intTypePromotion=1

Giá trị của Fibrin Monomer hòa tan trong chẩn đoán đông máu nội mạch lan tỏa

Chia sẻ: Saobiendo Saobiendo | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
45
lượt xem
3
download

Giá trị của Fibrin Monomer hòa tan trong chẩn đoán đông máu nội mạch lan tỏa

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đông máu nội mạch lan tỏa (DIC) là một rối loạn huyết khối tắc mạch đặc trưng bởi sự tăng hoạt động của đông máu và tiêu sợi huyết thứ phát. DIC không phải là một bệnh tự nó nhưng luôn thứ phát của một rối loạn tiềm ẩn. Nguyên nhân liên quan bao gồm nhiễm trùng, các khối u tạng đặc hoặc huyết học ác tính, bệnh lý gan nặng, chấn thương, biến chứng sản khoa. Năm 2001, Tiểu ban Khoa học và Tiêu chuẩn hóa về DIC của Hiệp hội huyết khối và cầm máu quốc tế (ISTH) đã đưa ra các hướng dẫn chẩn đoán DIC mất bù và còn bù bao gồm các thông số bổ sung như antithrombin (AT), protein C, phức hợp thrombin-antithrombin (TAT), hoặc phức hợp fibrin monome (FM) hòa tan (SFMC). Tuy nhiên, giá trị của bảng điểm cho xác định DIC còn bù (Nonovert DIC) được đề xuất bởi ISTH vẫn chưa đầy đủ để phát hiện bệnh nhân mắc DIC ở giai đoạn sớm. Hơn nữa, không có xét nghiệm trong phòng thí nghiệm đủ đặc hiệu và nhạy cảm để chẩn đoán chính xác các giai đoạn được bù và mất bù của DIC. Cho đến nay, có rất ít nghiên cứu nhằm so sánh hiệu suất chẩn đoán của các dấu hiệu liên quan đến fibrin (FRM) khác nhau trong DIC mất bù và còn bù, và kết quả của chúng cũng khác nhau. Với mục đích chính của báo cáo này là đánh giá vai trò của monome Fibrin hòa tan trong chẩn đoán phòng ngừa DIC.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giá trị của Fibrin Monomer hòa tan trong chẩn đoán đông máu nội mạch lan tỏa

Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 6 * 2019<br /> <br /> <br /> GIÁ TRỊ CỦA FIBRIN MONOMER HÒA TAN<br /> TRONG CHẨN ĐOÁN ĐÔNG MÁU NỘI MẠCH LAN TỎA<br /> Huỳnh Nghĩa*<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Đông máu nội mạch lan tỏa (DIC) là một rối loạn huyết khối tắc mạch đặc trưng bởi sự tăng hoạt động của<br /> đông máu và tiêu sợi huyết thứ phát. DIC không phải là một bệnh tự nó nhưng luôn thứ phát của một rối loạn<br /> tiềm ẩn. Nguyên nhân liên quan bao gồm nhiễm trùng, các khối u tạng đặc hoặc huyết học ác tính, bệnh lý gan<br /> nặng, chấn thương, biến chứng sản khoa. Năm 2001, Tiểu ban Khoa học và Tiêu chuẩn hóa về DIC của Hiệp hội<br /> huyết khối và cầm máu quốc tế (ISTH) đã đưa ra các hướng dẫn chẩn đoán DIC mất bù và còn bù bao gồm các<br /> thông số bổ sung như antithrombin (AT), protein C, phức hợp thrombin-antithrombin (TAT), hoặc phức hợp<br /> fibrin monome (FM) hòa tan (SFMC). Tuy nhiên, giá trị của bảng điểm cho xác định DIC còn bù (Nonovert<br /> DIC) được đề xuất bởi ISTH vẫn chưa đầy đủ để phát hiện bệnh nhân mắc DIC ở giai đoạn sớm. Hơn nữa, không<br /> có xét nghiệm trong phòng thí nghiệm đủ đặc hiệu và nhạy cảm để chẩn đoán chính xác các giai đoạn được bù và<br /> mất bù của DIC. Cho đến nay, có rất ít nghiên cứu nhằm so sánh hiệu suất chẩn đoán của các dấu hiệu liên quan<br /> đến fibrin (FRM) khác nhau trong DIC mất bù và còn bù, và kết quả của chúng cũng khác nhau. Với mục đích<br /> chính của báo cáo này là đánh giá vai trò của monome Fibrin hòa tan trong chẩn đoán phòng ngừa DIC.