intTypePromotion=1

Giáo trình hệ tính CCNA Tập 3 P2

Chia sẻ: Van Van | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

0
233
lượt xem
97
download

Giáo trình hệ tính CCNA Tập 3 P2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kế tiếp giáo trình hệ thống mạng máy tính CCNA 2 giúp bạn tìm hiểu hoạt dộng của router và hướng dẫn cấu hình cơ bản cho router với các giao thức định tuyến đơn giản như RIP, IGRP. Như các bạn đã biết router là thiết bị quan trọng của mạng số liệu với nhiệm vụ then chốt là định tuyến . Nhiệm vụ định tuyến của router không dừng lại ở đó mà được phát triển tốt hơn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình hệ tính CCNA Tập 3 P2

  1. 217 Hình 1.1.4.d Quá trình địa chỉ IP theo VLSM ở trên được tóm tắt lại theo sơ đồ sau: 1.1.5 Tổng hợp địa chỉ với VLSM. Khi sử dụng VLSM các bạn nên cố gắng phân bố các subnet liền nhau ở gần nhau để có thể tổng hợp địa chỉ. Trước 1997 không có tổng hợp địa chỉ hệ thống định tuyến xương sống của Internet gần như bị sụp đổ mấy lần. Hình 1.1.5
  2. 218 Hình 1.1.5 là một ví dụ cho thấy sự tổng hợp địa chỉ lên các router tầng trên. Thực chất tổng hợp địa chỉ là bài toán đi ngược lại bài toán chia địa chỉ theo VLSM. Nếu như ví dụ ở phần 1.1.4 là một bài toán đi từ một địa chỉ mạng lớn 192.168.1.0/24 chi thành nhiều tầng subnet nhỏ hơn thì bây giờ bài toán ở hình 1.1.5 đi ngược lại, từ các subnet con tổng hợp lại thành subnet lớn hơn. Tổng hợp dẫn cho đến khi thành một địa chỉ mạng lớn 200.199.48.0/22 đại diện chung cho toàn bộ các subnet bên trong hệ thống. Tương tự như VLSM các bạn muốn thực hiện được tổng hợp địa chỉ thì phải chạy giao thức định tuyến không theo lớp địa chỉ như OSPF EIGRP vì các giao thức này có truyền thông t in về subnet mask đi kèm với địa chỉ IP subnet trong các thông tin định tuyến. Mặt khác bạn muốn tổng hợp địa chỉ đúng thì khi chia địa chỉ theo VLSM để phân phối cho hệ thống mạng bạn phải chi a theo cấu trúc phân cấp như ví dụ ở phần 1.1.4 và phân phối các subnet liền nhau ở cạnh tranh nhau trong cấu trúc mạng. Sau đây là một số nguyên tắc bạn cần nhớ: 1. Mỗi router phải biết địa chỉ subnet cụ thể của tất cả các mạng kết nối trực tiếp vào nó 2. Mỗi router không cần phải gửi thông tin chi tiết về mỗi subne t của nó cho các router khác nếu như nó có thể tổng hợp các subnet thành một địa chỉ đại diện được 3. Khi tổng hợp địa chỉ như vậy bảng định tuyến của các router tầng trên sẽ được rút gọn lại 3.1.6 Cấu hình VLSM Sauk hi chia địa chỉ IP theo VLSM xong thì bước tiếp theo là bạn cung cấp địa chỉ IP cho từng thiết bị trong hệ thống. Việc cấu hình địa chỉ IP choa các cổng giao tiếp của router vẫn như vậy. không có gì đặc biệt. Ví dụ như hình 1.1.6 sau khi đã phân phối địa chỉ theo VLSM xong bạn cấu hình địa chỉ IP cho các cổng giao tiếp của router như sau:
  3. 219 Hình 1.1.6 3.2 Rip phiên bản 2 1.2.1 Lịch sử của RIP Internet là một tập hợp các hệ tự quản. Mỗi Á có một cơ chế quản trị, một công nghệ định tuyến riêng, khác với các AS khác. Các giao théc định tuyến được sử dụng bên trong một AS được gọi là giao thức định tuyến nội vi IGP. Để thực hiện định tuyến giữa các AS với nhau chúng ta phải sử dụng mọt giao thức riêng gọi la giao thức định tuyến ngoại vi EGP. RIP được thiết kế như là một giao thức IGP dùng cho các AS có kích thước nhỏ không sử dụng cho các hệ thống mạng lớn và phức tạp. RIPv1 là một giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách nên quảng bá toàn bộ bảng định tuyến của nó cho các router láng giềng theo định kỳ. Chu kỳ cập nhật của RIP là 30 giây. Thông số định tuyến của RIP là số lượng hop, giá trị tối đa là 15 hop. RIPv1 là giao thức định tuyến theo lớp địa chỉ, Khi RIP router nhận thông tin về một mạng nào đó từ một cổng, trong thông tin định tuyến này không có thông tin về subnet mask đi kèm. Do đó router sẽ lấy subnet mask của cổng để áp dụng cho địa chỉ mạng mà nó nhận được từ cổng này. Nếu subnet mask này không phù hợp thì nó sẽ lấy subnet mask mặc định theo lớp địa chỉ để áp dụng cho địa chỉ mạng mà nó nhận được.
