Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Đánh giá đặc điểm một số tính chất đất vùng trồng cây có múi tại Phủ Quỳ

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

45
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của bài viết này nhằm đánh giá kết quả phân tích và đánh giá đặc điểm tính chất đất vùng trồng cây có múi và đề xuất một số khuyến nghị để cải thiện chất lượng đất vùng trồng cây có múi.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá đặc điểm một số tính chất đất vùng trồng cây có múi tại Phủ Quỳ

  1. HOẠT ĐỘNG KH-CN ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ TÍNH CHẤT ĐẤT vùng trồng cây có múi tẠi PHỦ QUỲ n Phạm Văn Linh, Trần Thị Quỳnh Nga, Trần Đình Hợp Mai Sỹ Cường, Giáp Thị Luân và Cộng sự Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ I. ĐẶT VẤN ĐỀ cứu về một số tính chất đất là căn cứ để đưa ra các biện Phủ Quỳ là một địa danh thường gọi pháp duy trì các đặc tính ưu việt của đất, đề xuất các biện trước đây, về địa giới hiện nay chủ yếu gồm pháp sử dụng đất tối ưu trước tác động thường xuyên của hai huyện Nghĩa Đàn và Quỳ Hợp, với tổng tự nhiên và con người. Với tác động thường xuyên của diện tích là 166.941ha (trong đó Nghĩa Đàn tự nhiên và con người thì công tác điều tra, đánh giá tính và Thị xã Thái Hòa 72.769ha, Quỳ Hợp chất đất cần được tiến hành thường xuyên. Từ những lý 94.172ha). Huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, do trên, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung tỉnh Nghệ An là khu vực trọng điểm vùng Bộ đã tiến hành thực hiện “Đánh giá đặc điểm một số Bắc Trung Bộ có diện tích trồng cây ăn quả tính chất đất vùng trồng cây có múi tại Phủ Quỳ, tỉnh có múi (cam, quýt, bưởi…) lớn và thổ Nghệ An”. nhưỡng chính là nhóm đất đỏ bazan nên II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN thích hợp cho việc trồng các cây có giá trị CỨU kinh tế cao. 1. Vật liệu Sau nhiều năm canh tác trên các đối - Đối tượng: Đất trồng cây có múi và các tính chất đất. tượng cây trồng khác nhau, trong đó chủ - Địa điểm: xóm Minh Đình, Minh Hòa, Minh Cầu, yếu là cây ăn quả có múi, cây lâu năm, Minh Long, Minh Lợi thuộc xã Minh Hợp, huyện Quỳ hằng năm hấp thụ nhiều chất dinh dưỡng Hợp; xã Nghĩ Long, Nghĩa Hồng, Nghĩa Hiếu và Nghĩa trong đất làm đất bị mất cân bằng. Nghiên Sơn, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. SỐ 10/2017 Tạp chí [1] KH-CN Nghệ An
  2. HOẠT ĐỘNG KH-CN 2. Phương pháp nghiên cứu - Xác định P2O5 tổng số: theo TCVN a. Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và xử lý mẫu 8940:2011 “Phương pháp so màu”. - Xác định K2O tổng số: theo TCVN Phương pháp 8660:2011 “Phương pháp quang kế ngọn STT Số hiệu tiêu chuẩn lấy mẫu đất lửa”. Chất lượng đất - Lấy - Xác định P2O5 dễ tiêu: theo TCVN 1 • TCVN 5297:1995 mẫu - Yêu cầu chung 5256:2009 “Phương pháp Oniani”. Chất lượng đất - Lấy - Xác định K 2 O dễ tiêu: theo TCVN • TCVN 7538-2:2005 2 mẫu Phần 2: Hướng 8662:2011 “Phương pháp quang phổ phát (ISO 10381-2:2002) dẫn