
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
7
HIỆN THỰC NÔNG THÔN TRIỀU TIÊN PHẢN ÁNH
TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
(CƠN MƯA RÀO, ĐÓI KHÁT VÀ CHẾT CHÓC, LÀNG SAHA)
RURAL REALITIES REFLECTED IN CHOSON LITERATURE
UNDER COLONIALISM
Trần Thị Lan Anh
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Bài viết này nghiên cứu hiện thực nông thôn được phản ánh trong văn học Triều
Tiên giai đoạn bị thực dân đô hộ, lồng vào đó là trình bày hoàn cảnh xã hội nông thôn đương
thời, đồng thời quan sát quá trình triển khai văn học nông dân hiện thực của Triều Tiên.
Những tác phẩm được chọn trình bày trong bài viết này là những tác phẩm miêu tả chân thật
cuộc sống của người nông dân cũng như phản ánh được những mâu thuẫn, những bất công
phi lý của xã hội nông thôn đương thời, và đạt được sự đồng cảm của độc giả. Thông qua
những tác phẩm này, có thể thấy khả năng truyền tải hiện thực mạnh mẽ của văn học nông
thôn hiện thực Triều Tiên.
ABSTRACT
This paper focuses on the realities of rural areas, which were reflected in Choson
literature under the colonial period. Together with this, the historical circumstances of the
Choson under colonialism, the observation of implementation of a realistic peasant literature of
the Choson in this period are mentioned. The works selected to be mentioned in this paper
somehow describes farmers’ real life and reflects the contradictions and nonsense of a
contemporary rural society. Thus, this brings sympathy to the audience. It is through these
works that the capability of transmitting vehement realities of Korean rural realistic literature can
be observed.
1. Đặt vấn đề
Hàn Quốc và Việt Nam bắt đầu thiết lập mối quan hệ ngoại giao từ năm 1992,
đến nay gần được 20 năm. Trong gần 20 năm qua, hai nước không ngừng phát triển
hợp tác và hiểu biết lẫn nhau trên tất cả các lĩnh vực chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo
dục, v.v... đã đạt được những thành quả không nhỏ trong các lĩnh vực này. Đặc biệt
cách đây hơn 10 năm, 'làn sóng Hàn lưu' mang theo phim ảnh, thời trang, sản phẩm Hàn
Quốc lan tỏa khắp Châu Á, trong đó có Việt Nam. Chính 'Làn sóng Hàn lưu' này đã góp
phần thúc đẩy giao lưu văn hóa Việt - Hàn và gần đây nhất nó 'đánh thức' mối quan tâm
về lĩnh vực văn học giữa hai nước.
Tại sao lại là 'đánh thức'? Đó là vì, nếu nhìn lại quá khứ, chúng ta có thể thấy
những năm 1907, 1908 các trí thức Triều Tiên đã được đọc bản dịch Việt Nam vong
quốc sử, hay sau này Nửa chừng xuân, Sống như Anh cũng được dịch và giới thiệu ở

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
8
Hàn Quốc. Truyện Kiều của Nguyễn Du, và tập thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh
cũng được giáo sư An Kyong Hwan dịch vào năm 2004. Cùng thời gian đó thì tiểu
thuyết cổ điển Xuân Hương truyện, tiểu thuyết hiện đại Thời gian ăn tôm hùm, Tuyển
tập truyện ngắn hiện đại Hàn Quốc cũng được các giáo sư Hàn Quốc và Việt Nam dịch
và giới thiệu ở Việt Nam. Điều này cho thấy sự giao lưu văn học giữa hai nước có được
những khởi điểm đáng mừng. Tuy nhiên đây mới chỉ dừng lại ở việc dịch và giới thiệu
tác phẩm, chứ không đi sâu nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của từng loại
hình văn học, từng trào lưu văn học. Để thực hiện được công việc này, thì cần phải có
các công trình nghiên cứu khoa học, hay là các bài viết nghiên cứu chuyên sâu.
