intTypePromotion=1

Cẳm nang chữa bệnh cho pc

Chia sẻ: Nguyễn Sơn Trà | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:9

1
275
lượt xem
163
download

Cẳm nang chữa bệnh cho pc

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thật là cú sốc nếu vào một buổi sáng bận rộn, bạn khởi động máy PC và thấy nó chết cứng. Trong trường hợp này, hãy lạc quan và thực hiện theo các bước sau: Kiểm tra những gì rõ rệt nhất. Hãy xem tất cả các dây cáp hệ thống có cắm bình thường không. Tìm đầu mối.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cẳm nang chữa bệnh cho pc

  1. Máy bị treo và không phục hồi được Thật là cú sốc nếu vào một buổi sáng bận rộn, bạn khởi động máy PC và th ấy nó ch ết cứng. Trong trường hợp này, hãy lạc quan và thực hiện theo các bước sau: Kiểm tra những gì rõ rệt nhất. Hãy xem tất cả các dây cáp hệ thống có cắm bình th ường không. Tìm đầu mối. Khởi động lại PC và theo dõi kỹ màn hình xem có manh m ối về h ỏng phần c ứng không. Nếu các thành phần khởi động tốt thì một thông báo xác nhận sẽ xuất hiện trên màn hình. Khi có m ột thành phần gặp sự cố, PC có thể hiển thị thông báo lỗi về sự cố này. An toàn. Khởi động Windows trong chế độ Safe bằng cách giữ F8 ngay trước khi Windows kh ởi đ ộng. Chọn Safe Mode từ Startup Menu của Windows để tải riêng hệ điều hành, không có các driver và các chương trình khác. Khởi động lại. Nếu PC khởi động trong chế độ Safe, hãy khởi động lại, trở về Startup Menu c ủa Windows và chọn Step-by-step confirmation. Nó sẽ tải m ỗi lần một driver. N ếu may m ắn, b ạn s ẽ xác định được driver hay thiết bị nào là thủ phạm. Đọc phần giải thích. Nếu PC vẫn trục trặc, hãy khởi động lại, vào Startup Menu và ch ọn Logged (\bootlog.txt). Nhờ vậy sẽ tạo ra một file log gọi là bootlog.txt trong folder g ốc ghi l ại t ừng b ước c ủa quá trình khởi động và xác nhận bước đó thành công hoặc thất bại. Đi đến kết luận. Mặc dù file log mang tính kỹ thuật, nhưng kiểm tra nó bằng một trình văn b ản s ẽ có th ể cung cấp đầu mối cho bạn. Nếu không thì nó cũng có ích cho người hỗ trợ kỹ thuật. Lưu trữ Thiếu bộ nhớ ảo Tôi không thay đổi máy tính và các ứng dụng đã vài năm, bỗng dưng gần đây l ại th ấy xu ất hi ện thông báo 'insufficient memory' (không đủ bộ nhớ) khi tôi mở một số bảng tính. Đi ều gì x ảy ra với bộ nh ớ c ủa máy? Thật là một câu hỏi hóc búa. Có vẻ như vấn đề không phải ở bộ nhớ. Có thể sau nhiều năm sử dụng đĩa cứng của bạn đã chật cứng. Windows cần chỗ trống trên đĩa để xử lý file tráo đ ổi - là n ơi ch ứa d ữ li ệu khi RAM bị trưng dụng hết. Nếu bạn mở các bảng tính lớn hay nhiều ứng dụng mà đĩa c ứng đã đ ầy, file hoán chuyển không thể làm việc bình thường. Bạn có hai lựa chọn: giải phóng đĩa bằng cách xóa hay chuyển dời các file, ho ặc di chuy ển file hoán chuyển sang nơi khác (partition hay ổ cứng bổ sung) có nhiều ch ỗ h ơn. Để chuyển file hoán chuy ển đi, nhấn phím phải vào My Computer, chọn Properties, nhấn vào ô Performance trong h ộp tho ại System Properties. Nhấn nút Virtual Memory và chọn Let me specify my own virtual memory settings. H ộp 'Hard disk' sẽ liệt kê các partition và đĩa hiện có đồng thời cho biết dung l ượng còn trống c ủa t ừng cái. Đĩa bị co lại Tôi mua một ổ đĩa mà tôi cho là loại EIDE 2 GB và cài đặt nó vào hệ th ống Pentium II m ới b ằng tính năng tự động phát hiện (autodetect) trong chương trình thiết lập CMOS, nhưng Windows l ại báo ổ đĩa ch ỉ có 504 MB. Có phải tôi đã bị lừa? Không phải. Nhưng người ta thường nói: "Đừng nên tin ai, ngay c ả chính mình". Có th ể bạn đã cài đ ặt đĩa cứng sai trong chương trình thiết lập CMOS. Hãy trở lại chương trình t ự phát hiện c ủa CMOS và th ử cài đặt lại đĩa cứng. Chương trình sẽ đưa ra vài lựa chọn cấu hình. Có thể lần trước bạn đã ch ọn nhầm c ấu hình để máy tính hiểu rằng ổ đĩa mới là loại IDE (kích thước hạn chế ở m ức 504 MB). Lần này hãy ch ọn phương án LBA (Logical Block Addressing), nó cho phép PC của bạn định c ấu hình ổ đĩa l ớn h ơn 504 MB. Chính và phụ Tôi không thể nào làm cho máy tính của mình nhận biết được ổ cứng mới. Tôi đã cài đặt nó vào cùng cáp