  4. 220 Địa chỉ lớp A có subnetmask mặc định là 255.0.0 Địa chỉ lớp B có subnet mask mặc định là 255.255.0.0 Địa chỉ lớp c có subnet mask mặc định là 255.255.255.0 RIPv1 l à giao th ức đ ịnh tuyến được sử dụng phổ biến vì mọi router IP đều có hỗ trợ giao thức này. RIPv1 được phổ biến vì tính đơn giản và tính tương thích toàn cầu của nó. RIPv1 có thể chia tải ra tối đa là 6 đường có chi phí bằng nhau. Sau đây là những điểm giới hạn của RIPv1: • Không gửi thông tin subnet mask trong thông tin định tuyến • Gửi quảng bá thông tin định tuyến theo địa chỉ 255.255.255.255 • Không hỗ trợ xác minh thông tin định tuyến • Không hỗ trợ VLSM và CIDR RIPv1 được cấu hình đơn giản như trong hình 1.2.1 Hình 1.2.1 1.2.2 Đặc điểm của RIP phiên bản 2 RIPv2 được phát triển từ RIPv1 nên nó vẫn có các đặc điểm như RIPv1 • Là một giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách sử dụng số lượng hop làm thông số định tuyến • Sử dụng thời gian holddown để chống lặp vòng, thời gian này mặc định là 180 giây • Sử dụng cơ cế split horizon để chống lặp vòng • Giá trị hop tối đa là 15 RIPv2 có gửi subnet mask đi kèm với các địa chỉ mạng trong thông tin định tuyến. Nhờ đó RIPv2 có thể hỗ trợ VLSM và CIDR
  5. 221 RIPv2 có hỗ trợ việc xác minh thông tin định tuyến. Bạn có thể cấu hình cho RIP gửi và nhận thông tin xác minh trên cổng giao tiếp của router bằng mã hoá MD hay không mã hoá RIPv2 gửi thông tin định tuyến theo địa chỉ multicast 224.0.0.9 1.2.3 So sánh RIPv1 và RIPv2 RIP sử dụng thuật toán định tuyến theo vectơ khoảng cách. Nếu có nhiều đường đến cùng một đích thì RIP sẽ chọn đường có số hop ít nhất. Chính vì dựa vào số lượng hop để chọn đường nên đôi khi con đường mà RIP chọn không phải là đường nhanh nhất đến đích RIPv1 cho phép các router cập nhật bảng định tuyến của chúng theo chu kỳ mặc định là 30 giây. Việc gửi thông tin định tuyến cập nhật liên tục như vậy giúp cho topo mạng được xây dụng nhanh chóng. Để tránh bí lặp vòng vô tận. RIP giới hạn số hop tối đa để chuyển gói là 15hop . Nếu tới được và gói dữ liệu đến đó sẽ bị huỷ bỏ. Điều này làm giới hạn khả năng mở rộng của RIP. RIPv1 sử dụng cơ chế split horizon để chống lặp vòng. Với cơ chế này khi gửi thông tin định tuyến ra một cổng giao tiếp RIPv1 router không gửi ngược trở lại các thông tin định tuyến mà nó học được từ chính cổng đó. RIPv1 còn sử dụng thời gian holddown để chống lặp vòng. Khi nhận được một thông báo về một mạng đích bị sự cố router sẽ khởi động thời gian holddown . Trong suốt khoảng thời gian holddown router sẽ không cập nhật tất cả các thong tin có thông số định tuyến xấu hơn về mạng đích đó RIPv2 được phát triển từ RIPv1 nên nó cũng có các đặc tính như trên. RIPv2 cũng là giao thức Là một giao thức định tuyến theo vetơ khoảng cách sử dụng số lượng hop làm thông số định tuyến Sử dụng thời gian holddown để chống lặp vòng thời gian này mặc định là 180 giây Sử dụng cơ chế spit horizon để chống lặp vòng Giá trị hop tối đa RIPv2 có gửi subnet mask đi kèm với cácđịa chỉ mạng trong thông tin định tuyến. Nhờ đó, RIPv2 có thể hỗ trợ VLSM và CIDR
