intTypePromotion=1

Báo cáo tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam

Chia sẻ: Uchiha Kin | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:69

0
108
lượt xem
41
download

Báo cáo tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bị đánh giá là một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu khá cao so với các ngân hàng có cùng quy mô liệu có phải là một dấu hiệu đi xuống của ngân hàng? Thực tế về tình hình nợ xấu của ngân hàng trong những năm gần đây và biện pháp mà ngân hàng sử dụng để đối phó là gì... Để làm sáng tỏ vấn đề trên mà "Báo cáo tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam" đã được thực hiện.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam

  1. LỜI NÓI ĐẦU Việt Nam những năm đầu thế  kỷ  21 chứng kiến sự  tăng trưởng ngoạn mục  của ngành Tài chính – Ngân hàng, trong đó  ấn tượng nhất là sự  phát triển của hệ  thống Ngân hàng Thương mại. Theo thời gian, hệ thống  này được mở rộng về quy  mô, đa dạng về loại hình kinh doanh, phong phú về  sản phẩm và chất lượng ngày  càng được nâng cao. Nếu như hình thức ngân hàng từ thời sơ khai chỉ đảm nhận vai   trò cất giữ tài sản thì ngày nay  hoạt động kinh doanh của ngân hàng vô cùng phong  phú: cung cấp dịch vụ, tín dụng, đầu tư... Trong đó hoạt động tín dụng chiếm tỷ  trọng cao nhất trong tổng tài sản, mang lại nguồn thu nhập lớn nhất. Song theo lẽ  thường, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, đây cũng chính là hoạt động mang   lại rủi ro cao nhất cho ngân hàng mà biểu hiện của nó chính là nợ xấu. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, một số  ngân hàng thương mại đã coi   chính sách mở rộng tín dụng là một giải pháp để chiếm lĩnh thị phần, thu hút khách  hàng và tìm kiếm lợi nhuận. Do vậy, năm 2009­2010 là giai đoạn tăng trưởng tín   dụng quá nóng của hệ  thống ngân hàng Việt Nam. Việc cạnh tranh giữa các ngân   hàng trở  lên gay gắt, các tiêu chuẩn về  cấp tín dụng bị  hạ  thấp để  thúc đẩy tăng   trưởng. Hệ  lụy của nó là những khoản nợ  xấu tiềm  ẩn đã lâu nay như  tảng băng   chìm đã trồi lên mặt nước và trở thành vấn đề nhức nhối của ngành ngân hàng Việt  Nam. Những khoản vay không thu hồi được cả gốc và lãi đúng hạn ngày càng lớn,   tỷ lệ nợ xấu ngày càng gia tăng đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng bất động sản, đã   có lúc đe dọa tới tính thanh khoản của ngân hàng. Việc xử lý và hạn chế nợ xấu là   một yêu cầu cấp thiết, có vai trò sống còn của ngành ngân hàng nước ta trong suốt   những năm gần đây. Được ví như là “cục máu đông” của nền kinh tế, nợ xấu ngân   hàng đã và đang để  lại những hậu quả  nghiêm trọng cho sự  phát triển và tăng   trưởng của toàn nền kinh tế. Là một trong các ngân hàng thương mại cổ  phần lớn nhất Việt Nam, Ngân  hàng Thương mại Cổ  phần Ngoại thương Việt Nam cũng không nằm ngoài vào  guồng quay đó. Bị  đánh giá là một ngân hàng có tỷ  lệ  nợ  xấu khá cao so với các  ngân hàng có cùng quy mô liệu có phải là một dấu hiệu đi xuống của ngân hàng?  Thực tế về tình hình nợ xấu của ngân hàng trong những năm gần đây và biện pháp  mà ngân hàng sử  dụng để  đối phó là gì...? Để  làm sáng tỏ  những vấn đề  này, tác   giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp xử lý nợ xấu trong hoạt   động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam” 1
  2. Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, chuyên đề được  kết cấu theo 03 chương như sau” Chương 1: Những vấn đề  cơ  bản về  nợ  xấu trong hoạt động tín dụng ở  các   ngân hàng thương mại. Chương 2:  Thực trạng nợ  xấu và cá biện pháp xử  lý nợ  xấu tại Ngân hàng   Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – Vietcombank Chương 3:  Giải pháp khắc phục nợ  xấu trong hoạt động tín dụng tại Ngân   hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam ­ Vietcombank Bài viết là thành quả  của tác giả  thông qua tìm hiểu thực tế tại ngân hàng và   qua các phương tiện truyền thông..., do vậy trong nội dung trình bày còn nhiều   thiếu sót. Tác giả  rất mong nhận được sự  nhận xét, góp ý từ  phía các thầy cô để  chuyên đề được hoàn thiện hơn. Trân trọng cảm ơn. Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2013 Người trình bày. Lê Thị Duyên 2
  3. CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG  Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Tín dụng ngân hàng và rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. 1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng. Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì “Tín dụng là   một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng hoặc các  định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong   đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất   định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi   cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.” Như vậy, bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và   lãi giữa một bên là ngân hàng và một bên là người đi vay. Đây là quan hệ  chuyển  nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn theo thỏa thuận giữa hai bên. Trong hoạt động  của ngân hàng thì đây là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất nhưng cũng chứa  đựng nhiều rủi ro nhất. Có thể định nghĩa rủi ro trong hoạt động tín dụng như sau: Theo Khoản 1 Điều 2 Quy định về  phân loại nợ, trích lập và sử  dụng dự  phòng  để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt  động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban  hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ­NHNN ngày 22/4/2005 của Thống   đốc  Ngân hàng Nhà nước:  “ Rủi ro tín dụng là khả  năng xảy ra tổn thất trong hoạt   động ngân hàng của tổ  chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không   có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Rủi ro tín dụng không chỉ  giới hạn  ở  hoạt động cho vay mà còn bao gồm   nhiều hoạt   động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như: hoạt   động bảo  lãnh, tài trợ ngoại thương, cho thuê tài chính. 1.1.2. Các rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng. 3