Trong bài này, tôi nghiên cứu trào lưu văn học hiện thực Triều Tiên viết về chủ
đề nông thôn và nông dân dưới ách thống trị của thực dân. Thông qua bài viết, sẽ cho
thấy quá trình hình thành và phát triển của văn học nông dân hiện thực Triều Tiên và
đặc điểm của loại hình văn học này. Tuy không thật đầy đủ, nhưng tôi hy vọng rằng, bài
nghiên cứu này sẽ giúp cho sinh viên tiếng Hàn trường Đại học Ngoại ngữ học tốt môn
Trích giảng văn học Hàn Quốc, đồng thời đem lại hiểu biết sâu hơn về bối cảnh xã hội
Triều Tiên trong thời kỳ bị thực dân Nhật thống trị.
2. Tình hình xã hội nông thôn của Triều Tiên dưới ách thống trị của thực dân Nhật
Có thể nói trong văn chương chứa đựng hơi thở và dáng dấp của một thời đại,
ngược lại những biến cố lịch sử của một thời đại đã mang đến cho văn chương một
luồng gió mới, một dòng chảy mới mà người ta gọi là trào lưu văn học. Một trong
những trào lưu văn học xuất hiện ở Triều Tiên trong thời kỳ bị thực dân thống trị đó là
trào lưu văn học hiện thực nông dân. Trước khi tìm hiểu về trào lưu văn học này, cần
phải quan sát hiện trạng xã hội nông thôn Triều Tiên dưới ách đô hộ của thực dân Nhật.
Như chúng ta đều biết trong lịch sử Triều Tiên, đất nước này đã trải qua con
đường cận đại hóa dưới ách đô hộ của thực dân Nhật (từ năm 1910 đến năm 1945).
Trong suốt thời gian bị thống trị dài như thế, người dân Triều Tiên không những chịu sự
áp bức về tinh thần, về chính trị mà còn bị bóc lột triệt để về kinh tế. Thời kỳ này Triều
Tiên được biết đến là một quốc gia nông nghiệp, kinh tế trọng tâm của Triều Tiên là nền
kinh tế nông nghiệp và nông dân chiếm đại đa số dân số. Do đó những chính sách bóc
lột được chế độ thực dân thực hiện triệt để và toàn diện nhất ở nông thôn, và đối tượng
cướp bóc là những nông dân Triều Tiên lương thiện. Nhằm tăng cường bóc lột đến tận
xương tủy người nông dân, từ năm 1910 đến 1918 thực dân thi hành chính sách 'Điều
tra đất đai', không chỉ có vậy trong quá trình thực hiện chính sách công nghiệp hóa tại
bản quốc, do thiếu lương thực nên thực dân Nhật lại thi hành tiếp chính sách 'Kế hoạch
tăng sản lượng lương thực' vào năm 1920. Chính hai chính sách bóc lột kinh tế này của
thực dân đã làm cho đại đa số nông dân Triều Tiên mất đất, mất ruộng và rơi vào cảnh
khốn cùng, trở thành tá điền làm thuê hoặc phải lưu lạc sang tận Mãn Châu, Trung Quốc
để tìm đất sống.
Như vậy có thể thấy rằng trong suốt 35 năm dưới ách thống trị của thực dân,
những mâu thuẫn và thực trạng cuộc sống của nhân dân Triều Tiên được phản ánh rõ

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
9
nét nhất thông qua bức tranh hiện thực nông thôn. Do đó, có thể nói thực trạng xã hội
nông thôn của Triều Tiên chính là một mặt của xã hội Triều Tiên trong lịch sử. Và cuộc
sống của nông dân Triều Tiên thời kỳ đó cũng có thể gọi là một điển hình của cuộc sống
người Triều Tiên dưới ách thống trị của thực dân Nhật.