  6. 222 Ripv2 có hỗ trợ việc xác minh thông tin định tuyến. Bạn có thể cấu hình cho RIP gửi và nhận thông tin xác minh trên cổng giao tiếp của router bằng mã hoá MD5 hay không mã hoá RIPv2 gửi thông tin định tuyến theo địa chỉ multicaskt 224.0.0.9 1.2.3 So sánh RIPv1 và RIPv2 RIP sử dụng thuật toán định tuyến theo vectơ khoảng cách. Nếu có nhiều đường đến cùng một đích thì RIP sẽ chọn đường có số hop ít nhất. Chình vì chỉ dựa vào số lượng hop để chọn đường nên đôi khi con đường mà RIP chọn không phải là đường nhanh nhất đến đích RIPv1 cho phép các router cập nhật bảng định tuyến của chúng theo chu kỳ mặc định là 30 giây. Việc gửi thông tin định tuyến cập nhật liên tục như vậy giúp cho topo mạng được xây dựng nhanh chóng. Để tránh bị lăp vòng vô tận, RIP giới hạn số hop tối đa để chuyển gói là 15 hop. Nếu một mạng đích xa hơn 15 router thì xem như mạng đích đó không thể tới được và gói dữ liệu. đó sẽ bị huỷ bỏ . Điều này làm giới hạn khả năng mở rộng của RIP , RIPv1 sử dụng cơ chế split horizon để chống lặp vòng. Với cơ chế này khi gửi thông tin định tuyến ra một cổng giao tiếp , RIPv1 router khônggửi ngược trở lại các thông tin định tuyến mà nó học đước từ chính cổng dó, RIPv1 còn sử dụng thời gian holddown để chống lặp vòng. Khi nhận được một thông báo về một mạng đích bị sự cố, router sẽ khởi động thời gian holddown. Trong suốt khoảng thời gian holddown router sẽ không cập nhật tất cả các thông tin có thông số định tuyến xấu hơn về mạng đích đó RIPv2 được phát triển từ RIPv1 nên nó cũng có các đặc tính như trên RIPv2 cũng là giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách sử dụng số lượng hop làm thông số định tuyến duy nhất . RIPv2 cũng sử dụng thời gian holddown và cơ chế split horizon để tránh lặp vòng Sau đây là các điểm khác nhau giữa RIPv1 và RIPv2
  7. 223 RIPv1 RIPv2 Cấu hình đơn giản Cấu hình đơn giản Định tuyến theo lớp địa chỉ Định tuyến không theo lớp địa chỉ Không gửi thông tin về subnet mask Có gửi thông tin về subnet mask trong trong thông tin định tuyến. thông tin định tuyến. Không hỗ trợ VLSM. Do đó tất cả các Hỗ trợ VLSM. Các mạng trong hệ thống mạng trong hệ thống RIPv1 phải có IPv2 có thể có chiều dài subnet mask cùng subnet mask. khác nhau. Không có cơ chế xác minh thông tin Có cơ chế xác minh thông tin định định tuyến. tuyến. Gửi quảng bá địa chỉ Gửi multicast theo địa chỉ 224.0.0.9 nên theo hiệu quả hơn. 255.255.255.255. 