  2. EIDE điều khiển ổ cứng đầu tiên và thử thiết lập nó trong CMOS nhưng không thành công. Không sao đâu. Khi bạn kết nối hai đĩa cứng hay các thiết bị EIDE khác vào cùng m ột cáp, m ột thi ết b ị phải được chỉ định là "chính" (master) và một là "phụ" (slave). Nếu ổ ban đ ầu c ủa bạn là ổ kh ởi đ ộng, nó được thiết lập là ổ chính. Có thể ổ mới cũng được thiết lập là ổ chính và vì vậy hệ th ống không "thấy" được nó. Muốn khắc phục điều này, bạn chỉ cần thay đổi jumper trên ổ m ới để đặt thành ổ ph ụ. Bạn sẽ tìm thấy các thông số thiết lập jumper ngay trên ổ cứng hoặc trong tài liệu kèm theo. N ếu trên ổ c ứng không ghi sẵn, bạn nên lấy bút ghi thẳng lên đó để tiện tham khảo sau này. * Nâng cấp BIOS, 59 USD đến 79 USD; Micro Firmware; www.firmware.com * PartitionMagic 70 USD; PowerQuest; www.powerquest.com Vấn đề âm thanh Cả ổ CD-ROM và loa của tôi đều hoạt động tốt khi tôi chơi các trò chơi nh ư Flight Simulator hay Tomb Raider. Nhưng khi đưa CD nhạc vào thì tôi lại không nghe được gì. Có đi ều khi ển âm thanh riêng cho CD nhạc không? Không, mà bạn cũng không cần đến. Vấn đề của bạn khá phổ biến. Tín hiệu từ CD audio, bỏ qua m ọi hoạt động bên trong PC, đi từ ổ CD-ROM đến card âm thanh nhờ một dây cáp nh ỏ. Vì th ế không ít tr ường hợp dây cáp này tiếp xúc kém hoặc hoàn toàn không còn tác dụng. Hãy n ối l ại cáp ho ặc mua cáp m ới v ới giá khoảng 5 USD. Trong bụng quái vật ẩn bên dưới màn hình nhiều màu sắc và các biểu tượng ngạo mạn của Windows là BIOS, m ột ph ần m ềm nhỏ bé với các lệnh đơn giản nhằm kiểm soát những phần cơ bản nhất của PC. Trong khi BIOS bi ết cách đọc đĩa mềm 720 KB và 1,44 MB thì nó lại không biết hệ thống của bạn có loại ổ gì (hoặc có ổ đĩa m ềm hay không). Cần phải cho BIOS biết những điều này khi bật PC. Đó chính là thông tin đ ược l ưu trong các thông số thiết lập CMOS của bạn. CMOS dựa trên một chip nhỏ được nuôi bằng pin, ho ạt đ ộng c ả khi máy PC đã tắt. Ngày nay, mỗi BIOS có một chương trình thiết lập CMOS mà bạn có th ể s ử d ụng đ ể đ ịnh cấu hình và giải quyết trục trặc cho các thành phần cơ bản của PC. Có nhiều cách khác nhau để vào chương trình thiết lập CMOS. Hầu hết các PC đều có thông báo xu ất hiện trên màn hình khi bạn bật máy, cho biết cần nhấn DEL, F1 hay phím nào khác đ ể m ở ch ương trình này. Nếu không nhìn thấy thông báo, bạn nên tham khảo sách hướng dẫn. Không phải tất cả các chương trình thiết lập CMOS đều thể hiện giống nhau. Các nhà sản xuất BIOS khác nhau thường sử dụng thuật ngữ khác nhau cho cùng thông số thi ết lập. Nh ưng bạn s ẽ d ễ dàng nh ận biết được phần lớn các thông số bạn cần. Trong trường hợp không nắm rõ về thông s ố nào đó, bạn có thể tham khảo trong cuốn hướng dẫn kèm theo hệ thống hoặc bo mẹ. Kinh nghiệm khi làm việc trong CMOS: đừng cắt hết mọi đường thoái lui. Vô tình thay đ ổi sai thông s ố có thể làm máy ngưng hoạt động. Khi vào chương trình thiết lập, hãy tìm ch ức năng 'Exit Without Saving Changes' (thoát mà không lưu những thay đổi) hoặc tương tự. Sau này, n ếu bạn có chút nghi ng ờ là đã thay đổi một thông số không quen thuộc thì hãy chọn lối thoát này. Để an toàn, nhớ sao lưu tất cả thiết lập CMOS trước khi có bất kỳ thay đ ổi nào. Nhiều ch ương trình có thể giúp bạn làm việc này, kể cả Norton Utilities; hoặc cũng có thể ghi l ại bằng tay. Phải cảnh giác với những lựa chọn 'Load BIOS Defaults' (tải các thông s ố mặc đ ịnh c ủa BIOS) vì b ạn không thể biết chắc các giá trị thiết lập mặc định này có phải là giá trị tối ưu ban đ ầu không. Các nhà s ản