3. Quá trình hình thành và phát triển của văn học nông dân hiện thực Triều Tiên
Thời kỳ từ năm 1910 đến năm 1920 được xem là thời kỳ có nhiều biến động
nhất trong lịch sử cận đại Triều Tiên. Về mặt chính trị, Nhật Bản khống chế và chi phối
toàn bộ mọi mặt về tư pháp, trị an, hành chính và quân đội. Về mặt văn hóa xã hội chịu
sự tác động to lớn của hai luồng tư tưởng phong kiến phương Đông và thâu nhận văn
minh phương Tây. Vì vậy, những nhà văn thời kỳ này vừa tiếp nhận những tư tưởng xã
hội tiến bộ và những quan niệm mới về văn học của phương Tây, vừa quan tâm đến
hiện tượng bần cùng hóa ở nông thôn. Từ đây loại hình văn học hiện thực Triều Tiên
thời kỳ đầu đã được hình thành, và đến cuối những năm 1920 lý luận văn học nông dân
ra đời đề cập đến hiện tượng nông thôn bị tàn phá và hiện tượng bần cùng hóa của
người nông dân Triều Tiên, đồng thời phê phán và tố cáo sự áp bức và bóc lột của thực
dân Nhật. Thời kỳ này trong xã hội Triều Tiên xuất hiện hai phong trào nông dân đó là
phong trào nông dân cách mạng hoạt động phi hợp pháp và phong trào khai sáng nông
thôn hoạt động hợp pháp. Những tác phẩm văn học phản ánh hiện thực nông thôn xuất
hiện ở thời kỳ này chịu ảnh hưởng lớn từ hai phong trào trên. Đất của Lee Wang Soo là
tác phẩm thuộc giai đoạn đầu của văn học nông dân Triều Tiên và ưu điểm của tác
phẩm này là đã thể hiện rất linh động hình tượng phong trào khai sáng nông thôn đương
thời, thoát ra khỏi quan niệm ‘nông thôn là nơi sản xuất nông nghiệp’ ‘nông thôn là nơi
người nông dân sinh sống’, thay vào đó là tác giả đã nhấn mạnh trong Đất ‘nông thôn
phải gắn với cuộc sống, với sinh mạng của dân tộc’. Tuy có được ưu điểm như vậy,
nhưng chính yếu tố khai sáng đã làm giảm tính hiện thực của tác phẩm.
Ngược lại, những nhà văn ủng hộ phong trào nông dân cách mạng đã tiếp cận
sâu sát và phản ánh chân thật hiện thực nông thôn Triều Tiên đương thời. Kim Yoo
Jong đã khắc phục được tính khai sáng và tính quan niệm về nông thôn thuần túy vốn
có của văn học nông thôn Triều Tiên thời kỳ đầu, và đưa văn học nông dân Triều Tiên
lên một giai đoạn mới, giai đoạn chủ nghĩa hiện thực trong văn học nông dân. Ở giai
đoạn này, trong tác phẩm văn học đã bắt đầu xuất hiện hình tượng người nông dân
nghèo khổ sống dưới đáy của xã hội, những mảnh đời bi kịch, những làng mạc tiêu
điều, xơ xác là hệ quả của chính sách bóc lột thực dân. Bằng văn phong hài hước và
châm biếm, các nhà văn thời kỳ này đã lột tả toàn bộ hiện thực nông thôn đương thời,
đồng thời lên án, tố cáo đanh thép những chính sách bóc lột tàn bạo của thực dân trên
bán đảo Triều Tiên. Cơn mưa rào (1935) của Kim Yoo Jong đã hình tượng hóa trọn
vẹn mô típ này.