<br /> Từ khóa: đông máu nội mạch lan tỏa, phức hợp monome fibrin hòa tan<br /> ABSTRACT<br /> THE ROLE OF SOLUBLE FIBRIN MONOMER (SFM)<br /> IN DIAGNOSIS OF DIFFUSE INTRAVASCULAR COAGULATION (DIC)<br /> Huynh Nghia * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 6 - 2019: 40 – 48<br /> Disseminated intravascular coagulation (DIC) is a thrombohemorrhagic disorder characterized by<br /> hyperactivation of coagulation and secondary fibrinolysis. The DIC is not a disease itself but is always<br /> secondary to an underlying disorder. Commonly associated etiologies include infections, solid organ or<br /> hematological malignancies, severe liver disease, trauma, obstetric complications, and so on. In 2001, the<br /> Scientific and Standardization Subcommittee on DIC of the International Society of Thrombosis and<br /> Hemostasis (ISTH) laid down guidelines for the diagnosis of overt and nonovert DIC.7 Diagnostic criteria<br /> for nonovert DIC includes additional parameters such as antithrombin (AT), protein C, thrombin–<br /> antithrombin (TAT) complexes, or soluble fibrin monomer (FM) complexes (SFMCs). However, validation<br /> of a scoring algorithm for nonovert DIC proposed by ISTH is still incomplete for detecting patients with<br /> DIC in early stages.8–12 Moreover, no single laboratory test is specific and sensitive enough to make a<br /> definitive diagnosis of the compensated and decompensated stages of DIC. There are very few studies aimed<br /> at comparing the diagnostic performance of different fibrin-related markers (FRMs) in overt and nonovert<br /> DIC, and their results are also variable. With this reason, the primary aim of this report was to evaluate the<br /> role of soluble Fibrin monomer for diagnosis of DIC.<br /> Keywords: disseminated intravascular coagulation, soluble fibrin monomer complexes<br /> ĐẶTVẤNĐỀ mức hệ đông máu và tiêu sợi huyết thứ phát.<br /> Dẫn đến tạo thrombin quá mức, hình thành cục<br /> Đông máu nội mạch lan tỏa (DIC) là một rối fibrin trong vi mạch, tiêu thụ các yếu tố đông<br /> loạn đông cầm máu đặc trưng bởi hoạt hóa quá<br /> * Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh<br /> Tác giả liên lạc: PGS.TS. Huỳnh Nghĩa ĐT: 0918449119 Email: nghiahoathuphuong@gmail.com<br /> 40 Hội Nghị Khoa Học BV. Truyền máu Huyết học<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 6 * 2019 Tổng Quan<br /> <br /> máu và kháng đông tự nhiên tạo nên bệnh cảnh do hoạt hóa quá mức hệ đông máu, có thể ảnh<br /> xuất huyết và huyết khối. hưởng đến tất cả các hệ cơ quan: triệu chứng<br /> Đông máu nội mạch lan tỏa luôn là bệnh thần kinh: rối loạn tri giác, nói nhảm, triệu chứng<br /> cảnh thứ phát do các nguyên nhân nền gây ra thần kinh khu trú thoáng qua; triệu chứng da: tử<br /> như viêm nhiễm, ung thư máu, ung thư tạng ban hoại tử; triệu chứng thận: thiểu niệu, vô<br /> đặc, bệnh gan nặng, chấn thương, biến chứng niệu; triệu chứng phổi: suy hô hấp cấp. Chảy<br /> sản khoa, tán huyết cấp, nọc độc rắn. máu trong DIC do giảm các yếu tố đông máu và<br /> tiểu cầu, các triệu chứng xuất huyết da, niêm<br /> Biểu hiện lâm sàng đa dạng bao gồm triệu<br /> mạc, tại vị trí tiêm chích, ống thông, xuất huyết<br /> chứng của huyết khối, triệu chứng xuất huyết,<br /> tiêu hóa, tiểu máu (Hình 1).