  3. xuất PC thường thay đổi thiết lập BIOS để phù hợp với PC của họ và các cấu hình riêng. Cuối cùng, biện pháp duy nhất để giải quyết một số xung đột phần cứng là nâng cấp BIOS bằng phiên bản mới nhất của nhà sản xuất. Phần lớn các PC hiện nay chứa flash BIOS cho phép nâng cấp thông qua chương trình phần mềm có được từ nhà sản xuất hệ thống. Bạn có thể xác định phiên bản BIOS đang dùng của mình khi quan sát màn hình khởi động. Vào bên trong máy Khi đã quyết định tự sửa lỗi phần cứng, sớm hay muộn gì bạn cũng có lúc phải tháo nắp máy và thò tay vào bên trong. Nhưng đừng vội manh động trước khi tiến hành những bước sau: Tháo cáp. Chỉ tắt máy cũng chưa đủ. Nhiều hệ thống vẫn còn có dòng điện dù nhỏ khi đã t ắt. Để an toàn bạn phải rút cả modem và cáp mạng ra. Sắp xếp có tổ chức. Nên hình dung trước những công việc bạn sẽ làm bên trong PC. Bạn cần có ch ỗ đ ể "vật lộn" với các card mở rộng và chip bộ nhớ, đồng thời làm sao để nhìn rõ đ ược m ọi th ứ. Nối đất. Người bạn có thể tích điện đủ để bị giật bởi những dòng điện nhỏ trong máy tính. Bi ện pháp bảo vệ tốt nhất là đeo dây nối đất vào cổ tay (có bán ở các cửa hàng đồ điện tử). Iít nh ất cũng nên ch ạm tay vào vỏ kim loại của PC trước khi xử lý mạch điện bên trong. Cẩn thận. Khi kéo hay đẩy các card bổ sung, đừng quên là mạch điện của chúng rất mỏng manh. Không bao giờ nên vặn, xoắn card mở rộng. Nhấn card vào khe cắm mở rộng đôi khi cũng phải h ơi m ạnh tay, nhưng nhớ từ từ thôi. Dùng công cụ chuẩn. Đừng bao giờ làm việc với máy tính bằng những thứ đồ linh tinh ti ện tay v ớ đ ược như dao, kẹp giấy, chúng có thể gây tổn thương cho bạn cũng như cho máy. Đảm bảo về driver Driver phần mềm mà bạn có kèm theo card video có thể đã lỗi thời. Để có đ ược driver t ốt nhất, hãy l ưu ý đến những lời khuyên khôn ngoan này: Tìm đúng phiên bản. Tìm hiểu số model và số series chính xác của thiết bị phần cứng trước khi vào Web site của nhà sản xuất để tải driver. Đừng nhầm lẫn. Lưu ý đừng lấy nhầm bản beta của driver, nó có thể gây rắc rối cho h ệ th ống c ủa bạn. Làm theo chỉ dẫn. Hãy đọc tài liệu và làm theo những gì nó hướng d ẫn. Nhà s ản xuất bao gi ờ cũng n ắm rõ nhất cách cài đặt các driver của họ. Trước tiên phải gỡ bỏ các driver cũ. Khi thay thế một card hiện hữu, phải lo ại bỏ driver cũ trước khi cài đặt phần cứng mới. Vào Device Manager bằng cách nhấn phím phải chuột lên My Computer và ch ọn Properties. Tìm thiết bị cũ rồi nhấn nút Remove. Vì bạn không th ể lo ại bỏ card đ ồ h ọa trong Device Manager, hãy thay đổi driver của nó thành driver VGA chuẩn c ủa Windows. Không bao giờ ngắt giữa chừng quá trình cài đặt driver. Nếu có thay đ ổi ý đ ịnh, bạn cũng ph ải hoàn t ất quá trình cài đặt driver rồi hãy gỡ bỏ nó. Nếu dừng giữa chừng có th ể làm thay đ ổi hoặc h ỏng các file h ệ thống chủ chốt. Không cần phiên bản mới nhất. Nếu card đồ họa, card âm thanh và những th ứ t ương t ự đang làm vi ệc t ốt thì việc gì phải nâng cấp lên phiên bản driver m ới nhất? Hãy xem xét m ọi chi ti ết trong Web site c ủa công ty xem có nhất thiết phải chuốc thêm phiền phức hay không. Các IRQ, DMA ... Ai đã từng cài đặt card và các thiết bị ngoại vi thời DOS và Windows 3.x còn th ịnh hành h ẳn s ẽ bi ết r ất rõ cảm giác hoảng sợ khi nhắc tới IRQ, DMA, hay địa chỉ I/O. Giải tỏa nỗi lo lắng này quả không dễ. Windows 9x đã làm cho qui trình dễ dàng hơn chút ít nhưng không có nghĩa là hoàn toàn không b ị s ự c ố. Nếu muốn gán IRQ riêng của mình, bạn phải tới ô Resources của từng thiết bị và bỏ ch ọn Use automatic settings. IRQ, DMA và địa chỉ I/O (thường được gọi là tài nguyên hệ thống) được gán riêng cho t ừng bộ phận
