TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐẠI VIỆT SÀI GÒN
KHOA Y DƯỢC - TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN TIỀN LÂM SÀNG
GIÁO TRÌNH
Y HỌC GIA ĐÌNH
DÙNG ĐÀO TẠO CHO Y SỸ ĐA KHOA
TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG
2
MỤC LỤC
1. Chuyên khoa Y học gia đình các nguyên tắc của Y học gia đình...............3 2.
Tác động của bệnh tật đối với gia đình..........................................................16 3.
Các kỹ năng giao tiếp vấn sức khỏe .....................................................23 4.
Khám sức khỏe cho ngƣời già .......................................................................32 5.
Khám tầm soát tham vấn tại phòng khám ngoại trú theo y học gia đình .36 6.
Xét nghiệm sàng lọc theo nhóm tuổi yếu tố nguy ...............................49 7.
Duy trì sức khỏe cho ngƣời trƣởng thành ......................................................68
3
CHUYÊN KHOA Y HỌC GIA ĐÌNH
VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA Y HỌC GIA ĐÌNH
Mục tiêu: Sau khi học xong bài này, học viên có khả năng:
1. Trình bày đƣợc khái niệm Y học gia đình
2. Trình bày đƣợc sự phát triển Y học gia đình trên thế giới và Việt Nam. 3.
Phân tích sáu nguyên tắc cơ bản của Y học gia đình.
4. Giải thích các khái niệm thƣờng dùng ừong Y học gia đình
5. Nhận thức hiệu quả của Y học gia đình trong chăm sóc sức khỏe ngƣời dân. 1.
KHÁI NIỆM VỀ Y HỌC GIA ĐÌNH
1.1 Y học gia đình là gì?
Theo định nghĩa của Hiệp Hội Y Học Gia Đình Hoa Kỳ (AAFP): Y Học Gia Đình
ngành y học cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe liên tục, hiệu quả cho từng nhân và
gia đình. Đây chuyên ngành rộng lồng ghép sinh học, lâm sàng học khoa học hành
vi. Phạm vi hoạt động của y học gia đình gồm các nhóm tuổi, giới tính, quan và các
bệnh lý thực thể.
1.2. Hoàn cảnh ra đời
Tại các quốc gia đã phát triển, hầu hết việc chăm sóc sức khỏe các bệnh mạn tính nhƣ: đái
tháo đƣờng, tăng huyết áp, hen suyễn,... đã nhanh chóng chuyển từ phòng bệnh nội trú ra
phòng bệnh ngoại trú với các phác đồ điều trị đƣợc xây dựng phân cấp các bƣớc điều trị
ràng với sự cộng tác/đồng thuận của các chuyên khoa liên quan. Do đó bác gia đình
sẽ ngƣời phụ trách giải quyết các vấn đề quản theo dõi bệnh mạn tính tại phòng
khám ngoại trú một cách hiệu quả nhất. Nói cách khác, hoạt động bác gia đình sẽ trực
tiếp giảm bớt gánh nặng thời gian công việc cho các bác chuyên khoa liên quan,
đồng thòi tiết kiệm đƣợc chi phí nằm viện cho bệnh nhân và bảo hiểm y tế (khoa bệnh nội
trú, hồi sức chỉ dành cho các bệnh lý thật sự nặng hay cần chăm sóc tích cực với sự hỗ trợ
các bác sĩ chuyên khoa sâu)
2. CHUYÊN KHOA Y HỌC GIA ĐÌNH:
2.1 Lịch sử chuyên ngành Y học gia đình
- Bắt đầu hình thành từ thế kỷ 19 Anh quốc: 3 nhóm ngƣời thực hành các dịch vụ
chăm sóc sửc khỏe cho ngƣời dân: Physician (đƣợc đào tạo hàng năm và phụ trách dịch
vụ sức khỏe cho ngƣời giàu có), Surgeon (đƣợc huấn luyện ở các trƣờng
4
khác với trƣờng đào tạo physician) Apothecarie (ngƣời cung cấp thuốc men lời
khuyên cho tầng lớp thấp trong xã hội). Edward Jenner cha đẻ của thuốc chủng ngừa bệnh
đậu mùa đã tốt nghiệp Surgeon thay physician đã nhiều cống hiến cho đào tạo nghề
của hệ thống surgeon apothecaries. Vào đầu thế kỷ 19, thuật ngữ „thực hành đa khoa‟
(general practioner) đã đƣợc dùng phổ biến cho hai nhóm surgeon apothecaries do đòi
hỏi của xã hội về tính công bằng trong cung cấp dịch vụ sức khỏe.
- Thực hành đa khoa phát triển mạnh vào thế kỷ 19 tại Hoa Kỳ.
- Năm 1889, hình thành mô hình đào tạo chuyên khoa tại ĐH John Kopkins, Hoa Kỳ. -
1930 - 1970: giảm đáng kể số lƣợng bác sĩ thực hành đa khoa ở Hoa Kỳ với sự thay thế
của thực hành chuyên khoa chủ yếu ở thành thị. Đây là thòi kỳ bùng nổ thông tin và đào
tạo y khoa liên tục là giải pháp hữu hiệu giúp cải thiện thực hành lâm sàng trong giai đoạn
này. Bất cập ngày càng lớn đối với cung cấp dịch vụ y khoa ở vùng nông thôn và vùng
sâu vùng xa.