1.2.4. Cấu hình RIPv2 Để cấu hình một giao thức định tuyến động, chúng ta đều thực hiện các bước sau Chọn giao thức định tuyến, ví dụ như RIPv2 chẳng hạn Khai báo các địa chỉ mạng IP cho giao thức định tuyến không cần khai báo giá trị subnet mask Khai báo địa chỉ IP và subnet mask cho các cổng router Lệnh network khai báo địa chỉ mạng IP tham gia và tiến trình định tuyến. Cổng nào của router có địa chỉ IP rơi vào trong địa chỉ mạng được khai báo ở lệnh network thì cổng đó sẽ tham gia vào quá trình gửi và nhận thông tin định tuyến cập nhật. Mặt khác lệnh network cũng khai báo những địa chỉ mạng mà router sẽ thực hiện quảng cáo về mạng đó Lệnh router rip version 2 xác định RIPv2 được chọn làm giao thức định tuyến chạy trên router
  8. 224 Hình 1.2.4.a Trong ví dụ ở hình 1.2.4.a router được cấu như A hình sau router rip - chọn rip làm giao thức định tuyến Version 2 – Xác định ripv2 Network 172.16.0.0 – khai báo địa chỉ mạng kết nối trực tiếp vào router A Network 10.0.0.0 – Khai báo địa chỉ mạng kết nối trực tiếp vào router A Khi đó tất cả các cổng trên router A kết nối vào mạng hoặc subnet trong 172.16.0.0 và 10.0.0.0 sẽ gửi và nhận thông tin cập nhật RIPv2 Hình 1.2.4.b 1.2.5 Kiểm tra RIPv2
  9. 225 Lênh show ip protocol sẽ hiển thị các giá trị của giao thức định tuyến và các thời gian hoạt động của giao thức đó. Trong ví dụ ở hình 1.2.5.a lệnh này cho thấy router được cấu hình với RIP không nhận được bất kỳ thông tincập nhật nào từ một router láng giềng trong 180 giây hoặc hơn thì những con đường học được từ router láng giềng đó sẽ được xem là không còn giá trị. Nếu vẫn không nhận thông tin cập nhật gì cả thì sau 240 giây, các con đường này sẽ bị xoá khỏi bảng định tuyến . Trong hình router A nhận được cập nhật mới nhấttừ router B cách đây 12 giây. thời gian holddown 180 giây. Khi có một con đường được thông báo là đã b ị ngắt con đường đó sẽđược đặt vào trạng thái holddown trong 180 giây Hình 1.2.5.a Router sẽ gửi thông tin về các đường đi trong các mạng được liệt kê sau dòng routing for networks. Router nhận được các thông tin cập nhật từ các router láng giềng được liệt kê sau dòng routing information sources chỉ số độ tin cậy mặc định của rip là 120 Lệnh show ip interface brief được sử dụng để tổng hợp thông tin trạng thái của các cổng trên router
  10. 226 Hình 1.2..5.b Lệnh show ip route sẽ hiển thị nội dụng bảng định tuyến Ip . Trong bảng định tuyến cho biết về đường đi đến các mạng đích mà router học được đồng thời cho biết các thông tin này được học như thế nào Nếu thông tin trong bảng định tuyến bị thiếu một đường đi nào thì bạn nên dùng lệnh show running – config hoặc show ip protocols để kiểm tra lại cấu hình định tuyến 1.2.6 Xử lý sự cố RIPv2 Sử dụng lện debug ip rip để hiển thị các thông tin định tuyến RIP khi chúng được gửi đi và nhận vào. Bạn dùng lệnh no debug all hoặc undebug all để tắt mọi debug đang bật Ta xét ví dụ như hnhf 1.2..6 router A nhận được thông tin về hai mạng đích trên cổng serial 2 từ router láng giềng có địa chỉ IP là 10.11.2 . Router A cũng gửi thông tin cập nhật của nó ra hai cổng ethernel và serial 2 với địa chỉ là địa chỉ quảng bá còng địa chỉ ngoặc là địa chỉ IP nguồn Đôi khi bạn còn gặp một số câu thông báo trong lệnh debug ip rip như sau