  4. trong máy tính. Chúng điều khiển dòng dữ liệu lưu thông một cách trật tự gi ữa các bộ phận và máy tính. Nếu có 2 bộ phận cùng dùng chung một nguồn tài nguyên, chẳng hạn modem và chuột đều đ ược thi ết lập là IRQ 3, thì hệ thống có thể gặp sự cố. Cũng may là Windows 9x, bus PCI và công ngh ệ Plug-and- Play đã hợp sức làm tốt công việc phân bổ tài nguyên mỗi khi khởi động hệ th ống. Nhưng xung đ ột v ẫn có thể xảy ra, đặc biệt là đối với các loại card cũ, không hỗ trợ Plug-and-Play mà ch ỉ làm vi ệc v ới m ột hoặc hai nguồn tài nguyên cụ thể. Trong Windows 98, xung đột tài nguyên được liệt kê trong Hardware Resources.Conflicts\Sharing trong tiện ích System Information. Nếu là Windows 95, bạn tìm xung đ ột trong Device Manager. Dù trong trường hợp nào, nếu có xung đột tồn tại bạn cũng phải khắc ph ục ngay trong Device Manager. Giả sử bạn có một card âm thanh và một card mạng, cả hai đều không Plug-and-Play và đ ều đ ược thi ết lập là IRQ 5, nhưng theo tài liệu kỹ thuật thì card mạng còn có thể thi ết l ập l ại là IRQ 7. Nh ư v ậy, tr ước tiên, bạn phải thiết lập card mạng là IRQ 7. Sau đó giữ lại cả IRQ 5 và IRQ 7 đ ể Windows kh ỏi dùng chúng cho các thiết bị khác. Cách làm là nhấn đúp vào bi ểu t ượng Computer trong Device Manager và chọn Reserve Resources. Nếu Windows nhận biết cả hai card này cùng thi ết lập c ủa chúng thì coi nh ư xong. Còn không, bạn phải nhấn đúp vào tên của từng card trong Device Manager, t ới ô Resources và bu ộc mỗi card phải chấp nhận IRQ do bạn đưa ra bằng cách bỏ chọn Use automatic settings. Đồ HọA 3D hay không 3D? Tôi mới cài đặt card đồ họa 3D cho máy tính của mình vì trước đây máy không ch ơi đ ược game. Nh ưng với card mới máy vẫn không chơi được các game 3D. Tại sao vậy? Lạ thật! Máy tính của bạn có lẽ vẫn còn đang dùng chip đồ họa cũ. Những h ệ th ống có chip đ ồ h ọa được tích hợp ngay trên bo mạch chủ có thể tự động tìm và cài đặt card đ ồ h ọa mới. Nh ưng cũng có m ột s ố yêu cầu bạn phải vô hiệu hóa chip tích hợp bằng cách thay đổi thiết lập jumper trên bo m ạch chủ ho ặc thay đổi thiết lập trong chương trình cài đặt CMOS. Hãy quan sát trên màn hình khi máy tính kh ởi đ ộng đ ể tìm thông báo về tên của chip hoặc card đồ họa đang sử dụng. Vấn đề sẽ được xác minh nếu bạn th ấy màn hình không hiển thị tên card mới. Hỏng màn hình Màn hình của tôi mới đây xuất hiện các vệt màu sau khi sử d ụng kho ảng vài gi ờ. Đó là d ấu hi ệu màn hình sắp hỏng? Chưa hẳn. Nếu tình trạng này có thể khắc phục bằng cách tắt màn hình đi rồi bật lại thì nguyên nhân ch ỉ là những trường điện từ rải rác trên màn hình. Thay vì tắt màn hình, bạn có th ể nh ấn nút gi ải t ừ (degauss button) trên băng điều khiển của màn hình, nút này thường có hình một miếng nam châm nh ỏ. Màn hình sẽ nhấp nháy trong chốc lát rồi trở về bình thường. Màn hình rung Màn hình 19 inch mới của tôi tự nhiên bị rung. Có thể khắc ph ục đ ược không? Trước hết cần phải nói rằng độ rung của màn hình là một đặc tính liên quan đ ến tỉ l ệ "làm t ươi" (refresh) theo chiều dọc. Tỉ lệ làm tươi là số lần trong một giây màn hình vẽ lại toàn bộ hình ảnh đang hi ển th ị. Nếu tỉ lệ này dưới 70 Hz (là 70 màn hình/giây) màn hình có thể bị rung. Trung bình con s ố này ph ải n ằm trong khoảng từ 75 đến 85 Hz, thậm chí cao hơn nếu bạn thường xem hình có đ ộ phân giải cao. Bây giờ hãy kiểm tra xem card đồ họa và màn hình có làm tốt trách nhiệm c ủa mình không. Đ ể xác đ ịnh t ỉ lệ làm tươi của card đồ họa, đầu tiên bạn nhấn đúp vào biểu tượng Display trong Control Panel rồi ch ọn nhãn Settings. Sau đó nhấn nút Advanced và chọn Adapter. Bạn s ẽ nhìn th ấy m ột s ố l ựa ch ọn ở phía cu ối