<br /> triệu chứng của bệnh nền. Huyết khối trong DIC<br /> <br /> Chảy Kéo dài PT và aPTT FFP, tiểu cầu,<br /> máu Giảm tiểu cầu yếu tố VIII,<br /> Giảm Fibrinogen Fibrinogen<br /> đậm đặc<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Thuốc chống<br /> tiêu sợi huyết Tiêu thụ yếu tố đông máu và tiểu cầu<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Chảy máu Tăng Quá Huyết khối<br /> hoạt mức<br /> tính chất<br /> Tăng D-dimer tiêu Tăng quá mức chống Tăng nồng<br /> Tăng phức hợp sợị Thrombin tiêu độ TAFI và<br /> Thrombin - huyết sợị PAI<br /> AntiThrombin huyết<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Tiêu thụ các yếu tố chống đông máu<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Protein C Huyết Kéo dài PT và aPTT<br /> hoạt hóa khối Giảm tiểu cầu<br /> Antithrombin Giảm Fibrinogen<br /> Heparin<br /> <br /> <br /> Hình 1. Sự thay đổi trong DIC so với đông máu bình thường. Sự tăng quá mức của Thrombin dẫn đến chảy máu<br /> hoặc tắc mạch và hướng can thiệp điều trị<br /> <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học BV. Truyền máu Huyết học 41<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 6 * 2019<br /> <br /> <br /> DIC là một bệnh cảnh phức tạp với nguy cơ trợ. Ngoài ra còn các điều trị mới đang được thử<br /> tử vong cao, việc chẩn đoán cần kết hợp nhiều nghiệm như Antithrombin III và các chất ức chế<br /> yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng, cho đến nay, Thrombin, Protein C hoạt hóa.<br /> chưa có một xét nghiệm nào để khẳng định hoặc Bảng 1.Bảng điểm chẩn đoán DIC còn bù của ISHT<br /> loại bỏ chẩn đoán. Vì vậy phương án chẩn đoán<br /> sớm và điều trị kịp thời đóng vai trò then chốt<br /> trong DIC.<br /> Hiệp hội huyết khối và đông máu Quốc tế<br /> (ISHT) đã đưa ra hướng dẫn chẩn đoán DIC(5),<br /> trong đó chẩn đoán DIC giai đoạn còn bù dựa<br /> trên các chỉ số antithrombin (AT), protein C,<br /> phức hợp thrombin–antithrombin (TAT), phức<br /> hợp monomer fibrin hòa tan (SFMCs). Tuy nhiên<br /> chưa được phê chẩn đầy đủ (Bảng 1, 2).<br /> Bảng 1. Bảng điểm chẩn đoán DIC mất bù của ISHT<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> If ≥ 5: compatible with non-overt DIC<br /> If < 5: suggestive for non-DIC<br /> <br /> <br /> FIBRIN MONOMER<br /> Khi phức hợp Prothrombinase được kích<br /> hoạt từ con đường đông máu chung một lượng<br /> Thrombin hình thành đủ lớn, lúc này Thrombin<br /> tạo ra sẽ cắt hai mảnh Fibrinopeptide A và 2<br /> mảnh Fibrinopeptide B của Fibrinogen để tạo<br /> thành Fibrin monomer (FM) với vị trí gắn trên<br /> domain E để có thể kết hợp domain D của phân<br /> tử FM khác, nhanh chóng tự trùng hợp thành<br /> phân tử Fibrin (Hình 2), phân nhánh tạo thành<br /> mạng lưới Fibrin và được làm bền vững nhờ yếu<br /> Chưa có một xét nghiệm đơn lẻ nào đủ đặc<br /> tố XIIIa giúp tạo thành tạo thành liên kết hai<br /> hiệu và nhạy để chẩn đoán tin cậy DIC còn bù và<br /> chuỗi γ và hai chuỗi αC của domain D với nhau.