Trong lúc dân tộc Triều Tiên đang loay hoay tìm con đường giải phóng dân tộc,
thoát ra khỏi ách thống trị của Nhật Bản, thì trên thế giới sau thành công của Cách mạng
Nga, tư tưởng chủ nghĩa giai cấp bắt đầu lan tỏa khắp Triều Tiên. Những nhà văn và các

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
10
trí thức Triều Tiên đương thời mong muốn giải phóng dân tộc thoát khỏi ách đô hộ của
thực dân Nhật đã nhanh chóng hấp thu tư tưởng chủ nghĩa xã hội, và chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ của tư tưởng giai cấp. Để đối ứng với hiện thực, trong tác phẩm văn học thời
kỳ này bắt đầu phản ánh mối quan hệ giai cấp giữa địa chủ và nông dân, điều này thể
hiện rõ giá trị hiện thực của văn học nông dân Triều Tiên. Mặt khác, một bộ phận tác
giả trong giai đoạn này vẫn còn tâm lý chán nản do thất bại của phong trào Ngày 1
tháng 3, vì vậy tác phẩm của họ dù đạt được giá trị hiện thực thông qua việc phản ánh
chân thật bức tranh nông thôn và mâu thuẫn giai cấp giữa địa chủ và nông dân, nhưng
tác giả lại chọn cách giải quyết mâu thuẫn đó bằng bạo động (giết người và tự sát). Đói
khát và chết chóc của Choe Seo Hae đã giải quyết mâu thuẫn giai cấp, xung đột xã hội
bằng phương thức đó. Tuy nhiên điểm hạn chế này đã được Kim Jong Han khắc phục
trong tác phẩm Làng Saha. Khắc phục hạn chế này và cho thấy được triển vọng, lạc
quan của người nông dân thì phải kể đến tác phẩm Làng Saha của Kim Jong Han. Làng
Saha được đánh giá là tác phẩm lột tả hết được cái nghèo khổ, bần cùng mà người nông
dân Triều Tiên phải chịu đựng, lên án gay gắt xã hội thực dân, phản ánh mạnh mẽ mâu
thuẫn giai cấp giữa địa chủ và nông dân, đồng thời giải quyết mâu thuẫn này bằng tinh
thần lạc quan tin tưởng ở tương lai. Tác phẩm đã thể hiện được những tâm tư tình cảm,
cuộc sống của người nông dân và khơi dậy ý thức đấu tranh, đả phá giai cấp trong
xã hội.
Như vậy, văn học nông dân hiện thực Triều Tiên thời kỳ thực dân có những giai
đoạn hình thành và phát triển gắn chặt với bối cảnh xã hội, với hiện thực đương thời.
Những tác giả của trào lưu văn học thời kỳ này đều nhận thức hiện thực một cách khách
quan coi trọng tính chân thật và thể hiện tinh thần tố cáo hiện thực trong tác phẩm của
mình. Tuy các tác giả có những quan điểm và thế giới quan khác nhau, văn thể và
phương pháp sáng tác, tinh thần phê phán hiện thực cũng khác nhau nhưng có thể nói họ
đã thành công trong việc tái hiện một cách chân thật hiện thực nông thôn và hình ảnh
người nông dân Triều Tiên dưới ách thống trị của thực dân.
4. Hiện thực nông thôn Choson được phản ánh trong tác phẩm văn học
4.1 Hoàn cảnh khốn cùng của một gia đình nông thôn điển hình – trọng tâm là tác
phẩm Cơn mưa rào (1935) của Kim Yoo Jong
Cơn mưa rào của Kim Yoo Jong đã vẽ lên một mặt cuộc sống đau buồn nghèo
khổ của gia đình nông dân Triều Tiên điển hình những năm 1930, đồng thời phản ánh
chân thật thực trạng xã hội đương thời đó là người nông dân mất ruộng đất, nhà cửa
nên phải bỏ quê hương, đi ngụ cư ở nơi khác. Vợ chồng nhân vật chính trong Cơn
mưa rào cũng vì không trả được nợ nần nên phải bỏ trốn đến làng khác để sinh sống.
Nhưng nỗi thất vọng lại ập đến với họ khi mà nơi ở mới cũng ‘chỉ đầy rẫy những bất
an và đói khát bao trùm’, cuối cùng người chồng phải bán vợ và người vợ phải chọn
cách bán thân. Hai vợ chồng họ hành động như vậy cũng vì không thể chịu đựng nỗi
cái nghèo, cái đói, cái khốn khổ của cuộc sống mà chính sách bóc lột của thực dân
mang lại, họ cố gắng thoát ra khỏi cuộc sống bần cùng đó nhưng thất bại vì những

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
11
chính sách bóc lột và đàn áp vô nhân tính của thực dân ngày càng tàn bạo. Hành động
của hai vợ chồng họ có thể bị đánh giá là phi luân lý, phi đạo đức nhưng vấn đề cấp
bách nhất đối với người nông dân lúc bấy giờ là sự sinh tồn, là cái ăn hàng ngày chứ
không phải là quan niệm đạo đức, là luân lý xã hội. Đây chính là yếu tố mang lại giá
trị hiện thực cho tác phẩm, và đạt được sự đồng cảm cao từ độc giả. Có thể nói tác
phẩm Cơn mưa rào đã cho thấy hình tượng điển hình của một gia đình nông dân sống
dưới ách đô hộ của thực dân, đồng thời tác phẩm đã làm sống lại một thời đại đau
thương của dân tộc Triều Tiên.