  5. hộp thoại: Optimal, mặc định Adapter, và một tập hợp các tỉ lệ làm tươi riêng cho m ột s ố adapter. Không phải màn hình nào cũng hỗ trợ tất cả các tỉ lệ làm tươi, vì thế bạn ph ải xem kỹ tài li ệu h ướng d ẫn đi kèm với màn hình. Cả hai phương án Optimal và mặc định Adapter sẽ chọn m ột tỉ lệ làm t ươi dựa trên những hạn chế của màn hình. Optimal thiết lập tỉ lệ cao hơn, nhưng để Windows đưa ra m ột t ỉ l ệ t ối ưu thì nó cũng cần phải biết những giới hạn của màn hình. Nếu Windows không th ể tìm th ấy file.inf cho màn hình thì nó sẽ tự động đưa ra tỉ lệ làm tươi là 60 Hz. Chọn Monitor trong h ộp tho ại Properties c ủa adapter. Nếu màn hình của bạn không được liệt kê trong danh sách, bạn nh ất nút Change và làm theo các chỉ dẫn. Màn hình dở chứng Máy tính ở nhà của tôi có màn hình rất khác với màn hình ở c ơ quan khi hiển th ị cùng m ột hình ảnh. Màn hình máy tính ở cơ quan hiển thị hình ảnh rất rõ nét còn màn hình ở nhà thì cho hình m ờ h ơn dù đã h ết s ức điều chỉnh. Có phải màn hình cũ ở nhà của tôi sắp hỏng? Nếu nói về chất lượng hình ảnh thì không phải màn hình nào cũng nh ư nhau. Màn hình cũ có th ể đã đ ến tuổi "về hưu" vì khi thành phần phospho của màn hình trở nên già cỗi thì hình ảnh mà nó hi ển th ị b ị m ờ và nhòe. Để khắc phục tạm thời tình trạng này bạn có thể chỉnh độ tương phản và độ sáng c ủa màn hình. Tuy nhiên đừng nhầm lẫn giữa hình mờ (blurring) với hình có bóng (ghosting). Nếu hình có bóng thì có thể là do card đồ họa và màn hình kết nối với nhau chưa tốt, bạn hãy cẩn thận kiểm tra lại ch ỗ cắm này. Dây cáp "rởm" hoặc quá dài cũng là một nguyên nhân. Thử thay dây mới xem tình hình có đ ược c ải thi ện không. Trình bảo dưỡng màn hình Trình bảo dưỡng màn hình (screen saver) có giúp kéo dài tuổi th ọ c ủa màn hình? Nhận định trên chỉ đúng với màn hình monochrome. Màn hình phospho màu ngày nay ch ịu đ ựng t ốt h ơn bậc tiền bối của chúng. Vì vậy, screen saver có giá trị giải trí nhiều hơn là giúp kéo dài tu ổi th ọ. Không những thế, việc chạy screen saver còn có thể làm màn hình mau hỏng hơn. Đúng là đ ộ sáng c ủa phân t ử phospho trên màn hình sẽ bị mờ dần đi sau một thời gian sử dụng nh ưng thành phần bị h ỏng đ ầu tiên l ại là súng điện tử (electron gun), bộ phận dẫn đường cho chùm tia chiếu sáng của màn hình. Vì v ậy cách t ốt nhất để bảo dưỡng màn hình là thiết lập các công cụ quản lý màn hình đ ể màn hình đ ược t ự đ ộng t ắt đi khi không sử dụng. Trong Windows 98, bạn có thể kích hoạt và hiệu chỉnh nh ững thi ết l ập này trong m ục Power schemes nằm trong biểu tượng Power Management của Control Panel. Đơn gi ản h ơn, bạn ch ỉ c ần tắt hẳn màn hình khi không dùng đến nó trong một thời gian. Mất con trỏ Tôi mới cài đặt một phần mềm đồ họa mới và sau đó, khi làm việc trong chương trình này, con tr ỏ b ị biến mất mỗi khi tôi nhấn vào thanh menu. Vì sao vậy? Những vấn đề về đồ họa thường xảy ra khi có sự xung đột giữa ứng dụng và trình đi ều khiển đ ồ h ọa sai hoặc cũ. Để xác định xem vấn đề của bạn có phải do trình điều khiển đồ họa hay không, bạn hãy th ử cài driver VGA của Windows. Cách làm như sau: nhấn phím phải vào My Computer, ch ọn