<br /> mất bù. Các bằng chứng gần đây cho thấy Fibrin<br /> Vì vậy FM là phân tử đánh dấu thời điểm sắp<br /> monomer là một chỉ số có giá trị để chẩn đoán<br /> khởi đầu tạo cục máu đông.<br /> DIC, giúp chẩn đoán sớm và can thiệp điều trị<br /> kịp thời. Sau khi được hình thành mạng lưới Fibrin,<br /> mạng lưới này sẽ bị thoái gián bởi hệ thống tiêu<br /> Điều trị DIC được cá nhân hóa tùy vào tình<br /> sợi huyết tạo ra nhiều loại sản phẩm thoái gián<br /> trạng bệnh nhân, bao gồm có truyền chế phẩm<br /> của Fibrin trong đó có D-dimer. Sự cân bằng của<br /> máu, heparin, điều trị bệnh nền và điều trị hỗ<br /> <br /> <br /> 42 Hội Nghị Khoa Học BV. Truyền máu Huyết học<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 6 * 2019 Tổng Quan<br /> <br /> hệ thống đông máu và hệ thống tiêu sợi huyết xem xét mức D-dimer hoặc SF, do đó khảo sát cả<br /> giúp duy trì trạng thái lỏng lưu thông dễ dàng D-dimer và SF có thể được khuyến cáo.<br /> trong thành mạch được bảo vệ toàn vẹn (Hình 3). SF bao gồm phần lớn là desAA-FM hoặc<br /> Nồng độ Fibrin hòa tan (SF) trong huyết desAABB-FM, vì vậy còn gọi là phức hợp fibrin<br /> tương tăng ngay thời điểm trước khi tạo huyết monomer hòa tan (SFMC). Nhờ các kháng thể<br /> khối và giảm ngay sau đó (2-3 ngày)(6). Trong khi đơn dòng nhận diện chuỗi α của fibrinogen<br /> đó nồng độ D-dimer huyết tương tăng lên sau được bộc lộ ra nhờ thrombin để tạo thành fibrin<br /> khi tạo huyết khối và chúng vẫn duy trì được (IF43 nhận diện vùng Aa52–78, F405 nhận diện<br /> mức cao sau 7 ngày sau đó. Những phát hiện vùng Aa17–25, Aa17–25 nhận diện vùng Aa502–<br /> này cho thấy SF phản ánh giai đoạn đầu của 521) giúp định lượng được nồng độ SF/SFMC có<br /> huyết khối trong khi D-dimer phản ánh sự tiêu giá trị trong nhiều tình huống rối loạn đông cầm<br /> sợi huyết thứ phát sau khi hình thành huyết máu khác nhau (Hình 4).<br /> khối. Vì vậy huyết khối có thể bị bỏ qua nếu chỉ<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> D-dimer<br /> <br /> <br /> Hình 2. Quá trình tạo thành fibrin và các sản phẩm của thoái gián fibrin<br /> <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học BV. Truyền máu Huyết học 43<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 6 * 2019<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 3. Biến thiên của Fibrin hòa tan, D-dimer và các sản phẩm thoái giáng của fibrin theo thời gian kể từ thời<br /> điểm xãy ra huyết khối<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 4. Cấu trúc Fibrinogen và vị trí nhận diện bởi các kháng thể đơn dòng (vòng tròn đỏ)<br /> <br /> <br /> 44 Hội Nghị Khoa Học BV. Truyền máu Huyết học<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 6 * 2019 Tổng Quan<br /> <br /> <br /> GIÁTRỊCỦAFIBRINMONOMERTRONGDIC Muffg/mL) so với nhóm tiền-DIC (181 ± 132<br /> Nottg/mL, p
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2