kỹ thuật lấy mẫu xạ”. Đất trồng trọt. Phương - Xác định Ca2+, Mg2+: theo TCVN 3 • TCVN 4046:1985 pháp lấy mẫu 8569:2010 “Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử”. Ca2+, Mg2+ trong đất được chiết - Số lượng mẫu thu thập: gồm 55 mẫu tại khu vực bằng dung dịch CH3COONH4 1M, pH = 7. xã Minh Hợp, huyện Quỳ Hợp và hợp tác xã trọng điểm - Xác định Cl- : theo TK. TCVN 6194- (xã Nghĩa Long, Nghĩa Hồng, Nghĩa Hiếu và Nghĩa 1996. Xác định bằng “Phương pháp chuẩn độ Sơn) thuộc huyện Nghĩa Đàn, là những khu vực có diện bạc nitrat”. tích lớn, thâm canh cao trong vùng Phủ Quỳ. - Xác định SO42-: theo “Phương pháp đo - Cách lấy mẫu: độ đục”. + Ở một địa điểm (tiến hành lấy 01 mẫu hỗn hợp ở c. Phương pháp đánh giá chất lượng đất tầng đất 20-30cm): lấy 5 điểm phân bố đều trên toàn - Mức thang đánh giá độ pHKCl: đặc biệt diện tích theo quy tắc chéo góc, gom lại thành mẫu hỗn chua (pHKCl6,5) (Nguồn: hợp trung bình cần lấy tại một địa điểm có khối lượng Lê Văn Căn, 1968). ít nhất 0,5kg đất. - Mức đánh giá chất hữu cơ trong đất: rất - Khi lấy mẫu đất chứa nhiều vật liệu cỡ lớn (sỏi, xác cao (OM>6%); cao (OM=4,3-6%); trung hữu cơ...) do các điều kiện đất không đồng nhất hoặc bình (OM=2,1-4,2%); thấp (OM=1-2%); rất hạt quá to, các vật liệu loại bỏ phải được mô tả, cân hoặc thấp (OM0,3%); cao quy trình quy phạm quan trắc môi trường đất của Tổng (NTS=0,226-0,3%); trung bình (NTS=0,126- cục Bảo vệ Môi trường: các chỉ tiêu hóa học cần phân 0,225%); thấp (NTS=0,05-0,125%); rất thấp tích mẫu tươi thì tiến hành phân tích ngay; các chỉ tiêu (NTS 0,1%); trung bình 2mm, các chỉ tiêu tổng số qua rây 0,5mm, bảo quản (PTS=0,06-0,1%); nghèo lân (PTS15 mg/100g đất); pháp hóa học”. trung bình (PDT=10-15 mg/100g đất); nghèo - Xác định OM: theo TCVN 4050:1985. Tiêu chuẩn lân (PDT= 5-10 mg/100g đất); rất nghèo lân này quy định phương pháp xác định tổng số chất hữu (PDT2%); trung bình SỐ 10/2017 Tạp chí [2] KH-CN Nghệ An
  3. HOẠT ĐỘNG KH-CN (K2O=1-2%); nghèo Kali (K2O15 mg/100g đất); trung bình (K2O =10- Kết quả phân tích hàm lượng mùn tổng số 15 mg/100g đất); nghèo Kali (K2O 20meq/100g đất, Mg2+>8meq/100g đất); cao có 33 mẫu mùn cao chiếm phần lớn với 60% (Ca2+=10-20meq/100g đất, Mg2+=3-8meq/100g đất); tổng số mẫu; 18 mẫu mùn trung bình chiếm trung bình (Ca2+=5-10meq/100g đất, Mg2+=1,5- 32,73% tổng số mẫu; 3 mẫu mùn rất cao 3meq/100g đất); thấp (Ca2+=2-5meq/100g đất, chiếm 24,32% tổng số mẫu; và không có mẫu Mg2+=0,5-1,5meq/100g đất); rất thấp (Ca2
  4. HOẠT ĐỘNG KH-CN mẫu ở huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An cho thấy: Lượng kali trong đất có liên hệ mật thiết với lượng đạm có 37 mẫu giàu lân tổng số chiếm phần lớn cây hấp thụ ở dạng NH4+. Nếu đất thiếu nhiều kali, mà 62,27%, 15 mẫu có hàm lượng lân tổng số bón phân đạm ở dạng chứa gốc NH4+, cây sẽ hấp thụ trung bình, chiếm 27,27%; 3 mẫu nghèo lân đạm nhiều ở dạng này, gây ngộ độc cho cây. Do đó, khi tổng số, chỉ chiếm 5,45% tổng số lượng mẫu bón phân đạm có kết hợp với phân kali, cần lựa chọn phân tích. dạng phân đạm phù hợp. Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến Kết quả phân tích hàm lượng lân dễ tiêu lượng phân kali, tránh bón thừa, gây ảnh hưởng xấu đến trong đất tại 37 điểm lấy mẫu ở khu vực xã chất lượng quả. Loại phân kali khuyến cáo dùng là: Minh Hợp, huyện Quỳ Hợp và 18 điểm lấy dạng phân đạm KNO3, vừa cung cấp kali, đạm, vừa cải mẫu ở huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An cho thấy: tạo được độ chua của đất. Một số sản phẩm phân bón có 32 mẫu đất rất nghèo đến nghèo lân dễ tiêu NPK có hàm lượng kali cao, không gây chua cho đất chiếm nhiều nhất 58,18% trong tổng số mẫu cũng được khuyến cáo dùng cho vùng đất này. phân tích; 13 mẫu đất hàm lượng lân dễ tiêu 1.6. Hàm lượng cation kiềm trao đổi ở mức trung bình chiếm 23,64%; 10 mẫu đất Dựa vào kết quả phân tích, có thể kết luận: có 44 giàu lân dễ tiêu chiếm 18,18%. mẫu hàm lượng Ca2+ rất thấp đến thấp, chiếm 80,00% Như vậy, ở 2 khu vực xã Minh Hợp, huyện tổng số mẫu, có 7 mẫu chiếm 12,73% số mẫu hàm Quỳ Hợp và huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An chủ lượng Ca2+ ở mức trung bình; chỉ có 4 mẫu hàm lượng yếu giàu lân tổng số nhưng lại nghèo lân dễ Ca2+ cao, chiếm 7,27%. Còn chỉ tiêu Mg2+ trong đất đa tiêu. Do đó, song song với việc bón bổ sung số tỷ lệ đều rất thấp đến thấp: có 37 mẫu chiếm phần lân, cũng cần phải chú ý thực hiện cải tạo độ lớn 67,28%; 3 mẫu chiếm 5,45% là mức độ trung bình; chua cho đất vì nếu đất quá chua, lân trong 12 mẫu chiếm 21,82% ở mức cao; chỉ có 3 mẫu chiếm đất sẽ tồn tại chủ yếu ở dạng kết tủa nhôm 5,45% ở mức rất cao. sunphat và sắt sunphat, cây trồng không thể Như vậy, đa số mẫu đất tại xã Minh Hợp, huyện Quỳ hấp thụ được loại phân lân ở dạng này. Hợp và huyện Nghĩa Đàn đem đi phân tích đều thiếu Một số loại lân được khuyến cáo dùng cho Ca2+ và Mg2+. Khuyến cáo có thể bón thêm vôi trong bà con ở những vùng đất bị chua là: DAP Phú quá trình chăm sóc có tác dụng bổ sung thêm Ca trong Mỹ, NPK, lân nung chảy, Apatit, Phosphorit đất và điều chỉnh độ chua của đất. 1.5. Hàm lượng kali tổng số và kali dễ tiêu Bón vôi là biện pháp hữu hiệu và đơn giản nhằm cải Theo kết quả phân tích, hàm lượng kali tạo độ chua của đất. Căn cứ vào độ chua của đất để tổng số tại các vùng đều rất thấp. Tất cả các quyết định lượng vôi cần bón. Khi bón vôi, dùng vôi mẫu phân tích đều nghèo kali chiếm 100% xám tốt hơn vôi trắng vì có cả Ca2+ và Mg2+. Một số loại trong tổng số mẫu phân tích. phân bón trung tính hoặc kiềm khuyến cáo bà con dùng Hàm lượng kali dễ tiêu trong đất cũng rất như: đạm sunfatamon [NH4(SO4)2], DAP, KNO3, ít, cụ thể: có 34 mẫu nghèo kali dễ tiêu, chiếm Ca(NO3)2, lân nung chảy, Apatit, Phosphorit, phần lớn 61,82% số mẫu phân tích; 11 mẫu ở NH4NO3… mức trung bình, chiếm 20% tổng số mẫu phân IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ tích; chỉ có 10 mẫu giàu kali dễ tiêu, chiếm 1. Kết luận 18,18% tổng số mẫu phân tích. Qua kết quả phân tích đánh giá một