4.2 Tuyệt vọng về hiện thực - trọng tâm là tác phẩm Đói khát và chết chóc (1925) của
Choe Seo Hae
Đói khát và chết chóc của Choe Seo Hae lấy bối cảnh di dân đến Mãn Châu,
Trung Quốc của nông dân Triều Tiên và cốt truyện xoay quanh cuộc sống nghèo khổ
của gia đình nông dân Kyong Soo, những mâu thuẫn giàu nghèo, xung đột giữa địa chủ
và gia đình Kyong Soo, nỗi tuyệt vọng và phẫn uất cực độ dẫn đến hành động giết
người rồi tự sát của nhân vật chính. Tác phẩm tố cáo mạnh mẽ xã hội đương thời đã chà
đạp lên ước vọng và quyền được sống của người dân, đẩy họ vào bi kịch của chính họ.
Kyong Soo nhận thức được bi kịch của gia đình mình là do bất công của xã hội, sự
nghèo đói và thống khổ có thể khắc phục được, nhưng đối với những bất công, phi lý
của xã hội thì phải phản kháng, nếu không phản kháng thì người nông dân không thể
tiếp tục sống trong xã hội đó. Tuy nhiên, hành động phản kháng của Kyong Soo có phần
tiêu cực, đó là giết tên lính trong đồn cảnh sát (biểu trưng cho quyền lực thực dân) đồng
thời giết cả người thân của mình (gồm mẹ, vợ, và con gái), và tự sát. Cách xây dựng
nhân vật và giải quyết vấn đề như vậy cho thấy tác giả Choe Seo Hae vừa chịu ảnh
hưởng của tư tưởng giai cấp thời kỳ đầu mới xuất hiện ở Triều Tiên nhưng về mặt tâm
lý, tác giả vẫn chưa cởi bỏ được tâm lý chán nản và thất vọng về thất bại của phong trào
ngày 1 tháng 3. Thông qua hành động phản kháng của Kyong Soo, tác giả đã thể hiện
tinh thần chống đối và phủ định toàn bộ hiện thực xã hội thực dân thối nát, những mâu
thuẫn gay gắt không thể tháo gỡ giữa địa chủ và nông dân, đồng thời cho thấy sức mạnh
giai cấp tiềm tàng trong xã hội phong kiến nông thôn đương thời.
4.3 Mâu thuẫn giai cấp và tinh thần đấu tranh của nông dân – trọng tâm là tác phẩm
Làng Saha (1936) của Kim Jong Han
Trong ba tác phẩm được đề cập ở bài viết này thì Làng Saha của Kim Jong Han
là tác phẩm không chỉ dừng lại miêu tả sống động hiện thực nông thôn mà còn thể hiện
tinh thần đấu tranh của người nông dân, cho thấy bước thay đổi trong nhận thức của
người nông dân Triều Tiên hướng đến cách mạng, đến đấu tranh tập thể. Nhân vật chính
trong tác phẩm không phải là một cá nhân, mà là một tập thể, đó là toàn bộ dân làng
Saha. Họ sống một cuộc sống như giun dế, vô cùng khốn khổ do bị địa chủ và thực dân
thi nhau đàn áp và bóc lột dã man. Thêm vào đó là hạn hán, mùa màng thất bát làm cho
cuộc sống của họ vốn khốn khổ càng thêm bần cùng hơn, uy hiếp đến cả bản năng sinh
tồn của họ. Trước thực trạng nông thôn bị tàn phá, nghèo đói, chết chóc, đầy rẫy những