  4. Rủi ro tín  dụng Rủi ro giao  Rủi ro danh  dịch mục Rủi ro lựa  Rủi ro đảm  Rủi ro  Rủi ro tập  Rủi ro nội tại chọn bảo nghiệp vụ trung Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng được phân loại như sau: ­  Rủi ro giao dịch:   Rủi ro giao dịch là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong   quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay. Rủi ro giao dịch được chia là ba loại là rủi   ro lựa chọn, rủi ro bảm bảo và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích   tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án hiệu quả thấp để cho vay + Rủi ro đảm bảo: Là rủi ro phát sinh từ  các tiêu chuẩn đảm bảo như  các  điều kiện trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, các   hình thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và  hoạt động cho vay, bao gồm cả việc xử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật  xử lý các khoản cho vay có vấn đề. ­ Rủi ro danh mục: Rủi ro danh mục là loại rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế  trong việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm hai loại là rủi ro nội  tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: Là rủi ro xuất phát từ các đặc điểm riêng có, mang tính riêng  biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. + Rủi ro tập trung: Là loại rủi ro tín dụng do ngân hàng tập trung cho vay quá   nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong  cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế  hoặc cùng một địa lý nhất định hoặc cùng một   loại hình cho vay có độ rủi ro cao 1.2. Nợ xấu tại các Ngân hàng Thương mại 4
  5. 1.2.1. Khái niệm nợ xấu Tín dụng là hoạt động luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, hoạt động tín dụng còn được   xem như  một nghiệp vụ  quản trị  rủi ro để  sinh lợi trong kinh doanh ngân hàng.  Điều này có thể  hiểu là để  kiếm được lợi nhuận từ  hoạt động tín dụng  các ngân   hàng buộc phải chấp nhận những tổn thất có thể gặp phải trong tương lai. Những   tổn thất này có thể là việc ngân hàng bị thất thoát vốn do không thu hồi được hoặc  không thu hồi hết những khoản tín dụng đã cấp ra . Và khi một khoản vay không  thể thu hồi hay có nguy cơ không thể thu hồi toàn bộ nợ gốc và lãi thì sẽ hình thành  nên nợ xấu của ngân hàng. Hiện nay,có nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu, sau   đây là một số quan điểm về nợ xấu đang được áp dụng trên thế giới và Việt Nam. 1.2.1.1.  Theo quan điểm của quốc tế  Theo một số tiêu chí của NHTW Liên minh Châu Âu: Nợ xấu trong hoạt động  kinh doanh của NHTM không chỉ có những khoản vay quá hạn thông thường không  có khả  năng thu hồi theo hợp đồng mà còn có các khoản nợ  chưa quá hạn nhưng  tiền ẩn các rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đầy đủ gốc và lãi cho ngân  hàng. Theo  quan  điểm   của  Phòng  thống  kê   –  Liên  hiệp  quốc:  Về   cơ   bản  một  khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc trả gốc trên 90 ngày, hoặc  các khoản trả  lãi chưa trả  từ  90 ngày trở  lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc  trả chậm theo thỏa thuận hoặc các khoản thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có   lý do chắc chắn đến nghi ngờ vể khả năng sẽ được thanh toán đầy đủ. Theo chuẩn mực quốc tế  ­ IAS: Nợ  xấu là những khoản nợ quá hạn trên 90  ngày và/hoặc khả năng trả nợ nghi ngờ Ngoài ra hiện nay còn có định nghĩa mới về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo  tài chính quốc tế  (IFRS) và IAS 39 vừa được chuẩn mực kế  toán quốc tế  (IAS)   công bố vào tháng 12 năm 1999 và sau 2 lần chỉnh sửa vào năm 2000 và năm 2003 và   được khuyến cáo áp dụng vào đầu năm 2005. Về cơ  bản IAS 39 chỉ chú trong tới   khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc  chưa quá hạn. Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là   phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (xếp hạng   khách hàng). Hệ  thống này được coi là chính xác về  mặt lý thuyết nhưng việc áp   dụng vào thực tế gặp nhiều khó khăn. Vì vậy nó đang được ủy ban kế toán quốc tế  tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh. 5