số chỉ tiêu trong Như vậy, lượng kali trong các vùng đất đất cho cây có múi tại xã Minh Hợp, huyện Quỳ Hợp tiến hành lấy mẫu, điều tra và phân tích hầu và huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, chúng tôi đưa ra như không đáp ứng được nhu cầu sử dụng của một số kết luận sơ bộ về thực trạng đất tại vùng Phủ cây ở tất cả các giai đoạn phát triển, do đó cần Quỳ, Nghệ An như sau: phải bổ sung bằng biện pháp bón phân cho - pHKCl của các khu vực hầu hết nhỏ hơn 5 được cây. Tùy theo loại đặc điểm thổ nhưỡng của đánh giá hầu hết chua cho đến đặc biệt chua mà pHKCl đất mà lựa chọn loại phân bón thích hợp và thích hợp cho cây có múi là 5,3-6,3. tùy giai đoạn phát triển của cây có cách bón, Bón vôi là biện pháp hữu hiệu và đơn giản nhằm cải liều lượng bón hợp lý. tạo độ chua của đất. Căn cứ vào độ chua của đất để Một số lưu ý khi bón phân kali cho cây: quyết định lượng vôi cần bón. Khi bón vôi, dùng vôi SỐ 10/2017 Tạp chí [4] KH-CN Nghệ An
  5. HOẠT ĐỘNG KH-CN xám tốt hơn vôi trắng vì bổ sung thêm cả Ca và Mg. Các loại vôi dùng để bón trung hòa Một số đối tượng cây ăn quả phổ biến của vùng đất Phủ Quỳ: đất bị chua càng mịn, hạt càng nhỏ thì tác dụng càng nhanh (kích thước các hạt đất vôi khoảng 0,15mm là tốt nhất). Theo Ths Lê Thanh Phong - Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng - Trường Đại học Cần Thơ chỉ cần bón 1 lần vôi trong năm là đủ và theo khuyến cáo của các chuyên gia Đài Loan. Nên bón vôi ngay sau khi thu hoạch trái và những vườn có pH của đất dưới 5,0. Vôi có tính di động thấp nên phải bón và lấp đất ở độ sâu ít nhất từ 15-30cm với hàm lượng khuyến cáo là 2-3 kg/cây. Đối với đất ở khu vực này, khuyến cáo bón 1-1,5 tấn/ha/năm. Nên trộn vôi chung với phân xanh hay phân ủ (com- post) trước khi bón sẽ làm cho đất được Quýt PQ1 thoáng khí hơn, tránh được hiện tượng bị đóng cục. Do vôi làm giảm hoạt tính nitơ của đạm, do đó không nên bón vôi chung với các loại phân hóa học và chỉ được bón phân vô cơ 1 tháng sau khi bón vôi. Vôi chỉ được bón khi thật cần thiết, vì vậy nhà vườn nên thường xuyên theo dõi pH đất trước khi bón vôi, nếu bón quá nhiều vôi không chỉ lãng phí mà dẫn đến hiện tượng thiếu một số dinh dưỡng vi lượng khác. Việc bón vôi để trung hòa độ chua đất phải ngừng lại khi đất đạt giá trị pH vào khoảng 6.0. Khi sử dụng phân hóa học, nên chọn loại phân trung tính hoặc kiềm. Thực hiện quản lý nước thích hợp, hạn chế dòng chảy, trồng Cam Vinh cây che phủ đất kết hợp làm phân xanh. Hạn chế tối đa dùng thuốc trừ cỏ làm trắng đất, làm giảm hệ sinh vật đất, giảm lượng hữu cơ trong đất. Một số loại phân bón trung tính hoặc kiềm khuyến cáo bà con dùng như: Ure, DAP, KNO3, Ca(NO3)2, lân nung chảy, Apatit, Phosphorit, NH4NO3… - Hàm lượng mùn tổng số (OM) trong đất tại các khu vực khá chênh lệch nhau. Chúng tôi đã đưa ra khuyến cáo trong việc duy trì và tăng cường độ mùn tại các khu vực. Hàm lượng chất hữu cơ tổng số yêu cầu đối với cây ăn quả có múi là từ 2% trở lên. Biện pháp duy trì hàm lượng hữu cơ trong đất cũng là một trong những biện pháp cải Bưởi hồng Quang Tiến SỐ 10/2017 Tạp chí [5] KH-CN Nghệ An
