Định g rừng ngập mặn Trang16
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
-----------O0O----------
MÔN HỌC:
KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
2. ĐỊNH GIÁ RỪNG NGẬP MẶN
(Valuation Of Mangroves)
GVHD: TS. PHAN THỊ GIÁC TÂM
SVTH : PHAN THỊ ANH THƯ
NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG
TPHCM, 5/2006
Định g rừng ngập mặn Trang17
PHẦN 2
ĐỊNH GIÁ RỪNG NGẬP MẶN
(Valuation of Mangroves)
(bài này được trích ra từ bài báo “Rừng ngập mặn: tài nguyên bị đánh giá thấp của đất biển”, tác giả Larry
Hamilton, John Dixon và Glenys Owen Miller, trong quyển Ocean Yearbook 8 (mùa đông, 1989), Đại học Chicago
Press).
2.1. Giới thiệu
Đối với hầu hết các loại hàng hóa, giá trị được xác định bởi thị trường. Điều y cũng đúng cho một số sản
phẩm trích từ rừng ngập mặn: nhiều đôla trên trăm sào hay trên cua. Không may, hàng hóa bán trực tiếp trên thị
trường (hay dịch vụ) được sản xuất ra từ hệ sinh thái r ừng ng ập m ặn chỉ đại din cho mt phần nh của tổng dãy
sắp xếp các hàng hoá dịch vụ, những cái tạo ra li ích cho các cá nhân hi. Kết quả, rừng ngập mặn xem
như hsinh thái giá trị thấp và vì thế nó tr thành ứng cử viên cho sự chuyển đổi mục đích sử dụng khác như h
nuôi trồng thủy sản, cơ sở hạ tầng (ví dụ cảng, bến du thuyền, các con đường ven bờ biển…), nông nghiệp, nhà ở và
rác thải.
Có hai câu hỏi cần đặt ra khi đánh giá các lựa chọn phát triển đề xuất từ rừng ngập mặn:
Thứ nhất là các lợi ích mong đợi từ sự chuyển đổi phải lớn và có thể xác định được,
Thứ hai, những chi phí thực (trực tiếp và gián tiếp) từ việc mất hsinh thái rừng ngp mặn
gì?
Qui mô li ích mong đợi từ sự chuyển đổi rừng ngập mặn thtính toán được. Đối với một số lĩnh vực sử
dụng, cụ thể là các cơ sở hạ tầng như cảng, khu ng nghiệp hay nhà ở, sự chuyển đổilâu dài và lợi ích kinh tế từ
sử dụng rừng ngập mặn thì khác nhau giữa các chi phí chuyển đổi ( làm sạch, lấp đầy, ới tiêu…) và địa điểm lựa
chọn kém đắt tiền hơn. Trong nhiều trường hợp, những do thuyết phục về việc xây dựng gần nguồn nước (như
cảng…), giá trị sử dụng của những cái như thế lớn vàràng sự chuyển đổi nàyđúng.
dụ, Singapore, tài sản công nghiệp chủ yếu cảng Jurong được xây dựng mt phn trên
các diện tích đất ngập mặn đã khai hoang. Malaysia, cảng Kelang cũng được xây dựng trên
Rừng Bn lâu năm xen lẫn mắm và da n ư ớc
Định g rừng ngập mặn Trang18
cánh rừng ngập mặn được khai hoang. Sự chứng minh về các phát triển sở hạ tầng kc
không phải luôn đầy đủ. Một điều nên lưu ý rằng, trong mt vài khu vực, các chi phí quyết đnh
việc tạo nên khu đất tkhu rừng ngập mặn cao hơn nhiều so với dự kiến ban đầu do các chi phí
tăng thêm tđo nền móng sự ổn định của đất cũng như xây dựng bảo vệ bờ kè. cảng
Kelang, khu vực rộng lớn của rừng ngập mặn gần kề cảng mới cũng được chuyển đổi để phát
triển công nghiệp và thổ cư. Do sự đa dạng về kinh tế, các nhân tố định vị kỹ thuật, vùng đất
này được cải tạo phí tn lớn, sản phm hệ sinh thái rừng ngập mặn ban đầu mất đi, do đó cần
phải kết hợp các chi p kinh tế của dự án.
Tuy nhiên, đối với các loại chuyển biến khác, các lợi ích có thể nhhơn mong đợi và kém cố
định. Trong một số khu vực, quản đất rừng ngập mn tra rt khó dựa trên sở duy trì cả
trồng trọt nuôi trồng thủy sản. một vài nơi, điều này dẫn đến cái mà được ưa thích ngay từ
đầu n như “nghề nuôi trồng thủy sản luân phiên”. Đất axit phbiến trong khu vực rừng ngập
mặn là nguyên nhân chủ yếu của các vấn đề này. Với c ng trình do con người làm ra, sự
dâng lên của o c trận bão to gây thiệt hại về tài sản. Trong mi trường hợp, các lợi ích
thuần từ quá trình chuyển đổi nhỏ hơn sự mong đợi ban đầu.