  6. 1.2.1.2.  Theo quan điểm Việt Nam  Nợ  xấu theo khoản 6, điều 2 của Quy định về  phân loại nợ, trích lập và sử  dụng dự phòng để xử  lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban  hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ­NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN Việt  Nam  Việt Nam “ là các khoản nợ thuộc các nhóm nợ dưới tiêu chuẩn ( nhóm 3), nợ  nghi ngờ ( nhóm 4) và nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) Ngoài ra theo điều 13 của quyết định này cũng đề cập tới nợ xấu “Khi đến kỳ  hạn trả  nợ  gốc hoặc lãi, nếu khách hàng không trả  nợ  đúng hạn và không được  điều chỉnh kì hạn nợ gốc hoặc lãi, không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi, thì tổ chức  tín dụng chuyển toàn bộ số dư nợ này sang nợ xấu” 1.2.2. Phân loại  nợ xấu Theo Quyết định số 493/2005/QĐ­NHNN ngày 22/4/2005 phân loại nợ thành  5 loại theo 2 phương pháp định tính và định lượng. * Phương pháp định lượng ­ Nhóm 1: Nợ  đủ  tiêu chuẩn bao gồm nợ  trung hạn được đánh giá có khả  năng thu hồi đủ  gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ  có thể  phát sinh trong tương   lai như các khoản bảo lãnh cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán. ­ Nhóm 2 Nợ cần chú ý bao gồm nợ quá hạn  180 ngày người nợ khoanh chờ chi phí xử lý. * Phương pháp định tính  Nợ cũng  được phân thành 5 nhóm tương ứng như phương pháp định lượng,  nhưng không nhất thiết căn cứ vào số ngày quá hạn chưa thanh toán nợ  mà căn cứ  trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng rủi ro và tổ chức tín  dụng được ngân hàng nhà nước chấp nhận. ­ Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy  đủ gốc và lãi đúng hạn. ­ Nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ  gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. 6
  7. ­ Nhóm 3 Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là không có khả năng thu   hồi gốc và lãi cho đến khi đến hạn. ­ Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao g ồm n ợ được đánh là có khả  năng tổ n thất cao ­ Nhóm 5: Nợ  có khả  năng mất vốn, bao gồm nợ  được đánh giá là không có khả  năng thu hồi, mất vốn. Trong đó nợ từ nhóm 3 ­5 là nợ xấu, các khoản nợ xấu này là yếu tố chủ yếu   gây ra rủi ro tín dụng. 1.2.3. Nguyên nhân gây ra nợ xấu Một thực tế  cho thấy rằng, cho dù quá trình xét duyệt cho vay của cán bộ  tín  dụng có cẩn thận, kĩ lưỡng đến đâu đi nữa nhưng vẫn không tránh khỏi rủi ro về  nợ  xấu. Vì vậy, nguyên nhân gây ra nợ  xấu tại các NHTM đến từ  hai phía: chủ  quan của ngân hàng và khách quan từ phía khách hàng vay vốn và tác động của môi  trường bên ngoài. 1.2.3.1.  Nguyên nhân chủ quan từ phía NHTM .  ­ Do sự  yếu kém về  trình độ  chuyên môn của cán bộ  tín dụng dẫn đến  không có khả năng nhận diện rủi ro. Sự sa sút về đạo đức của bộ phận quản lý và   nhân viên tín dụng,  thiếu tinh thần trách nhiệm, lợi dụng quyền hạn để tư lợi. ­ Hiệu quả của quản trị kém, các chính sách tín dụng đặt ra không hợp lý,   không kịp thời hoặc không theo kịp với thực tế. Hệ thống truyền tải thông tin còn   chậm, chưa hoàn thiện dẫn đến việc thẩm định, phân tích bị  sai lệch, đánh giá sai   về khả năng trả nợ của khách hàng và xu hướng phát triển của kinh tế ­  Quy trình cấp tín dụng không hợp lý: vi phạm quy tắc bốn mắt, cán bộ  tín dụng làm việc không đúng thẩm quyền, thực hiện chưa nghiêm túc hoặc chưa  đúng các quy định cho vay, đánh giá sai về khả năng sử  dụng vốn và khả  năng trả  nợ của khách hàng. ­ Hiệu quả của công tác tổ chức, kiểm tra, giám sát nội bộ của ngân hàng  còn chưa chặt chẽ, kém hoàn thiện và chưa độc lập, chưa thực hiện đúng chức   năng,nhiệm vụ hoặc cố tình sai phạm. ­ Chưa có sự ràng buộc nghiêm khắc về trách nhiệm đối với người thực  hiện công tác tín dụng, chế tài xử phạt chưa nghiêm hoặc kém minh bạch. ­ Các NHTM quá chú trọng vào mục tiêu lợi nhuận, gây nên tình trạng tăng  trưởng tín dụng nóng. Việc chạy đua lãi suất huy động đẩy lãi suất cho vay lên cao,   gây ra tâm lý thờ   ơ của các doanh nghiệp mạnh khi họ có thể  sử  dụng nguồn vốn  7
  8. khác rẻ hơn. Các khách hàng còn lại được đưa vào diện nghi vấn về khả năng quản  lý, kinh doanh để trả nợ cho Ngân hàng.  ­ “ Để quá nhiều trứng vào trong một giỏ”: Các khoản cho vay của Ngân hàng  tập trung vào những lĩnh vực có độ rủi ro cao, khiến cho danh mục nợ vay thiếu đi  sự  da dạng; từ  đó, khả  năng phân tán rủi ro của Ngân hàng sẽ  giảm đi. Công tác  quản lý và đánh giá tài sản đảm bảo kém. 1.2.3.2.  Nguyên nhân khách quan từ phía khách hàng  *Nguyên nhân chủ quan của khách hàng:   ­ Trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của khách hàng còn hạn chế, sử dụng   vốn vay không đúng mục đích, tiền vay về không có tác dụng thúc đẩy hoạt động  kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến doanh nghiệp vay vốn làm ăn kém hiệu quả,   nợ Ngân hàng tăng.  ­ Doanh nghiệp thiếu thiện chí trả  nợ, cố ý không cung cấp đầy đủ  hoặc có  hành vi che giấu thông tin trong suốt quá trình xin cấp tín dụng và sử dụng vốn vay,   thực hiện việc đi vay ở nhiều tổ chức tín dụng.  ­ Tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch trong việc   xử lý các loại giấy tờ, sổ sách kế toán ­ Doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn vay quá lớn trong cấu trúc vốn của mình,  sử dụng vốn sai mục đích ... nên không có khả năng thu hồi vốn  *Nguyên nhân khách quan của khách hàng:   ­ Doanh nghiệp vay vốn gặp rủi ro trong hoạt  động kinh doanh của mình:  thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh…và đặc biệt là tác động của khủng hoảng kinh tế  trong khu vực và trên thế giới, do vậy việc sử dụng vốn vay không đạt hiệu quả, có   thể mất hoàn toàn vốn.  ­ Doanh nghiệp gặp phải những đổi thay trong kinh doanh không thể  lường   trước được như sự thay đổi về giá cả, nhu cầu thị trường, lạm phát, tỷ giá hối đoái,  lãi suất, sự  thay đổi về  môi trường pháp lý hay chính sách của Chính phủ  khiến  doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được. 1.2.4. Dấu hiệu nhận biết của nợ xấu 1.2.4.1.  Nhóm nợ xấu phát sinh từ phía khách hàng  Dấu hiệu phát sinh từ  phía khách hàng bao gồm hai nhóm chính thể  hiện   trong  mối quan hệ  giữa khách hàng với Ngân hàng và phương thức quản lý, tình  hình tài chính, hoạt động của khách hàng.  8
