vụ có mức thu nhập cao nhất, gấp 6,3 lần so với
nhóm I.
B
ả
ng 1. Thu nh
ậ
p c
ủ
a các h
ộ
đ
i
ề
u tra n
ă
m 2008
Chỉ tiêu ĐVT Nhóm I Nhóm II Nhóm III
Số hộ điều tra hộ 9 13 28
Nhân khẩu bình quân người/hộ 5,3 5,9 5,1
Giá trị sản xuất (GO) tr.đ/hộ 16,5 264,8 201,9
Chi phí sản xuất (C) tr.đ/hộ 3,4 206,9 118,7
Thu nhập hỗn hợp (MI) tr.đ/hộ 13,1 57,9 83,2
Thu khác tr.đ/hộ 1,2 5,6 6,8
Thu nhập tr.đ/hộ 14,3 63,5 90,0
Thu nhập bình quân/khẩu/tháng 1000đ 224,8 896,9 1.470,6
(Ngu
ồ
n: S
ố
li
ệ
u
đ
i
ề
u tra c
ủ
a tác gi
ả
, n
ă
m 2008)

181
3.3. Phân tích tác động của SECA đến sinh kế của người dân địa phương
Sự tác động của SECA đến sinh kế của người dân theo nhiều chiều hướng khác
nhau. Ngoài điều tra về thu nhập của các hộ, chúng tôi còn điều tra ý kiến của các hộ và
các chuyên gia ở địa phương về tác động và vai trò của SECA đến sự phát triển kinh tế
xã hội và sinh kế của người dân. Bảng hỏi được cấu tạo theo thang điểm likert scale, với
các mức độ: 1- Hoàn toàn đồng ý; 2 - Đồng ý; 3 - Không rõ; 4 - Không đồng ý; 5 -
Hoàn toàn không đồng ý.
3.4. Ảnh hưởng của SECA đến việc làm và thu nhập của các hộ điều tra
Kết quả điều tra cho thấy, có 62% người được hỏi đồng ý rằng SECA tạo cơ hội
việc làm rất đáng kể cho gia đình họ, 76% số người đồng ý nhu cầu lao động tại SECA
là rất cao. Trong khi đó, 56% ý kiến không đồng ý rằng nhiều lao động của gia đình tìm
được việc làm tại SECA. Thực tế cho thấy, lao động ở SECA chủ yếu đến từ thành phố
Đông Hà, Quảng Trị... người dân địa phương do trình độ văn hoá còn thấp và đặc biệt là
mối quan hệ xã hội còn hạn chế nên cơ hội tìm được việc làm của họ ở SECA không
cao. 68% người được hỏi đồng ý với nhận định là việc xây dựng SECA góp phần thúc
đẩy nhu cầu học tập của gia đình mình; có 80% người đồng ý SECA góp phần tăng thu
nhập cho gia đình họ. Rõ ràng SECA đã có những tác động tích cực đến các cơ hội việc
làm và thu nhập của người dân ở thị trấn Lao Bảo.
3.5. Ảnh hưởng của SECA đến việc cải thiện cơ sở hạ tầng
Hầu hết ý kiến của người dân (96-100%) đồng tình với nhận định là hệ thống
giao thông, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện, hệ thống điện chiếu sáng được cải
thiện rất đáng kể nhờ ảnh hưởng của SECA. Như vậy, sự so sánh ý kiến của người dân
và các báo cáo tình hình kinh tế xã hội ở địa phương có kết quả khá trùng hợp. Điều đó
đã thể hiện được sự quan tâm của các cấp chính quyền đến sinh kế của người dân và quá
trình phát triển của địa phương. Có thể nói, người dân đánh giá khá tích cực sự thay đổi
về việc làm, thu nhập cũng như hệ thống cơ sở hạ tầng dưới tác động của SECA. Rõ
ràng SECA đang có những tác động tích cực đến sinh kế của người dân địa phương.
Để đánh giá chính xác hơn tác động về mặt xã hội của SECA, chúng tôi điều tra
ý kiến của 30 chuyên gia địa phương và nhận được kết quả như sau: 67% người được
hỏi cho rằng SECA làm đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong sản xuất và cung ứng
sản phẩm ra thị trường; 77% cho rằng giao lưu trao đổi hàng hoá trở nên dễ dàng hơn
trước rất nhiều; 67% cho rằng SECA góp phần làm cho hàng hoá - dịch vụ đa dạng và
phong phú với giá cả rẻ hơn; Tuy nhiên, có 40% cho rằng SECA làm gia tăng các tệ nạn
xã hội trên địa bàn; 23% cho rằng SECA làm cho tình hình buôn lậu hàng hoá qua biên
giới nhiều hơn.