đây, chúng ta không thảo luận thêm vvấn đề của các lợi ích mong đợi từ sự chuyển đổi rừng ngập mặn, cả
tầm quan trọng và tính cố định của chúng. Chúng ta đủ lí do để nói đây là mảng thông tin quyết định khi định giá
lợi ích thuần của sự chuyển đổi là dương hay âm. Các lợi ích mong đợi thường được chứng minh bằng tư liệu “thanh
toán trước trong bất cứ đề sut nào cho sự sửa đổi hay chuyển đổi rừng ngập mặn. Những i gì không đủ hay thiếu
xót liệu để chứng minh, các chi phí hội của các lợi ích đạt được là gì? Để trlời câu hi này, người ta phải
định giá phạm vi đầy đủ của hàng hóa và dịch vụ lấy từ rừng ngập mặn, những cái thể mất đi do sự chuyển đổi.
Đây là chi phí hội” thực của sự chuyển đổi, tức những i hội phải t bỏ khi dùng rừng ngập mặn làm
cảng, hnuôi trồng thủy sản hay bất động sản, nhà cửa. Tuy nhiên, để đo các chi phí này là rấr khó.
2.2. Phương pháp đo lường các giá trị kinh tế
Khó khăn trong việc xác định giá trị kinh tế thực của rừng ngập mặn được xuất phát từ hai nguyên nhân:
(1) một số sản phẩm hay dịch vụ không có giá thị trường,
(2) các hàng hóa hay dịch vụ được làm ra tìm thấy cả ở cản trong và bên ngoài rừng ngập mặn
Với quy rộng lớn, c gtrị bên trong rừng ngập mặn, hàng hóa dịch vcnh dựa
trên đất đai, trong khi các hiệu quả phụ thường dưới nước hay ven biển, phản ánh vai t của
rừng ngập mặn như y cầu nối giữa biển và đất liền. Bảng 1 liệt kê các loại hàng hóa và dịch v
sản xuất từ hệ sinh thái rừng ngập mặn, từ sự sản xuất hữu hình của gốc cây hay cua đến các khía
cạnh kém hữu hình hơn như dòng dinh dưỡng hay môi trường nuôi dưỡng. Sự sản xuất hàng hóa
dịch vụ sự tương tác của nước ngọt - nước mặn dẫn đến phân tán rải rác các vị trí của các sản
phẩm trừng ngập mặn. Hình 1 minh họa mi quan hệ giữa vị trí và đnh gđược nhn mạnh
bằng ma trận đơn gin 2x2.
Định g rừng ngập mặn Trang19
Bảng 1. Các sản phẩm trc tiếp và gián tiếp thu hoạch từ rừng ngập mặn.
Các sản phẩm trực tiếp
Các sản phẩm gián tiếp
Mục đích
sử dụng
Sản phẩm
Sản phẩm
Nguyên
liệu
Củi để nấu ng, sưởi ấm, hun khói cá, khăn trải
giừơng,….nung gch, than (củi), cồn.
Thức ăn,
phân bón
Xây dựng
Gỗ dùng làm giàn giáo y dựng các vật nặng n(như cái
cầu), các thanh ni đường sắt, cột chng hầm m, các sườn
ngang ca n tàu để trchống sàn tàu, boong tàu; cọc cho các
toà nhà, làm sàn nhà, lót ván, vật liệu đóng tàu, cột trụ hàng rào,
ống dẫn nước, vbào ép với nhựa dính làm vật liệu xây dựng,
keo hồ.
Thức ăn
Nghề cá
Sào cọc cho các bẫy cá, cá, …………, tannin (chất tiết từ vỏ
cây) để bo quản lưới,……
Thức ăn
ng
nghiệp
cỏ khô (cho súc vật ăn), phân xanh
Mật, sáp
Sản xuất
giấy
Nhiều loại giấy khác nhau
Thức ăn, lông
vũ, giải trí
(xem, săn
bắn)
Thức ăn,
dược phẩm,
thức uống.
Đường, rượu, du ăn, giấm, , thức uống men,...., dược
phẩm từ vỏ cây,và quả.
Thức ăn, b
lông thú, giải
trí (xem, săn
bắn)
Vật dụng
gia đình
Bàn ghế, keo, dầu m đầu, tay cầm dụng cụ, ..., đồ chơi, que
diêm, ....
Da, thức ăn,
giải trí
Sản phẩm
sợi, da
Sợi tổng hợp, thuốc nhuộm quần áo, chất tannin bảo quản da.