  9. Thứ  nhất:   Có những biểu hiện không bình thường trong mối quan hệ  giữa   khác hàng với Ngân hàng như:  ­ Khách hàng nợ tìm mọi cách để lần tránh, không cho tiếp xúc liên lạc được   hoặc rất nhiều lần hứa và cam kết nhưng không thanh toán.  ­ Khách hàng gây khó khăn cho Ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định  kỳ hoặc đột xuất. Doanh nghiệp cố trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu  hoặc không có các báo cáo về  lưu chuyển tiền tệ mà không có sự  giải thích minh   bạch, thuyết phục.   .­ Đề nghị gia hạn, điều chỉnh định kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc   thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc gia hạn hay điều chỉnh   kỳ hạn nợ .­ Có sự sút giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng; xuất  hiện những thay đổi bất thường ngoài dự  kiến và không giải thích được trong tốc   độ và tổng mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng. ­ Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu vay các khoản vượt quá nhu cầu   dự kiến.Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao với mọi điều kiện. ­ Tài sản đảm bảo không đủ  tiêu chuẩn, giá trị  tài sản bị giảm sút so với định  giá khi cho vay. Có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê, bán, trao đổi hoặc đã   biến mất hoặc không còn tồn tại. Thứ hai: Xuất hiện các dấu hiệu bất thường liên quan tới phương pháp quản   lý             Những dấu hiệu này tác động trực tiếp tới chất lượng khoản tín dụng  nhưng với tốc độ chậm hơn. Chúng không dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặt  chẽ của cán bộ tín dụng, bao gồm: ­ Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự kiến   khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng. Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ  thanh toán hay mức độ hoạt động của khách hàng .­ Xuất hiện ngày càng nhiều các chi phí bất hợp lý như  sự  gia tăng đột biến   trong chi phí quảng cáo, tập trung quá nhiều chi phí để  gây  ấn tượng như  thiết bị  văn phòng hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền…. ­ Thay đối thường xuyên tổ  chức của ban điều hành. Xuất hiện mâu thuẫn  trong quản trị điều hành, tranh chấp trong quá trình quản lý.   9
  10. ­ Do áp lực nội bộ, doanh nghiệp phải tung ra thị trường các sản phẩm, dịch  vụ  quá sớm khi các sản phẩm chưa đạt được các điều kiện cần thiết hoặc đặt ra  những hạn mức thời gian, doanh số không hợp lý  ­ Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh bất ngờ xảy ra và có ảnh hưởng đến lĩnh vực   kinh doanh của khách hàng. 1.2.4.2.  Nhóm các dấu hiệu phát sinh từ phía ngân hàng  Rủi ro có thể phát sinh từ phía khách hàng nhưng cũng có thể là bắt nguồn từ  phía Ngân hàng. Nếu là rủi ro do Ngân hàng gây ra thì ta có thể nhận thấy thông qua  một số các dấu hiệu như sau:  ­ Có sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách  hàng.  ­ Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo  của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền lớn hoặc các lợi ích do khách hàng  đem lại từ khoản tín dụng được cấp.  ­ Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt qua khả năng và năng lực kiểm  soát của Ngân hàng.  ­ Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra chẳng hạn như sáp  nhập, thay đổi địa vị pháp lý từ chi nhánh lên công ty con hạch toán độc lập...  ­ Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ, không  rõ ràng, không rõ lịch hoàn trả đối với từng khoản vay; cán bộ tín dụng cố ý thoả  hiệp các nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết có rủi ro tiềm ẩn, hồ sơ  còn thiếu về mặt pháp lý để chứng minh cho khoản nợ là phù hợp, thiếu hóa đơn,  chứng từ.  ­ Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không thuộc phân  đoạn ưu tiên . ­ Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá: giảm thấp lãi suất hoặc phí dịch vụ  hay giữ chân khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ không quan hệ với tổ  chức tín dụng khác... 1.2.5. Ảnh hưởng của nợ xấu tới các ngân hàng 1.2.5.1. Tác động của nợ xấu tới hoạt động của các ngân hàng ­ Nợ xấu ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng: Không thu hồi đủ  vốn đã bỏ ra cho vay khiến ngân hàng bị giảm lợi nhuận, thua lỗ do bị thâm hụt  nguồn vốn. Đến một mức nào đó ngân hàng không thể trả tiền cho người gửi tiền  10