  11. 227 Những câu này xuất hiện khi router mới khởi động lên hoặc khi có một sự cố mới xảy ra như một cổng bị thay đổi trạng thái hay router bị xoá mất bảng định tuyến 1.2.7 Đường mặc định Mặc định router học thông tin về đường đến mạng đích bằng 3 cách sau’ Đường cố định – là đường do người quản trị mạng cấu hình bằng tay cho router trong đó chỉ định rõ router kế tiếp để tới mạng đích. Đường cố định có khả năng bảo mật cao vì khong có hoạt động gửi thông tin cập nhật như đường định tuyến động. Đường cố định rất hữu dụng khi chỉ có một đường duy nhất đến đích không còn đường nào khác phải chọn lựa Đường mặc định cũng do người quản trị mạng cấu hình bằng tay cho router. Trong đó khai báo đường mặc định để sử dụng khi router không biết đường đến đích. Với đường mặc định định tuyến router sẽ dược ngắn gọn hơn. Khi gói dữ liệu có địa chỉ mạng đích mà router sẽ gửi nó ra đường mặc định Đường định tuyến động là những đường do router học được từ các router khác nhờ giao thức định tuyến động Hình 1.2.7 giả sử hệ thống mạng này sử dụng giao thức định tuyến động .Router HK1 có kết nối ra internet,kết nối này là đuờng mặc định của toàn bộ hệ thống mạng bên
  12. 228 trong.Những gói nào khôn gửi đến các mạng bên trong nội bộ mà gửi ra ngoài thì mặc nhiên sẽ được gửi lên đường mặc định ra internet. Để khai báo đường mặc định cho router HK1chúng ta dùng lện sau :I b HongKong1(config)#ip route 0.0.0.0 0.0.0.0 192.168.20.2 Lệnh trên là lệnh cấu hình đường cố định đặc biệt đại diện cho bất kì mạng đích nào với bất kì subnetmask nào .Xin nhấn mạnh một lần nữa , lệnh trên được sử dụng để khai báo đường măc định cho router nào có kết nối đường mặc định vào nó Các router còn lại trong hệ thống, ta dùng lệnh ip default-network để khai báo mạng mặc định này cho các router: Router(config)#ip default-network 192.168.20.0 Các router HK2,HK3,HK4 sẽ sử dụng mang 192.168.20.0 làm mạng đích mặc định .Những gói dữ liệu nào có địa chỉ đích mà các router nào không tìm thấy trên bảng định tuyến của chúng thì chúng sẽ gửi về mạng mặc định 192.168.20.0.Kết quả là các gói dữ lieu này được chuyển tớ i router HK1. Trên router HK1 , với khai báo mặc định la iproute 0.0.0.0 0.0.0.0 192.168.20.2, các gói dữ liệu sẽ được truyền ra đường kết nối với Internet TỔNG KẾT Sau đây là các điểm quan trọng trong chương này VLSM và lí do sử dụng nó Chia địa chỉ mạng IP thành các subnet có kích thước khác nhau bằng VLSM cấu hình router sử dụng VLSM Dặc điểm chính của RIPv1 và RIPv2 Điểm khác nhau quan trọng giữa RIP1và RIPv2 Cấu hình RTPv2 Kiểm tra và xử lí sự cố hoạt động RTPv2 Cấu hình đường mặc định bằng lệnh ip route và ip default-network .
  13. 229 Chương 2: OSPF ĐƠN VÙNG GIỚI THIỆU Giao thức định tuyến nội vi (IGP) có 2 loại chính là định tuyến theo vector khoảng cách và định tuyến theo trạng thái đường liên kết. Cả 2 loại giao thức định tuyến này đều thực hiện định tuyến trong phạm vi một hệ tự quản. Chúng sử dụng 2 phương pháp khác nhau để thực hiện cùng một nhiệm vụ. Thuật toán định tuyến trạng thái theo đường liên kết, hay còn gọi là thuật toán chọn đường ngắn nhất (SPF – Shortest Path First), lưu giữ một cơ sở dữ liệu phức tạp các thông tin về cấu trúc hệ thống mạng. Thuật toán này có đầy đủ thông tin về các router trên đường đi và cấu trúc kết nối của chúng. Ngược lại, thuật toán định tuyến theo vectơ khoảng các không cung cấp thông tin cụ thể về cấu trúc đường đi trong mạng và hoàn toàn không có nhận biết về các router trên đường đi. Để có thể cấu hình, kiểm tra và xử lý sự cố của các giao thức định tuyến theo trạng thái đường liên kết thì việc hiểu các hoạt động của chúng là điều rất quan trọng. Chương này sẽ giải thích cách làm việc của giao thức định tuyến theo trạng thái đường liên kết, liệt kê các đặc điểm của chúng, mô tả thuật toán mà chúng sử dụng và đồng thời chỉ ra các ưu nhược điểm của loại giao thức này. Ban đầu, các giao thức định tuyến như RIPv1 đều là các giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách. Ngày nay, có rất nhiều giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách đang được sử dụng như RIPv2. IRGP và giao thức định tuyến lai EIGRP. Khi hệ thống mạng ngày càng phát triển lớn hơn và phức tạp hơn thì những điểm yếu của giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách lại càng bộc lộ rõ hơn. Router sử dụng giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách học thông tin định tuyến bằng cách cập nhật bảng định tuyến từ các router láng giềng kết nối trực tiếp. Hoạt động cập nhật theo định kỳ này chiếm băng thông cao và cách học thông tin định tuyến như vậy làm cho mạng hội tụ chậm. Giao thức định tuyến theo trạng thái đường liên kết thì khác với giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách. Giao thức này phát các thông tin về đường đi cho mọi router để các router trong mạng đều có cái nhìn đầy đủ về cấu trúc hệ thống mạng. Hoạt động cập nhật chỉ được thực hiện khi có sự kiện thay đổi, do đó băng thông được sử dụng hiệu quả hơn và mạng hội tụ nhanh hơn. Ngay khi có sự thay
  14. 230 đổi trạng thái của một đường liên kết, thông tin được phát ra cho tất cả các router trong mạng. OSPF là một trong những giao thức quan trọng nhất của loại giao thức định tuyến theo trạng thái đường liên kết. OSPF dựa trên một chuẩn mở nên nó có thể được sử dụng và phát triển bởi các nhà sản xuất khác nhau. Đây là một giao thức phức tạp được triển khai cho các mạng lớn. Các vấn đề cơ bản về OSPF sẽ được đề cập đến trong chương này. Cấu hình Cisco router cũng tương tự như cấu hình các giao thức định tuyến khác. Đầu tiên OSPF cũng phải được khởi động trên router, sau đó khai báo các mạng mà OSPF được phép hoạt động trên đó. Ngoài ra, OSPF cũng có một số đặc tính riêng và cấu hình riêng. Các đặc tính riêng này đã làm cho OSPF trở thành một giao thức định tuyến mạnh nhưng đồng thời tạo nên những thách thức khi cấu hình OSPF. Trong hệ thống mạng lớn, OSPF có thể được cấu hình mở rộng trên nhiều vùng khác nhau. Nhưng trước khi có thể thiết kế và triển khai mạng OSPF lớn thì bạn phải nắm được cấu hình OSPF trên một vùng. Do đó chương này sẽ mô tả cấu hình OSPF đơn vùng. Sau khi hoàn tất chương này, các bạn có thể thực hiện các nhiệm vụ sau: • Xác định các đặc tính quan trọng của giao thức định tuyến theo trạng thái đường liên kết. • Giải thích được giao thức định tuyến theo trạng thái đường liên kết xây dựng và duy trì thông tin định tuyến như thế nào. • Phân tich về thuật toán định tuyến theo trạng thái theo trạng thái đường liên kết. • Xác định ưu và nhược điểm cua loại giao thức định tuyến theo trạng thái đường liên kết. • So sánh và phân biệt giao thức định tuyến theo trạng thái đường liên kết với giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách. • Khởi động OSPF trên router. • Cấu hình địa chỉ loopback để định quyền ưu tiên cho router. • Thay đổi thông số chi phí để thay đổi quyết định chọn đường của OSPF. • Cấu hình cho OSPF thực hiện quá trình xác minh. • Thay đổi các thông số thời gian của OSPF.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2