  6. HOẠT ĐỘNG KH-CN thiện độ màu mỡ của đất. Hàm lượng hữu cơ diệp lục, kết hợp với chức năng quan trọng trong cây của đất là yếu tố rất quan trọng đối với việc như tăng trưởng, phát triển bộ lá, hình thành hoa, đậu, quản lý đất bền vững cho việc sản xuất cây phát triển và chất lượng quả. Đủ nitơ, cây sinh trưởng có múi, là tác nhân thúc đẩy sự hình thành khỏe, sung sức, quả nhiều, phát triển cân đối. Thiếu các kết cấu đất để đất luôn thoáng khí và nitơ, mất màu xanh của lá cây, lá cây tái nhợt, nhỏ. Lá thoát nước tốt. Bón phân bón hữu cơ cho đất già rụng vào đầu mùa, rìa lá mỏng, cành cây bị chết. (phân chuồng, phân vi sinh, phân rác, bùn Cây tăng trưởng chậm, phát triển nhiều cành tược, tỷ ao…) ít nhất 1 đợt/năm bằng biện pháp bón lệ đậu quả thấp, quả nhỏ, giảm năng suất đáng kể. Khi lót sau khi thu hoạch trái. Bón phân hữu cơ, thiếu nitơ nhẹ, lá màu xanh vàng nhạt, nặng thì cành đặc biệt là phân chuồng không những tăng non chết khô, chồi ngắn, rụng quả non. Sự thiếu hụt chất lượng hữu cơ cho đất, nguồn thức ăn nitơ tồi tệ hơn khi lượng phốt pho thấp. Thừa nitơ làm đầy đủ mà còn cung cấp cho đất một lượng giảm chất lượng quả và rút ngắn thời gian cất trữ. Quả vi sinh vật phong phú. lớn nhanh và phồng, tăng thời gian quả xanh, quả chín Trồng cây phân xanh (các loại họ đậu, cốt chậm. Vỏ quả dày lên và thô, tép khô, tăng thời gian khí, tử vân anh...): tránh rửa trôi, xói mòn đất. chuyển màu của dịch quả. Dư thừa nitơ thúc đẩy sự Bón vôi, đặc biệt bón vôi kết hợp với phân tươi tốt của cây nhưng dễ mẫn cảm với điều kiện ngoại hữu cơ là biện pháp tạo mùn ở dạng Hu- cảnh. Đạm tổng số tại các khu vực ở mức thấp đến matCa hoặc FulvatCa ít tan tránh được rửa trung bình nên cần bổ sung thêm đạm trong quá trình trôi, đồng thời điều hòa phản ứng đất tạo điều chăm sóc cây, bón cân đối và hợp lý. Tùy vào độ tuổi kiện cho vi sinh vật đất hoạt động mạnh. khác nhau mà nhu cầu về lượng đạm đối với cây có Biện pháp canh tác: muốn tạo điều kiện múi khác nhau (cây thời kỳ kiến thiết cơ bản từ tuổi cho xác hữu cơ phân giải tốt, tạo nhiều mùn 1-3 cần 0,15-0,45kg Urê/cây/năm; thời kỳ kinh doanh: cho đất ta phải làm đất thoáng vừa phải bằng tuổi 4-5 cần 0,52-0,79kg Urê/cây/năm; tuổi >6 cần các biện pháp canh tác như bừa, xới xáo, 0,83-1,0kg Urê/cây/năm). tưới tiêu… hợp lý và kịp thời để đất luôn có - Phốt pho (lân) thực hiện nhiều chức năng quan độ ẩm thích hợp. trọng như quang hợp, hoạt động enzym, trong sự hình Chú ý: Nếu nhà vườn sử dụng phân hữu thành và vận chuyển đường. Quan trọng nhất là phát cơ có hàm lượng đạm cao thì phải giảm bớt triển bộ rễ, hình thành hoa và phát triển và tăng chất phân hóa học, theo các chuyên gia nếu sử lượng quả. Thiếu phốt pho: ít có các triệu chứng thiếu dụng song song hai loại phân này với liều hụt được nhìn thấy trên lá, sự tăng trưởng, năng suất, lượng cao sẽ dẫn đến tình trạng thừa đạm, chỉ khi