  11. khi đến hạn. Nếu trình trạng này kéo dài liên tục thì ngân hàng lâm vào trình trạng  mất khả năng thanh toán ­ Nợ xấu cao làm giảm uy tín của ngân hàng  dẫn đến việc thu hút nguồn vốn  để phục vụ kế hoạch mở rộng kinh doanh khó khăn và hạn chế khả năng cho vay  của ngân hàng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả kinh doanh. ­ Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng do ngân hàng phải vay mượn các  nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Nợ xấu cao cũng làm  cho vòng tuần hoàn vốn chậm lại, giảm hiệu quả sử dụng vốn dẫn đến giảm lợi  nhuận. ­ Nợ xấu có thể làm phá sản ngân hàng và làm giảm khả năng hội nhập  1.2.5.2.Tác động tới khách hàng. ­ Nợ xấu là gánh nặng buộc người vay phải giải quyết trong tình trạng tài  chính không tốt, tạo áp lực trả nợ cho doanh nghiệp, do đó có thể dẫn đến việc sản  xuất kinh doanh bị đình đốn, chất lượng kém dẫn đến giảm doanh thu, ngừng sản  xuất hoặc đưa ra những quyết định kinh tế sai lầm.. ­ Người vay không hoàn trả nợ đúng hạn, mang lại nợ xấu cho ngân hàng dẽ  mất uy tín, mất điểm trong hệ thống xếp hạng tín dụng của NHTM. Điều này ảnh  hưởng nghiêm trọng tới việc tìm nguồn vốn tài trợ sau này của người đi vay. ­ Việc không thanh toán được món nợ vay của NHTM, người đi vay còn đứng  trước nguy cơ bị thanh lý tài sản thế chấp, cầm cố hoặc phải chịu trách nhiệm  trước pháp lý, có thể rơi vào tình trạng phá sản hoặc bị tước quyền kinh doanh. 1.2.5.3. Tác động của nợ xấu tới nền kinh tế      Theo các chuyên gia phân tích kinh tế, nhìn chung nợ xấu có những tác động  chính ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động của  các Ngân hàng thương mại như:  ­ Nợ xấu cao khiến ngân hàng lâm vào khả năng mất khả năng thanh toán  sẽ gây tâm lý hoang mang cho người gửi tiền gây ra hiệu ứng rút tiền hàng loạt.  Hoạt động ngân hàng lại mang tính hệ thống, một ngân hàng đổ vỡ sẽ kéo theo sự  đổ vỡ của hàng loạt ngân hàng khác. Các chủ thể trong nền kinh tế tham gia vào  11
  12. quá trình thanh toán trong và ngoài nước thông qua hệ thống ngân hàng sẽ mất niềm  tin vào uy tín ngân hàng điều này sẽ dẫn tới việc giảm sút đầu tư ảnh hưởng tới  tăng trưởng kinh tế. ­ Nợ xấu tăng cao làm hạn chế khả năng cho vay của ngân hàng trong khi  cầu của các chủ thể là rất lớn dẫn đến sự trì trệ của nền kinh tế. ­ Mặt khác, tỷ lệ nợ xấu cao thể hiện sự kém hiệu quả trong hoạt động  kinh doanh của ngân hàng, gây sự thiếu tin tưởng vào công chúng. Dân chúng không  đem tiền gửi ngân hàng nữa làm cho tỷ lệ huy động vốn thấp, lượng vốn nhàn rỗi  trong dân cư tăng gây lãng phí vốn. Tóm lại: Tác động của nợ  xấu là rất lớn, nó không chỉ   ảnh hưởng tới riêng một ngân  hàng, một ngành nghề mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ  nền kinh tế. Đặc biệt là tính  hệ  thống của ngành ngân hàng khiến cho hậu quả  của nợ  xấu lan nhanh hơn, tác   động mạnh, lâu dài và khó xử lý. Hệ thống ngân hàng là huyết mạnh của nền kinh  tế do đó thiệt hại của nó sẽ  ảnh hưởng tới tất cả  các ngành nghề  còn lại, gây suy  giảm kinh tế  dẫn đến khủng hoảng, lạm phát, nghèo đói và tệ  nạn xã hội. Từ  những hậu quả  nghiêm trọng đó, việc phòng ngừa và xử  lý nợ  xấu ngày càng trở  nên cấp bách. Chính phủ, nhà nước và bản thân các NHTM cùng các chủ thể kinh tế  khác cần phải có các biện pháp triệt để  và tức thì để  xử  lý “cục máu đông” đang   lớn dần này. 1.3. Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số nước trên thế giới và bài học từ  Việt Nam 1.3.1. Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số nước trên thế giới Nợ xấu là “cục máu đông” mà nhiều nền kinh tế trên thế giới bị “nhiễm” với  các mức độ khác nhau và mỗi quốc gia có đơn thuốc trị  bệnh khác nhau, phụ  thuộc  vào đặc điểm của mỗi nước. Hai cường quốc kinh tế Hoa Kỳ, Trung Quốc từng “gánh” khoản nợ xấu cao  ngất ngưởng. Theo ngân hàng Phát triển châu Á – ADB, năm 2003, Trung Quốc có   bốn NHTM quốc doanh lớn nhất với tổng tài sản khoảng 15.200 tỷ  Nhân dân tệ  ,   chiếm khoảng 55% tổng tài sản của hệ thống tài chính đã lâm vào tình trạng nợ xấu   vượt mức giới hạn cho phép. Điều này không mấy khác so với tình trạng cho “vay   dưới chuẩn” (vay với mức độ  rủi ro cao) của các ngân hàng  ở  Hoa Kỳ  giai đoạn   trước khủng hoảng kinh tế tài chính 2008. 12
  13. Trước thực trạng nợ  xấu tăng đột biến , cả  hai nước đều tung chính sách  chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của các NHTM. Đây được xem là chính sách ưu  tiên và trọng tâm trong chuỗi giải pháp của hai nước. Ngân hàng trung ương Trung  Quốc PBC đã thành lập 4 công ty quản lý tài sản, có trách nhiệm xử lí nợ  xấu cho   một số  NHTM quốc doanh. Các công ty này chịu sự  quản lý và chỉ  đạo đồng thời   của Bộ Tài chính và liên hệ chặt chẽ với các NHTM. Các công ty này đã mạnh dạn  cho chứng khoán hóa các khoản nợ của NHTM và mua lại chúng nhằm thổi vốn vào  tình trạng cạn kiệt của các ngân hàng. Trong khi đó, Bộ Tài chính, Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) và   Cục Dự trữ liên bang (FED) của Hoa Kỳ đã cho ra đời ngân quỹ (dưới dạng các gói  tiền 200 tỷ USD, 500 tỷ USD hay thậm chí là 700 tỷ USD) nhằm bảo lãnh cho việc   chứng khoán hóa các khoản nợ xấu. Đây là hai động thái giống nhau về bản chất, chính là mua cổ phiếu ưu đãi –  mua cổ phiếu với mức lợi tức không phụ thuộc vào lợi nhuận và cũng không được  tham gia điều hành ngân hàng – do các NHTM phát hành nhằm tạo vốn cho các   NHTM đang lâm nợ có thể tái cấu trúc. Đồng thời, đây là cách tối ưu hóa việc chia   nhỏ rủi ro tín dụng của NHTM đến các nhà đầu tư thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, hai cường quốc này còn áp dụng biện pháp mua lại nợ xấu cho  các NHTM. Các khoản nợ xấu sẽ được phân loại và được các công ty nợ xấu hoặc   các tổ  chức tương tự  mua lại. Động thái này một mặt tạo vốn cho các NHTM để  hoạt động trong thời gian cấp bách, một phần khiến các nhà đầu tư  lạc quan hơn,   kích thích kênh đầu tư tạo cơ hội cho nền kinh tế tái hoạt động. Để bổ trợ cho giải   pháp này, các công ty nợ  xấu còn giúp những NHTM yếu kém giải quyết các vấn   đề thanh khoản tạm thời nhằm tạo động lực cho việc tái cấu trúc hệ thống. Cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng xảy ra tại Cộng hòa Ireland vào cuối   năm 2008 và đầu năm 2009, đã để lại số lượng lớn các khoản nợ xấu. Để  đối phó  với cuộc khủng hoảng ngày càng trở nên nghiêm trọng, Chính phủ Ireland đã đưa ra  sáng kiến thành lập công ty mua bán nợ  quốc gia (NAMA) năm 2009 nhằm lành  mạnh   hệ   thống   ngân   hàng.   