- 1960 hình thành Hội cấp chứng chỉ hành nghề thực hành tổng quát Hoa Kỳ, đến 1964
hình thành Hội cấp chứng chỉ hành nghề thực hành y học gia đình. Đến 7/1969 chỉ có 15
bác sĩ thực hành y học gia đinh đƣợc cồng nhận ở Hoa Kỳ, sau đó Y học gia đình đƣợc
chấp nhận và phát triển nhanh chóng đến 7/1979 đã có 6531 bác sĩ thực hành y học gia
đình đƣợc chấp nhận.Y học gia đìiủi đã góp phân thay đổi thực hành y khoa tại Hoa Kỳ
vào cuối thế kỷ XX và đau thế kỷ XXI. - Hiện nay Y học gia đinh đã phát triển thành Hội
BSGĐ các cấp quốc gia, khu vực, thế giới. WONCA là chữ viet tắt của World
Organization of National Colleges, Academies and Academic Associations of General
Practitioners/Family Physician, là tổ chức hàn lâm thực hành y học gia đình bắt đầu từ
1972 với 18 thành viên và hiện nay đã có 97 thành viên từ 79 quốc gia trong đó có Việt
Nam (từ 2003) với hơn 200.0 hội viên. Trang web của WONCA là:
www.globalfamilydoctor.com - WONCA có nhiệm vụ cải thiện chất lƣợng cuộc sống của
ngƣời dân trên toàn thế giới thông qua định nghĩa và cổ súy cho các giá tậ của nó cũng
nhƣ bởi việc nuôi dƣỡng và duy trì các chuẩn mực cao về chăm sóc thực hành y học gia
đình thông qua việc nhấn mạnh chăm sọc cá nhân, liên tục, dễ tiếp cận trong khung cảnh
gia đình và cộng đồng.
5
2.2 Y học gia đình là một chuyên khoa
Mặc mới đƣợc phát triển từ khoảng thập niên 60 của thế kỷ trƣớc nhƣng y học gia
đình đã có đầy đủ các yếu tố cấu thành một chuyên khoa nhƣ các chuyên khoa khác trong
đại gia đình y khoa:
- Triết lý: cung cấp dịch vụ y tế chất lƣợng cao một cách toàn diện, liên tục chú trọng
đến nguồn tai nguyên tại chỗ cho ngƣời dân trong cộng đồng không kđến tuổi, giới, tín
ngƣỡng, và tình trạng kinh tế.
- Thực hành: bằng cách lồng ghép lối tiếp cận sinh học, lâm sàng và khoa học hành vi
trong cung cấp dịch vụ sức khỏe.
- Tổ chức: đã hình thành các hiệp hội bác sĩ gia đinh cấp quốc gia (51 quốc gia), khu vực,
thế giới (WONCA) để hỗ trợ và chia sẻ kinh nghiệm trong đào tạo và thực hành bác sĩ gia
đình thông qua nhiều hình thức nhƣ hội thảo, tài liệu, website ... đƣợc cập nhật liên tục.
Y học gia đình là một chuyên khoa vì :
- Có triết lý đào tạo: chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ngƣời dân theo hƣớng dự phòng trên
cơ sở hai mô hình: hƣớng về bệnh nhân và tâm sinh lý xã hội. - Đối tƣợng phục vụ là toàn
thể ngƣời bệnh trong khung cảnh gia đình và cộng đông mà họ sinh sống chứ không phải
là hệ thống cơ quan hay một số các bệnh lý đặc hiệu nhƣ ở các chuyên khoa khác. Nói
cách khác, dân số bệnh nhân của Y học gia đình là các cá thể trong một cộng đồng gia
đình bao gồm ngƣời lớn và trẻ em, chứ không phải là các cá thể riêng lẻ ở từng chuyên
khoa do chủ yếu dựa trên quan niệm bệnh tật cùng cách xử lý có quan hệ chặt với môi
trƣờng sống mà gần nhất là gia đình. - Thực hành: chăm sóc ban đầu ở phòng khám ngoại
trú của các bênh viện từ trung ƣơng đến địa phƣơng.
- Chƣơng trình đào tạo: đã đào tạo sau đại học với các cấp độ residency (tƣơng đƣơng
chuyên khoa cấp I), fellow (tƣơng đƣơng chuyên khoa cấp II) đang triển khai vào
chƣơng trình đại học mức học phần tự chọn một số quốc gia. Bằng chuyên khoa bác
gia đình đƣợc các quốc gia công nhận giá trị hành nghề nhƣ các chuyên khoa khác.
chƣơng trình đào tạo Y khoa liên tục (Continuing Medical Education CẵM.E) g
trị bổ sung hành nghề.
6
+ Tại Việt Nam Y học gia đình đã số đào tạo chuyên khoa I, chuyên khoa II.
Chƣơng trình đào tạo chuyên khoa I (2 năm) tuyển sinh hàng năm cùng với các chuyên
khoa khác tại các trƣờng đại học từ 2001 đến nay.
+ Chƣơng trình đào tạo định hƣớng chuyên ngành Y học gia đình từ năm 2008 (tại
ĐHYDTPHCM).
- Nội dung đào tạo riêng với các luân khoa trong các bệnh viện chuyên khoa kết hợp Y
học chứng cứ, khoa học hành vi và sức khỏe gia đình cùng thực hành lâm sàng tại phòng
khám y học gia đình
- Chƣơng trình đào tạo: thiết kế dựa trên triết học tập cho ngƣời lớn, các năng lực cần
thiết (competency - basic curryculum). Để học viên đƣợc các năng lực cần thiết thì
ngƣời thầy phải đóng vai trò mẫu mực trong quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân, và quá trinh
đào tạo cũng phải toàn điện, liên tục, có chú ý đên tài nguyên sẵn có của học viên. Ngƣời
thầy truyền hết kinh nghiệm hành nghề, đồng thời tiếp tục theo dõi giúp đỡ học viên của
mình trong quá trình làm việc về sau một cách liên tục thông qua đào tạo y khoa liên tục.