thiếu hụt quá mức thì lá có màu xanh sạm và kết quả các chồi non sẽ phát triển vào mùa cây dễ bị đổ. Phốt pho thấp ảnh hưởng đến chất hè và mùa thu sẽ mang nhiều lá, cây sẽ cho lượng quả, gây biến dạng quả, lõi rỗng và thô, ít trái và những trái này sẽ chậm chuyển vỏ dày. Quả mềm và khô nước, chua. Tuy màu khi chín. Có thể sử dụng phân chuồng nhiên, không ảnh hưởng đến tổng chất rắn hòa đã hoai mục để làm nguồn hữu cơ và tuyệt tan của dịch quả. Trong trường hợp sử dụng quá đối không được bón phân còn tươi chưa nhiều phân đạm thì hậu quả của việc thiếu hụt phốt hoai mục cho cây trồng, sẽ làm rễ cây có pho lên chất lượng quả sẽ tồi tệ hơn. Do đó, việc múi bị tổn thương. Nếu bón phân chuồng cung cấp cân đối nitơ và phốt pho sẽ cho năng phải ủ phân thật hoai mục để tránh nhiễm suất và chất lượng quả tốt. Thừa phốt pho: bệnh cho cây. Nếu tận dụng tàn dư thực vật quá nhiều phốt pho không gây ra bất kỳ tổn thất nào làm phân bón cho cây phải xử lý lượng tàn về năng suất, chất lượng trái cây, nhưng có thể có tác dư bị nhiễm sâu bệnh hại trước khi dùng động làm thiếu kẽm trong cây và giảm hiệu quả năng cho cây trồng. suất. Lân tổng số tại các khu vực hầu như cao nhưng - Nitơ (đạm) là nguyên tố có ảnh hưởng lân dễ tiêu tại điểm các khu vực lại thấp nên cần bổ lớn nhất trong sản xuất cây có múi. Cây có sung trong quá trình chăm sóc và bón cân đối hợp lý. múi cần nhiều nitơ hơn so với chất dinh Nhu cầu dinh dưỡng về lượng lân đối với cây có múi dưỡng khác. Nitơ là một thành phần của chất là: cây thời kỳ kiến thiết cơ bản từ tuổi 1-3 cần 0,5- SỐ 10/2017 Tạp chí [6] KH-CN Nghệ An
  7. HOẠT ĐỘNG KH-CN 0,8kg Supe lân/cây/năm; thời kỳ kinh Một số loại phân bón vô cơ được khuyến cáo dùng doanh: tuổi 4-5 cần 1-1,2kg Supe vùng đất này như NPK gồm các loại 15:15:15+TE, lân/cây/năm; tuổi>6 cần 1,2-1,7kg Supe 16:16:8+13S+TE, 16:7:17+Bo+TE hoặc 15:8:20+10S; lân/cây/năm. Đạm Sunfatamon (SA), nên sử dụng đạm KNO3, vừa - Kali là một nguyên tố có đặc tính di cung cấp kali, vừa cung cấp đạm, ngoài ra có thể sử động cao và có khả năng tái phân phối ở dụng dạng đạm trong phân bón DAP; lân nung chảy, những vùng sinh trưởng. Thiếu kali thì kali Apatit, Phosphorit và các loại phân bón này đều rất phù ở những mô già có thể chuyển vị đến mô hợp với đặc tính thổ nhưỡng vùng, cung cấp dạng đạm, non. Ngoài ra, kali còn có nhiệm vụ điều lân, kali cây trồng dễ hấp thụ và có thể cải tạo được độ hòa lượng nước trong cơ thể giúp cho sự chua của đất. gia tăng lực giữ nước trong nguyên sinh - Đa số mẫu đất tại các khu vực đem đi phân tích chất giúp cho cây kháng hạn. Cây hấp thụ đều thiếu Ca 2+ , Mg 2+ cần bổ sung trong quá trình kali dưới dạng ion K+. Trường hợp cây hấp chăm sóc. thụ N ở dạng NH4+, nếu thiếu kali sẽ đưa 2. Đề nghị việc tích tụ nhiều NH4+ gây độc cho cây, vì - Nghiên cứu thêm về ảnh hưởng của các yếu tố vi quá trình thành lập amino acid không xảy lượng với cây có múi. ra. Thiếu kali, trái nhỏ, vỏ mỏng và bóng - Đây chỉ là kết quả bước đầu nghiên cứu, cần