Trong   giai   đoạn   đầu,   NAMA   đã   mua   hoặc   chuyển   nhượng tài sản nợ  trị  giá 71 tỷ  bảng Anh từ  850 con nợ  và hơn 11.000 khoản nợ  được thế chấp bằng 16.000 công trình bất động sản. Để có được các khoản nợ này,  NAMA đã phát hành chứng khoán do chính phủ  bảo lãnh cho 5 đơn vị  thành viên  của mình. NAMA có nhiệm vụ  hoạt động làm sao đem lại kết quả  kinh doanh tốt   nhất cho nhà nước từ những tài sản mua được. Ở vào thời kỳ đầu, NAMA đã mua   được 11.500 khoản vay nợ liên quan đến đất đai và nhà cửa từ  5 định chế nêu trên   13
  14. và tiếp theo sau đó là xây dựng mối quan hệ  sâu rộng với các con nợ  để  hiểu rõ   thêm hoạt động kinh doanh của họ  và bắt đầu xây dựng một chiến lược trả  nợ.   Giai đoạn cuối cùng và lâu dài nhất là đề  ra một loạt các cột mốc cắt giảm nợ  nhằm hoàn tất việc chi trả  đầy đủ  nghĩa vụ  của cả  các con nợ  và các khoản vay  của NAMA vào năm 2019. Nhiều nước  ở  châu Á như  Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc và Thái Lan đã   thành lập công ty quản lý tài sản tập trung để  xử  lý nợ, thu hồi và cơ  cấu lại các  khoản nợ  xấu của ngân hàng. Một đặc điểm chung của các công ty này là tất cả  đều được Chính phủ tài trợ vốn, tổ chức tập trung hơn là sử dụng mô hình chỉ dựa   vào ngân hàng. Hầu hết các công ty quản lý tài sản  ở  các nước châu Á chỉ  hoạt   động trong một số năm nhất định. Các công ty này cũng có quyền hạn đặc biệt để  cắt giảm một số thủ tục pháp lý. Thái Lan thực hiện xử lý nợ xấu bằng 3 giải pháp  cơ bản. Các giải pháp này bao gồm: ­ Bơm vốn trực tiếp. ­ Thành lập công ty quản lý tài sản AMC (Asset Management Company)  ­ Trung gian tái cơ cấu nợ CDRC (Corporate Debt Restructuring Committee) Trong đó AMC là một trong những giải pháp mà Thái Lan đã áp dụng khá   hiệu quả từ thời kỳ khủng hoảng cho đến nay. Đối với các khoản vay có thế  chấp không còn khả  năng trả  nợ, AMC thực   hiện tịch thu tài sản thế chấp và bán thanh lý để hoàn phần vốn vay dựa trên nguyên  tắc chia sẻ lời­lỗ. Đối với các khoản vay mà AMC nhận thấy còn khả năng trả nợ,   AMC đã chủ  động phối hợp với các cơ  quan đại diện cho các khu vực kinh tế  để  đưa ra các giải pháp khôi phục lại hoạt động sản xuất kinh doanh của các khu vực   đó, tạo nguồn vốn trả nợ. Và chỉ sau vài năm, hết quý 2/2003 số nợ xấu được AMC  giải quyết đạt 73,46% tổng số nợ cần xử lý. Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng   thương mại Thái Lan giảm rõ rệt xuống từ  gần 13% năm 2003 xuống 10% năm  2004 và đến quý 4/2011 ở mức không quá 4%. Bên cạnh đó, một giải pháp được các các nước sử dụng là gắn giải quyết nợ  xấu với tái cấu trúc ngân hàng và tái cấu trúc kinh tế. Biện pháp này được đánh giá   là mang tính cơ  bản, vì ngoài vấn đề  xử  lý nợ  xấu nó còn giúp ngăn chặn nợ  xấu  gia tăng. Đối với Nhật Bản, họ tập trung nhiều hơn vào việc tái cơ cấu hệ thống ngân  hàng. Không giống với một số nước, toàn bộ  số  tiền thành lập Tập đoàn Tái thiết   công nghiệp Nhật Bản (IRCJ) là của các ngân hàng chứ  không phải từ  nhà nước.  Cách làm của IRCJ là lựa chọn các tập đoàn, công ty cần phải tái thiết, sau đó sẽ  14
  15. tách đơn vị   ấy thành nhiều phòng, ban và đánh giá hiệu quả  hoạt động của từng  phòng, ban. Nếu một ban không sinh lời, tập đoàn có thể bán ban đó kèm chiết khấu  dựa vào giá trị tài sản sau khi định giá. Cuối cùng, nguồn lực sẽ được một cách có   chọn lọc vào những phòng, ban làm ăn có lãi hoặc có sức cạnh tranh. 1.3.2. Đánh giá thực tế xử lý nợ xấu tại Việt Nam Nợ  xấu không chỉ  là vấn đề  riêng có của Việt Nam mà nhiều quốc gia lớn,  nhỏ trên thế giới cũng đã và đang đối phó với vấn đề này. Có quốc gia thành công ,   có quốc gia gặp phải thất bại, khó khăn trong thời gian đầu... Các hình thức được   dùng để xử lý nợ xấu rất đa dạng nhưng chủ yếu vẫn là phương pháp mua bán nợ  thông qua thành lập các công ty Quản lý tài sản (AMC), chứng khoán hóa các khoản   cho vay... Hiện nay, công tác xử lý nợ xấu của Việt Nam mới đi được những bước nhỏ  đầu   tiên, chủ yếu là qua hai biện pháp chính: các NHTM tự xử lý nợ xấu của mình thông   qua các biện pháp phát mại tài sản, cơ cấu nợ, giãn nợ... và thực hiện mua bán nợ  thông qua các Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản – VAMC trực thuộc NHNN   và AMC trực thuộc các  NHTM.  Tuy nhiên   VAMC này mới bắt đầu chính thức đi vào hoạt động trong vào   ngày 26/07/2013 và các quy chế hoạt động, trong đó các ngân hàng có nợ  xấu/tổng  dư  nợ  trên 3% sẽ  bắt buộc phải bán nợ  xấu cho VAMC. Tuy nhiên, ngay cả  các   ngân hàng lớn có tỷ  lệ  nợ  xấu dưới mức an toàn cũng đua nhau xin bán nợ  cho  AMC.Cụ  thể, Agribank cho biết sẽ  bán khoảng 5.000­10.000 tỷ  đồng nợ  xấu cho   VAMC từ nay đến cuối năm 2013.Vietcombank dự kiến bán khoảng 1.000 tỷ đồng  nợ xấu, đại diện MHB cũng cho biết trong quý 4/2013 ngân hàng này sẽ bán khoảng  500 tỷ đồng nợ xấu và đến hết năm 2014 sẽ bán khoảng 1.500 tỷ đồng nợ xấu cho   VAMC.Ngoài ra, BIDV cũng đang lên danh sách và dự kiến chốt danh sách nợ xấu  bán cho VAMC vào cuối tháng 10/2013, SCB cũng chuẩn bị  kế  hoạch bán nợ  xấu  lần 2 sau khi đã bán hơn 1.000 tỷ đồng cho VAMC.  Điều này cho thấy khả năng tự  xử lý nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam là quá kém và không khả thi. Do VAMC mới chỉ vừa được đưa vào hoạt động nên các quy định mua bán nợ  xấu còn lỏng lẻo và chưa hoàn thiện, khả năng tài chính còn yếu trong khi nhu cầu   bán nợ xấu từ các ngân hàng là rất lớn. Cơ chế xin­ cho tại Việt Nam cùng với tình  trạng  thiếu công bằng  trong các  hoạt  động  thực  tế,  sự   ảnh  hưởng  của  lợi  ích  nhóm... hiện nay  cũng đặt ra một câu hỏi lớn về tính minh bạch của VAMC. Liệu   khi đưa VAMC vào hoạt động thì tổ chức này có thực hiện đúng vai trò ban đầu, vì  15