Properties, nh ấn vào nhãn Device Manager rồi chọn View devices by type, nhấn đúp vào Display adapters. Ti ếp theo, nh ấn đúp vào adapter màn hình, chọn Driver, chọn tiếp Update Driver rồi nh ấn Next. Ch ưa h ết, b ạn nh ấn vào Display a list, chọn Next, nhấn Show all hardware, chọn Standard display types trong danh sách các nhà s ản xuất và Standard Display Adapter trong danh sách Models. Nh ấn Next đ ể kết thúc. Thiết bị ngoại vi Modem của tôi phát ra tiếng ồn khi làm việc. Làm thế nào để khắc ph ục? Trong Control Panel, bạn nhấn đúp vào biểu tượng Modems rồi điểm sáng modem c ủa b ạn trong danh sách. Sau đó chọn Properties. Trong ô General bạn sẽ thấy m ột thanh trượt đi ều ch ỉnh m ức đ ộ âm thanh
  6. modem phát ra. Nếu modem của bạn không hỗ trợ tính năng này thì bạn tới ô Connection và nh ấn vào nút Advanced. Ơở đây có hộp "Extra settings" để bạn thêm một số lệnh điều khiển modem. Để modem gi ữ im lặng khi làm việc, gõ ATMO. Kết nối bị gián đoạn Tôi rất bực mình khi modem tự nhiên ngắt kết nối tới ISP. Mà điều này xảy ra rất th ường xuyên, kho ảng 2 lần/giờ. Nguyên nhân này do đâu: phần mềm, phần cứng hay ISP? Những lần mất kết nối một cách ngẫu nhiên thường xảy ra khi modem hoặc cổng tuần tự không duy trì được dòng lưu thông của dữ liệu. Sự bất lực này có thể do những điều kiện về đường dây, phần c ứng đã cũ, hoặc cả hai. Sau đây là một số cách để làm chậm lại dòng lưu thông dữ liệu và t ừ đó có th ể khắc phục được vấn đề. Đầu tiên trong Control Panel, bạn mở Modems và nhấn vào Properties. Ơở phía cuối ô General, b ạn có thể thay đổi tốc độ tối đa của modem bằng cách chọn tốc độ chậm hơn sau đó k ết n ối l ại đến ISP. Đi ều này tất nhiên làm chậm tốc độ modem, nhưng bạn lại có thể duy trì được kết nối. Bạn có thể thử cách khác là tới ô Connection trong Properties và nhấn vào nút Port settings. Có hai thanh điều khiển luồng dữ liệu thông qua cổng tuần tự. Kéo ngược hai thanh này về bên trái rồi th ử kết n ối l ại. Modem không giao tiếp được với DOS Tôi mới mua một hệ thống Celeron-433 nhưng không làm sao cho modem làm vi ệc được với các ph ần mềm giao tiếp DOS cũ. Tại sao? Nhiều hệ thống rẻ tiền có modem phần mềm (Winmodem) không làm việc được trong môi trường DOS. Modem loại này thiếu những phần cứng có trong các modem chuẩn. Thay vì s ử d ụng chip, chúng l ại dùng phần mềm lưu trên đĩa cứng để chỉ huy các hoạt động, mà những phần mềm này lại ch ỉ ch ạy trong Windows. Nếu quá yêu các chương trình DOS cũ của mình, bạn hãy bỏ tiền mua m ột modem m ới, lo ại lắp trong có giá 40 USD đến 80 USD mà thôi. Modem X Modem mới của tôi làm việc rất tốt khi kết nối Web nhưng một số tính năng, như Caller ID, l ại không có tác dụng. Tôi có phạm sai lầm khi cài đặt? Rất có thể. Nhiều vấn đề có thể xảy ra khi bạn cài đặt không đúng driver cho modem. Khi bắt đầu cài đặt một modem, Windows sẽ tìm kiếm thông tin cấu hình sao cho phù h ợp với modem đó, n ếu không th ấy thông tin cần thiết, Windows sẽ coi modem của bạn là loại chung chung, có kh ả năng th ực hi ện các ho ạt động cơ bản chứ không chứa những tính năng riêng được thiết kế đặc trưng cho lo ại modem đó. N ếu bạn cài đặt modem bằng phần mềm đi kèm thì thường không có vấn đề gì xảy ra, nh ưng cũng nên vào Web site của nhà sản xuất để xem có trình điều khiển mới không. Để biết đang dùng phiên bản trình điều khiển nào, bạn nhấn đúp vào tên modem trong Device Manager và chọn nút Driver. Nút Update Driver khởi động một trình wizard d ẫn bạn đi qua các b ước cài đ ặt m ột trình điều khiển mới từ cơ sở dữ liệu trình điều khiển của Windows có trong đĩa CD-ROM Windows, ho ặc cũng có thể trên đĩa mềm, đĩa cứng hoặc CD-ROM của nhà sản xuất modem. Rắc rối của máy in Văn bản và hình ảnh trong Word khi tôi in từ máy in laser trông c ứ nh ư bị nóng chảy ra vậy. Hãy giúp tôi! Máy in của bạn có thể đã đến lúc phải sửa chữa, nhưng trước hết bạn nên thử một s ố bi ện pháp rẻ ti ền
  7. hơn xem sao. Đầu tiên, bạn phải đọc phần "Các tình huống đối với máy in" cũng trong bài này. N ếu nh ững ch ỉ d ẫn ở đây không giúp được gì, và máy in lại là loại hỗ trợ Postscript, hãy chạy một trình đi ều khi ển Postscript. Nếu việc in ấn trở lại bình thường thì có thể nguyên nhân là do file unidrv.dll bị h ỏng. Hãy sao l ại phiên bản gốc từ đĩa CD-ROM Windows 98. Bạn cũng có thể thử bỏ qua chức năng spooling của Windows. Đây là ch ức năng chuyển tác vụ in thành một định dạng dữ liệu trung gian gọi là EMF, lưu trữ lại rồi sau đó in ra. Gửi tác vụ in trực ti ếp đ ến máy in là bỏ qua qui trình này và vì thế tránh được những xung đ ột mà máy in có th ể có v ới ch ức năng spooling trong Windows. Để tắt/mở spooling, bạn mở Details trong menu Properties và nh ấn vào Spool Settings. Máy in trục trặc? Từ ô Details của máy in bạn nhấn vào nút Spool Settings (A). Sau đó b ạn có th ể th ử bật/tắt tính năng Spooling (B) hoặc cũng có thể thay đổi định d ạng d ữ li ệu của nó đ ể có th ể s ử d ụng RAM máy in một cách hiệu quả hơn (C). Cuối cùng, bạn hãy thử in từ DOS. Cách đơn giản để làm việc này là chọn Restart in DOS mode trong menu Shutdown của Windows và chờ cho dấu nhắc DOS xuất hiện. Tại dấu nh ắc, bạn gõ dir>LPT1 và Enter. Câu lệnh đơn giản này tạo một danh sách thư mục các tên file và sau đó gửi chúng đ ến máy in. N ếu danh sách này được in ra mà không có vấn đề gì thì có vẻ như vấn đề bạn nêu là do l ỗi ph ần m ềm, ch ứ không phải lỗi phần cứng. Còn nếu cố gắng này chẳng mang lại điều gì thì hãy nhanh chóng gọi cho b ộ phận hỗ trợ kỹ thuật. Hình ảnh không đồng đều Khi tôi in file văn bản bằng máy in laser thì không có vấn đề gì x ảy ra. Nh ưng nếu là file hình ảnh thì ch ỉ in được một phần của hình ảnh đó. Tại sao? Có thể máy in không có đủ bộ nhớ để in toàn bộ hình ảnh. Nếu thường xuyên phải in đ ồ h ọa, bạn nên tăng cường bộ nhớ. Nếu máy in của bạn đã có trên 1 MB bộ nhớ thì có thể trình điều khiển máy in không s ử d ụng bộ nh ớ đó. Mở Properties của máy in bằng cách nhấn phím phải vào biểu tượng máy in trong folder Printer. Sau đó chọn Device options. Nếu thấy thiết lập bộ nhớ thì kiểm tra xem thông số có phù h ợp không. B ạn cũng có thể tới ô Details, nhấn vào nút Spool Settings và đổi thiết l ập 'Spool data format' t ừ EMF thành RAW. Việc làm này có thể làm tăng hiệu quả RAM của máy in. Phương cách cuối cùng là hạ bớt độ phân giải của máy in trong mục Graphics. Cách này làm gi ảm ch ất lượng hình ảnh của hình in ra nhưng tiết kiệm được bộ nhớ của máy in. Chuột khó điều khiển Tôi thay đổi độ phân giải của màn hình từ 640x480 thành 800x600 và th ế là con trỏ chuột tr ở nên r ất khó điều khiển. Có thể khắc phục được không? Biểu hiện bất thường của chuột thường là do có xung đột giữa trình điều khiển chuột và trình đi ều khi ển màn hình. Để xác định cụ thể, nhấn phím phải chuột vào My Computer, vào Properties và ch ọn Performance. Sau đó nhấn nút Graphics rồi đẩy con trỏ trên thanh Hardware acceleration m ột n ấc v ề bên trái. Nếu sau đó chuột hoạt động lại bình thường thì có nghĩa là bạn đã có xung đ ột v ới trình đi ều khi ển. Các vấn đề về USB Tôi có máy tính Pentium-233 chạy Windows 95 với các cổng USB gắn s ẵn, nhưng tôi không làm sao cho chuột USB hoạt động được. Chẳng lẽ USB không phải là loại Plug and Play?