Thức ăn, giải
trí.-
Những thứ
khác
Các hộp để đóng gói
Định g rừng ngập mặn Trang20
Hình 1. Mối quan hệ giữa vị trí và loại hình hàng hoá, dịch vụ và phân tích kinh tế truyền
thống.
VỊ TRÍ CỦA HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ
Trên đất liền
Ngoài đất liền
thị trường
1
Thường xuyên, bao gồm sự
phân tích tính kinh tế (ví dụ:
sào đất, than củi, gỗ, cua,…)
2
thể gồm ( cá, nghêu sò,..)
Không có thị trường
3
Rất ít, bao gồm (loại thể dùng để
chữa bệnh, gỗ đốt, dùng làm thức ăn
độn lúc đói kém, nơi nuôi dưỡng của
cá con, thức ăn cho cá ở cửa song
hoặc tôm, quang cảnh và nghiên cứu
thế giới hoang dã.)
4
Thường xuyên, bao gồm những thứ
không ai để ý đến ( dòng dinh dưỡng
cho cửa sông, tầng đệm cho tổn hại
do bão).
Khi định giá giá trị của rừng ngập mặn hiện tại, phép phân ch truyền thống chỉ bao gồm các mục trong khung
cung phần thứ 1 của hình 1, tức hàng hóa dịch vụ giá trên thị trường được tìm thấy bên trong rừng ngập
mặn. Giá trị các sản phẩm trong phần thứ 1 thường xuyên nhỏ so với các lợi ích mong đợi từ chuyển hóa; do đó,
các vùng rừng ngập mặnrộng ln được biến đổi mi năm nhân danh hiệu quả kinh tế”. Khi những kiến thức về sự
tương tác sinh thái của rừng ngập mặn được nâng lên, thì hiệu quả trong cung phần thứ 2 được chú ý nhiều hơn
(những cái xuất hiện bên trong nhưng được bán trên thị trường). Trên quy rộng lớn, bao gồm và các loài
động vật có vỏ bắt ở vùng nước lợ.
Cung phần tư thứ 3 và 4 (hàng hóa và dịch vụ không giá thị trường được tìm thấy bên trong vàn ngoài rừng
ngập mặn) thường bị phớt lờ đi. một số hàng hoá dch vụ này, vấn đề định giá do vai trò tồn tại của nó trong
nền kinh tế địa phương ( thuốc truyền thống, sản phẩm rừng ngập mặn thứ yếu). Còn đối với những thứ kc, định
dạng và xác định số lượng của hiệu quả thỉnh thoảng là một vấn đề. (lưu trữ bảo vệ ………) và do đó việc thay thế giá
trị tiền tệ thể có khó khăn. Tuy nhiên sự đóng p y của rừng ngập mặn có thể khá quan trọng trong những giới
hạn của lợi ích tổng tạo ra bởi hệ thống rừng ngập mặn.
2.3. Những nỗ lực định giá
Dữ liệu giới hạn sẵn có trên giá trị hàng năm của rừng ngập mặn. bảng 2 thể hiện mt vài ví dụ
sưu tầm từ văn hc được báo cáo Hamilton và Snedaker (1984). Dãy giá trị được báo cáo (
USS/ha/năm) từ việc ước tính hệ sinh thái hoàn chỉnh (gốc phn tư thứ 1-4) đến ước tính sản phẩm
của rừng(gốc phần tư thứ 1 gồm hàng hoá trên mt đất và có thị trường) đến sản phẩm nnghiệp
(gốc phần tư thứ 2, bên dưới thị trường). Dãy g trị báo cáo hàng năm rất ln, t
25$/ha/năm cho sản phẩm rừng ở Malaysia đến tn 1,000$/ha/năm ở Thái Lan bao gồm clợi ích
của ngư nghiệp lâm nghiệp. Hầu hết những giá tr này lợi ích tài chính tổng dùng gcả
thị trường để định giá. Lợi ích thuần sẽ kém n sau khi trừ đi chi p của sản phẩm.
Thái Lan. Giá cả Thái được m tắt trong bảng 2 là một trường hợp tvị. Một cuộc nghiên
cứu đã được thực hiện cẩn thận mt tỉnh Chanthaburi phía đông nam Thái Lan, khảo sát vnền
kinh tế dựa vào rừng ngập mặn truyền thống và đưa ra giá tr hàng năm cho sự đa dạng của các sản
phẩm bao gồm sản phm của rừng, nipa thatch, ngư nghiệp, sò, trại tôm, nông nghiệp (Christensen
1982).
Giá trị được ước tính cho từng loi trong sản phẩm rừng ngập mặn, bao gồm cả mức độ năng suất hiện tại
tiềm tàng bằng sự quản lý cải tiến. Những giá trị này được thể hiện trong bảng 3. Giá trị các trại tôm là rất lớn, t