  16. lợi ích chung hay chỉ hướng tới phục vụ lợi ích một nhóm thiểu số hoặc lại là một  miếng bánh béo bở trong tình trạng tham ô, tham nhũng hiện nay. Về  công tác tự  xử  lý nợ  xấu của các NHTM, một trong những nguyên nhân  khiến khả năng các ngân hàng không có khả năng xử lý nợ xấu là ảnh hưởng từ sự  đóng băng của thị  trường bất động sản, thị  trường chứng khoán suy yếu, nền kinh  tế  tăng trưởng chậm, hàng tồn kho lên cao. Các ngân hàng cho vay lại quá phụ  thuộc vào tài sản thế chấp. Do vậy, các ngân hàng khó có thể thu hồi nợ xấu thông   qua phát mại tài sản .Thêm nữa, bản thân cơ cấu tín dụng của các  ngân hàng thời   gian trước cũng đầu tư quá nóng vào lĩnh vực bất động sản, nên khi thị  trường này  đóng băng thì tỷ lệ nợ xấu không chỉ lên cao mà còn khó có khả năng thu hồi cả gốc   và lãi. Tình trạng sở  hữu chéo khiến cho mục đích cấp vốn ban đầu bị  bóp méo,  ngân hàng không quản lý được vốn hoặc bị chi phối bởi các mục đích bên ngoài của   một nhóm cá nhân. Hệ thống thông tin nội bộ giữa các ngân hàng cũng không có sự  liên kết nên trong những năm vừa qua sảy ra nhiều vụ  việc nhiều ngân hàng cùng  cho vay dựa trên 1 TSĐB ví dụ như  sự kiện 7 ngân hàng cùng tranh chấp một kho   cà phê gần đây. Những cơ chế thiếu minh bạch , lỏng lẻo trên đã đẩy ngân hàng vào  thế bị động trong việc thu hồi nợ xấu. Nợ  xấu  ở  bản thân các ngân hàng đã tiềm tàng từ  lâu nhưng còn bị  che giấu   hoặc bị  đánh giá sai lệch   so với thực tế. Việc tăng trưởng tín dụng nóng trong   những năm 2009­2010 đã để  lại hệ  lụy là nợ  xấu bùng phát dữ  dội vào năm 2011  đến nay. Và cho dù nợ xấu có đang bùng nổ thì bản thân công tác đánh giá nợ xấu  hiện giờ của các ngân hàng còn cách xa so với thực tế. Nợ xấu vẫn còn là tảng băng   chìm vẫn chưa nổi lên hết và là một mối đe dọa vẫn còn treo lơ lửng phía trước. Việt Nam hoàn toàn có thể  học hỏi từ  những biện pháp xử  lý nợ  xấu từ  các   nước đi trước. Nhưng trước khi triển khai những biện pháp mạnh mẽ  trực tiếp xử  lý nợ xấu thì Chính phủ, NHNN và các NHTM cần có những biện pháp để hạn chế  nợ  xấu thông qua tái cấu trúc nền kinh tế, minh bạch thủ  tục cho vay, xử  lý rứt   điểm  tình trạng sở hữu chéo và lợi ích nhóm..... Đặc biệt, cần có những biện pháp   để phá băng thị trường bất động sản, xử lý hàng tồn kho, phục hồi thị trường chứng  khoán... để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và mở lối thoát cho các doanh nghiệp.  Như vậy, để xử lý “cục máu đông” nợ xấu cần sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất  giữa các cơ quan chức năng và mọi thành phần kinh tế để ngành ngân hàng nói riêng  và nền kinh tế Việt Nam nhanh chóng phục hồi và phát triển. 16
  17. CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ CÁC BIỆN PHÁP  XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI  NGÂN  HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM –  VIETCOMBANK 2.1. Giới thiệu về Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam  2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Vietcombank 2.1.1.1.  Thông tin chung:  Tên giao dịch:  + Tên   công   ty   viết   bằng   tiếng   Việt:   NGÂN   HÀNG   THƯƠNG   MẠI   CỔ  PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM. + Tên công ty viết bằng tiếng anh: JOINT STOCK COMMERCIAL BANK   FOR FOREIGN TRADE OF VIET NAM + Tên giao dịch: VIETCOMBANK + Tên viết tắt: VCB  Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp: + Mã số doanh nghiệp: 01001124 + Đăng kí lần đầu ngày 02/6/2008, Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số  0103024468 do Sở  Kế  hoạch và Đầu tư  TP Hà Nội cấp ngày 02/6/2008. Đăng kí  thay đổi lần thứ 7 ngày 10/01/2012 Vốn điều lệ  ( Vốn đầu tư  của chủ  sở  hữu) : Hai mươi ba nghìn   một trăm bảy mươi bốn tỷ  một trăng bảy mươi triệu bảy trăm sáu mươi nghìn   đồng Mã cổ phiếu: VCB Mệnh giá cổ phần: 10.000 đồng Tổng số cổ phần: 2.317.417.076 Trụ  sở  chính: 198 Trần Quang Khải, Phường Lý Thái Tổ, Quận  Hoàn Kiến, Tp. Hà Nội, Việt Nam Website: www.vietcombank.com.vn 2.1.1.2.  Lịch sử hình thành:  Vietcombank tiền thân là Sở  Quản lý Ngoại hối thuộc Ngân hàng Quốc gia  Việt Nam được thành lập ngày 20/01/1955 theo Nghị định 443/TTg của Thủ  tướng  Chínhphủ. Năm 1961, Sở  Quản lý Ngoại hối được đổi tên thành Cục ngoại hối   17