phải láng, dễ rụng. Thiếu kali thường xảy ra trên nghiên cứu trong các giai đoạn của các năm tiếp theo để đất có đá vôi do sự đối kháng ion. Sử dụng có kết luận chính xác hơn. dư thừa kali có thể tạo ra sự thiếu magne- - Những vùng đất có hàm lượng chất hữu cơ thấp cần sium. Điều này là do hai khoáng chất này bổ sung bón phân bón hữu cơ, phân chuồng, phân vi sinh đối lập nhau. Mức độ cao của kali có thể ít nhất 1 đợt/năm bằng biện pháp bón lót sau khi thu làm giảm sự hấp thu bình thường của mag- hoạch trái. Chú ý, nếu bón phân chuồng phải ủ phân thật nesium. Tình trạng kali quá cao cũng sẽ có hoai mục để tránh nhiễm bệnh cho cây, nếu tận dụng tàn một số hiệu quả nghịch trên trái, làm vỏ dư thực vật làm phân bón cho cây phải xử lý lượng tàn trái thô và nhiều acid. Tại các khu vực kali dư bị nhiễm sâu bệnh hại trước khi dùng cho cây trồng. tổng số và kali dễ tiêu hầu hết nghèo cần - Cần bổ sung vôi là biện pháp hữu hiệu và đơn giản bổ sung trong các giai đoạn chăm sóc, bón nhằm cải tạo độ chua của đất. Căn cứ vào độ chua của cân đối và hợp lý. Nhu cầu dinh dưỡng về đất để quyết định lượng vôi cần bón. Khi bón vôi, dùng lượng kali đối với cây có múi là cây thời vôi xám tốt hơn vôi trắng vì có cả Ca2+ và Mg2+. kỳ kiến thiết cơ bản từ tuổi 1-3 cần 0,5- - Cả hai khu vực trên đều có lượng lân tổng số trong 0,8kg KCl/cây/năm; thời kỳ kinh doanh ở đất cao nhưng lượng lân dễ tiêu thấp. Chúng ta có thể tuổi 4-5 cần 0,8-0,9kg KCl/cây/năm; tuổi nghiên cứu loại chế phẩm sinh học để chuyển từ lân tổng >6 cần 1-1,5kg KCl/cây/năm. số sang lân dễ tiêu./. Tài liệu tham khảo 1. Đỗ Ánh, Nguyễn Văn Bộ, Lê Văn Tiềm, Công Doãn Sắt (2000), Độ phì nhiêu của đất và dinh dưỡng cây trồng, Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.179-219. 2. Đỗ Ánh (2001), Độ phì nhiêu của đất và dinh dưỡng cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 3. Nguyễn Xuân Trường, Lê Văn Nghĩa, Lê Quốc Phong, Nguyễn Đăng Nghĩa, Sổ tay sử dụng phân bón, NXB Nông nghiệp, TP. Hồ Chí Minh, năm 2000. 4. Tôn Thất Chiểu (2000), Tổng quan về nghiên cứu đất Việt Nam, Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.5-18. 5. Trần Văn Chính và cộng sự (2006), Giáo trình thổ nhưỡng học, trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. 6. Trần Thị Lệ Hà, Cao Việt Hà, Nguyễn Hữu Thành, Giáo trình thực tập thổ nhưỡng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2006. 7. Trần Khải (1997), Nghiên cứu thổ nhưỡng đất dốc trung du và miền núi, NXB Nông nghiệp Hà Nội. 8. Trần Kông Tấu, Nguyễn Thị Dần (2000), Vật lý đất, Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.71-108. 9. Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Sổ tay phân tích đất - nước - phân bón - cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1998. 10. Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Sổ tay phân bón, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, năm 2005. SỐ 10/2017 Tạp chí [7] KH-CN Nghệ An
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2