  8. USB là Plug and Play. Nhưng có cổng USB không có nghĩa là chuột chắc ch ắn s ẽ làm vi ệc đ ược. Khi m ới có USB, một số máy tính được gắn cổng USB chỉ nhằm "lấy le" chứ lúc đó các đặc tả USB ch ưa ra đ ời. Để thiết lập một kết nối USB, bạn phải có đúng loại phần cứng, đúng phiên bản Windows (Win 95 OSR2 hoặc Win 9 , và đúng BIOS. Muốn biết máy tính đã có sẵn USB chưa, bạn chạy usbready.exe, một tiện ích miễn phí để kiểm tra hệ thống và cho biết máy còn cần những gì. Tải file này t ừ Web site USB (www.usb/usbready.exe). Nếu có một cổng chưa được gán chức năng, bạn có thể thêm các cổng USB với một card m ở rộng PCI như USB BusPort của Belkin giá 50 USD (www.belkin.com). Các tình huống đối với máy in Thật khó chịu nếu bạn đang muốn in một file quan trọng mà lại thấy xuất hi ện dòng ch ữ "Error writing to LPT1" trên màn hình. Rất có thể máy in bị hỏng, nhưng trước khi mang máy đi s ửa bạn th ử làm theo các chỉ dẫn sau đây: Kiểm tra nguồn điện và giấy. Phải đảm bảo là máy đã được cắm vào nguồn điện và giấy có s ẵn trong khay. Giải phóng bộ nhớ máy in bằng cách tắt máy trong giây lát rồi bật l ại. Kiểm tra dây cáp. Cáp máy in phải được gắn chặt ở cả đầu máy tính và đầu máy in. N ếu cáp quá cũ hoặc quá dài thì việc truyền tín hiệu cũng không được tốt. Hãy bỏ ra vài ch ục nghìn đ ồng đ ể mua m ột dây cáp mới, loại IEEE 1284 (chứ không phải tương thích IEEE 1284) chất lượng cao. Kiểm tra các cổng. Vào Device Manager (nhấn phím phải chuột vào My Computer rồi ch ọn Properties). Tới 'PORTS (COM and LPT)' và nhấn đúp vào thiết lập LPT1. Ph ải đ ảm bảo là h ộp tho ại 'Device status' không có các xung đột IRQ và DMA. Dàn xếp các xung đột. Nếu bạn có xung đột DMA với cổng song song thì ph ải ki ểm tra xem c ổng này có được cấu hình là ECP không. ECP được dùng trong đa số các máy in mới, giúp tăng t ốc đ ộ in nh ờ s ử d ụng RAM của máy tính. Nếu máy in dùng ECP và bạn bị xung đột DMA, thì hãy chỉ đ ịnh c ổng song song là một DMA không được sử dụng thông qua chương trình thiết lập CMOS ho ặc Device Manager. N ếu máy in không hỗ trợ ECP, bạn cần cấu hình cổng song song sao cho chậm hơn và t ương thích trong thi ết l ập CMOS. Đa số các máy tính đều có 4 thiết lập. Thiết lập chuẩn là chậm nhất nh ưng l ại có kh ả năng tương thích rộng. Cài đặt trình điều khiển mới. Nếu trình điều khiển bị trục trặc hoặc quá cũ, bạn hãy cài đ ặt m ột phiên bản mới bằng cách vào folder Printers (chọn Start.Settings.Printers) và xóa bi ểu t ượng máy in c ủa b ạn đi. Sau đó tới Web site của nhà sản xuất máy in bạn đang dùng để tải về và cài đ ặt m ột trình đi ều khi ển mới. Còn nếu không, bạn cài đặt lại trình điều khiển hiện tại thông qua biểu tượng Add Printer. -------------------------------------------------------------------------------- Tìm kiếm sự cố Đừng nhọc công tìm kiếm sự cố, chúng sẽ tự tìm đến bạn. Và chừng nào chúng đến gõ vào máy tính c ủa bạn thì bạn chỉ muốn nhanh chóng tống khứ chúng ra khỏi cửa. M ặc dù có nhi ều ti ện ích t ừ các hãng th ứ ba, nhưng bạn vẫn cứ nên chọn điểm xuất phát là các công cụ trong Win95 và Win98. Các wizard khắc phục hỏng hóc. Cả Win95 và Win98 đều có các wizard giúp giải quyết các tranh ch ấp phần cứng và nhiều vấn đề khác. Để xem danh sách các wizard này bạn chọn Start.Help, vào ô Index r ồi gõ troubleshooting. Device Manager. Đây là công cụ rất hữu hiệu để phát hiện những trục trặc phần c ứng và thay đ ổi thông số cài đặt. Nhấn phím phải vào My Computer và chọn Properties để tìm Device Manager. Bi ểu t ượng vòng tròn vàng xung quanh dấu chấm than (!) là thông báo có s ự c ố. Tiện ích System Information. Bạn có thể tìm tiện ích tuyệt vời này c ủa Win98 tại Start.Programs.Accessories.System Tools. Tiện ích có 3 phần: Hardware Resources cho b ạn thông tin s ơ b ộ về IRQ, DMA cùng một số tài nguyên khác; Components liệt kê tất c ả nh ững thi ết bị có sự c ố và cung cấp thông tin về driver; Software Environment chỉ ra những chương trình đang ch ạy. Tiện ích System Configuration. Nằm trong menu Tools của tiện ích System Information, ch ương trình này
  9. cho phép hiệu chỉnh, vô hiệu hóa, hoặc chạy một phần hay toàn bộ các file hệ th ống, ch ẳng h ạn như system.ini và autoexec.bat. Theo cách này bạn có thể biết chính xác nguyên nhân c ủa v ấn đ ề là do đâu. System File Checker. Đây là một công cụ khác có trong tiện ích System Information c ủa Win98. Nó có th ể phát hiện các file bị hỏng hoặc không theo chuẩn, sau đó tự thay bằng các phiên bản gốc có trong đĩa CD- ROM Windows 98. Registry Checker. Có lẽ đây là công cụ quan trọng nhất trong các ch ương trình c ủa System Information. Nó quét Registry và sửa chữa một vài hỏng hóc nhất định. Thế nhưng chức năng quan trọng nhất c ủa Registry Checker lại là sao lưu các file Registry (system.dat và user.dat) và nhi ều file quan tr ọng khác.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2