  18. thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo Nghị định 171/CP ngày 26/10/1961 của   Hội đồng Chính Phủ. Cơ quan này vừa là một cục, vụ  thuộc Ngân hàng Nhà nước  Việt Nam thực hiện chức năng tham mưu, nghiên cứu chính sách quản lý nhà nước  trong lĩnh vực ngoại hối, đồng thời tiến hành các hoạt động nghiệp vụ  kinh doanh  của một ngân  hàng thương mại đối ngoại. Giai đoạn 1963­1975: Ngày 01/04/1963, Vietcombank chính thức khai trương hoạt động theo Nghị  định số 115/CP ngày 30/10/1962 do Hội đồng Chính phủ ban hành trên cơ sở tách ra   từ Cục Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trong giai đoạn 1963  – 1975, thời kỳ  chiến tranh chống Mỹ  ác liệt, Vietcombank đã đảm đương thành  công nhiệm vụ lịch sử lớn lao là một ngân hàng thương mại đối ngoại duy nhất tại   Việt Nam, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế miền Bắc, đồng thời hỗ trợ chi  viện cho chiến trường Miền Nam. Để  tiếp nhận nguồn vốn viện trợ  ngoại tệ, tháng 4/1965 theo chỉ  thị  của Bộ  Chính trị, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thành lập một tổ  chức chuyên trách   nghiệp vụ thanh toán đặc biệt với bí danh B29 tại Vietcombank. Ra đời với một cơ  cấu tổ  chức rất gọn nhẹ, B29 hoạt động đơn tuyến và bảo mật đến mức tối đa  được đặt dưới sự  chỉ  đạo trực tiếp của Bộ  Chính trị  và Thường vụ  Trung  ương  Cục Miền Nam. Với trên 10 người hoạt động trong thời gian 10 năm, Quỹ Ngoại tệ  đặc biệt B29 đã tham gia vận chuyển và chuyển khoản một lượng lớn ngoại tệ, chi  viện cho chiến trường miền Nam. Giai đoạn 1976­1990:  Thời kì này, Vietcombank đã trở thành ngân hàng đối ngoại duy nhất của Việt   Nam trên cả  3 phương diện: Nắm giữ ngoại hối của quốc gia, thanh toán quốc tế,   cung  ứng tín dụng xuất nhập khẩu. Sau 1975, Vietcombank tiếp quản hệ  thống   ngân hàng của chế độ  cũ, tham gia đàm phán giảm, hoãn thành công nợ  Nhà nước   tại   Câu   lạc   bộ   Paris,   London.   Trong   điều   kiện   bị   bao   vây   cấm   vận   kinh   tế,   Vietcombank tiếp tục nhận viện trợ, tìm kiếm các nguồn vay ngoại tệ, đẩy mạnh   thanh toán quốc tế  để  phục vụ  sự  nghiệp khôi phục đất nước sau chiến tranh và   xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội. Giai đoạn 1991­2007:  Vietcombank đã chính thức chuyển từ  ngân hàng chuyên doanh đối ngoại trở  thành một ngân hàng thương mại nhà nước có hệ  thống mạng lưới trên toàn quốc  và quan hệ ngân hàng đại lý trên khắp thế giới. Vietcombank cũng là ngân hàng đầu   18
  19. tiên triển khai và hoàn thành Đề án tái cơ cấu (2000­ 2005)mà trọng tâm là nâng cao  năng lực tài chính, quản trị điều hành, đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm, dịch  vụ ngân hàng hiện đại, đóng góp cho sự ổn định và phát triển kinh tế, đồng thời tạo  dựng uy tín đối với cộng đồng tài chính khu vực và toàn cầu.. Giai đoạn 2007­2012: Năm 2007, VCB tiên phong cổ  phần hóa trong ngành ngân hàng và thực hiện   thành công phát hành cổ  phiếu lần đầu ra công chúng. Ngày 02/6/2008, VCB đã  chính thức hoạt động theo mô hình ngân hàng thương mại cổ phần. Ngày 30/6/2009,  VCB niêm yết cổ  phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán TP. HCM. Tháng 09/2011  VCB ký kết Hợp đồng cổ  đông chiến lược với Mizuho Corporrate Bank. Đến nay,   VCB đã trở thành NHTM có tổng tài sản gần 20 tỷ đô la Mỹ, có quy mô lợi nhuận  hàng đầu Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như  thanh toán xuất nhập khẩu, kinh   doanh ngoại tệ, thẻ... 2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Vietcombank Vietcombank hiện được tổ  chức hoạt động theo mô hình trong đó ngân hàng  thương mại giữ  vai trò là mảng hoạt động kinh doanh chính, hoạt động như  một   công ty mẹ; các hoạt động tài chính và phi tài chính khác có vai trò như  các công ty  con.  Cơ cấu bộ máy quản lý của Vietcombank 19
  20. ­ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ gồm có 1 Chủ tịch và 7 thành viên: 1. Ông NGUYỄN HÒA BÌNH   : Chủ tịch HĐQT 2. Ông NGUYỄN PHƯỚC THANH   : Ủy viên HĐQT, Tổng Giám đốc 3. Ông NGUYỄN ĐĂNG HỒNG   : Ủy viên HĐQT 4. Ông LÊ ĐẮC CÙ   : Ủy viên HĐQT 5. Ông NGUYỄN DANH LƯƠNG   : Ủy viên HĐQT, kiêm Phó TGĐ 6. Ông YAKUTA ABE   : Ủy viên HĐQT, kiêm Phó TGĐ 7. Bà LÊ THỊ KIM NGA   : Ủy viên HĐQT  8. Bà LÊ THỊ HOA   : Ủy viên HĐQT ­ BAN KIỂM SOÁT gồm có 1 Trưởng Ban Kiểm soát và 3 thành viên: 1. Bà TRƯƠNG LỆ HIỀN   : Trưởng Ban Kiểm soát 2. Bà VŨ THỊ BÍCH VÂN   : Thành viên Ban Kiểm soát 3. Bà LA THỊ HỒNG MINH   : Thành viên Ban Kiểm soát 4. Bà ĐỖ THỊ MAI HƯƠNG   : Thành viên Ban Kiểm soát ­ BAN ĐIỀU HÀNH gồm có 1 Tổng Giám đốc và 8 phó Tổng Giám đốc: 1. Ông NGUYỄN PHƯỚC THANH   : Tổng Giám đốc 2. Ông NGUYỄN DANH LƯƠNG   : Phó Tổng Giám đốc 3. Ông YUTAKA ABE   : Phó Tổng Giám đốc 4. Ông NGUYỄN VĂN TUÂN   : Phó Tổng Giám đốc 5. Ông PHẠM QUANG DŨNG   : Phó Tổng Giám đốc 6. Ông PHẠM THANH HÀ  : Phó Tổng Giám đốc 7. Ông ĐÀO HẢO   : Phó Tổng Giám đốc 8. Bà TRƯƠNG THỊ THÚY NGA  : Phó Tổng Giám đốc 9. Ông ĐÀO MINH TUẤN   : Phó Tổng Giám đốc Bà PHÙNG NGUYỄN HẢI YẾN  : Kế toán trưởng 2.1.3. Hoạt động tín dụng tại Vietcombank hiện nay. Trong bối cảnh nhiều khó khăn, VCB đã bám sát các chỉ  tiêu đã đề  ra và các  diễn biến của thị  trường. Năm 2012, với phần vốn mới từ  cổ  đông chiến lược   Mizuho Corporate, vốn điều lệ của VCB đã lên mức 23.174 tỷ đồng. Tính đến thời   điểm cuối năm, dư  nợ  cho vay khách hàng của VCB đạt mức tăng 15,16% so với   năm 2011, cao hơn tốc độ tăng trưởng của toàn ngành, huy động vốn từ nền kinh tế  tăng trưởng 25,76% và tổng tài sản tăng trưởng 13,02% so với năm 2011. Lợi nhuận  trước thuế hợp nhất năm 2012 đạt 5.765 tỷ đồng, tăng 1,17% so với năm 2011. Bên  cạnh duy trì các chỉ tiêu tăng trưởng và hiệu quả, VCB luôn đảm bảo duy trì các hệ  20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản