KHO SÁT NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH
DY KỸ NĂNG NGHE HIU CHO SINH VIÊN
HỌC TIẾNG ANH KHÔNG CHUYÊN NG
AN INVESTIGATION INTO THE DIFFICULTIES IN TEACHING LISTENING
COMPREHENSION SKILL TO NON-MAJOR ENGLISH LEARNERS
TÔN NỮ XUÂN PHƯƠNG
Trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Đà Nng
TÓM TT
Nghe hiểu được xem là k năng khó rèn luyện nhất trong bốn kỹ năng ngôn ngữ. Bài nghiên
cứu này nhắm đến việc khảo sát, tìm hiểu quá trình dy và học kỹ năng nghe hiểu cho đối
tượng sinh viên không chuyên ngtrường Đại học Kinh tế Đà Nẵng. Trên s tìm hiểu
bản chất và yêu cầu của môn học, và phân tích những khó khăn chủ quan và khách quan các
đối tượng này gặp phải, ngưòi nghiên cứu mong muốn đề đạt một sgiải pháp để cải thiện
tình hình.
ABSTRACT
Listening Comprehension has been considered the most difficult of the four language skills.
This study is aimed to investigate the teaching and learning of Listening Comprehension in the
non-major English classes at Danang College of Economics. On the basis of examining the
nature and requirements of the subject and analyzing the difficulties faced by the teachers and
learners of Listening Comprehension, the researcher wishes to explain the subjective and
objective reasons accounting for the unsatisfactory results in order to put forward some
suggestions for improvement.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua giảng dy ngôn ngữ theo đường hướng giao tiếp là phương pháp
ch đạo được áp dụng rộng rãi cho nhiều lớp học ngoại ngữ. Việc rèn luyện cho người hc k
năng giao tiếp được xem là mục tiêu cơ bản trong tiến trình dy học ngôn ngtrong đó cả bốn
k năng Nghe - Nói - Đc - Viết đều được đặc biệt chú trọng. Nghe hiểu không còn k
năng ngôn ngthụ động đòi hi kng tiếp nhn (receptive skill) như một số giáo viên quan
nim trước đây. Nghe hiểu trở thành k năng chủ động trong đó người học đóng vai trò tích
cực của người tham dvào thông tin được nghe, xử thông tin, hiểu và giải mã được thông
tin để cuối cùng phản hi lại với thông tin đó, đúng như tiến trình gồm bốn thao tác: cảm nhận
- hiểu - đánh giá - phản hồi do Steil, Barker & Wakson (1983) [4] đxuất. Chỉ khi nào ngưi
nghe th phản hồi được thì tiến trình nghe mới hoàn tất, quá trình giao tiếp mới đạt được
kết quả mong muốn. Kỹ năng nghe tồi có thể làm hỏng tiến trình giao tiếp. Nghe hiểu, vì vy,
được xem là yếu tố bản của quá trình giao tiếp. Ngưi học muốn tăng cường giao tiếp
không còn cách nào khác phải trau giồi kỹ năng nghe hiểu này.
2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1. Yêu cầu của người dạy người học trong quá trình học tập giảng dạy k
năng nghe hiểu
Trước đây từng quan điểm từ một sgiáo viên ngoại ngữ cho rằng không thdy
được kỹ năng nghe vì không thbiết thật sự điều gì đang din ra trong duy của người hc
suốt quá trình nghe. Tuy nhiên Mary Underwood (1989) [5] quan điểm ngược lại. Nghe
hiu là k ng thể dạy, trong đó người dạy cần khả năng đặt sinh viên vào nhng tình
huống khác nhau gắn liền vi các ch điểm ngôn ngữ khác nhau; khả năng biến qtrình
nghe trthành có mục đích bằng cách đưa ra các tình hung nghe tính thực tiễn cao, từ đó
dần dần giúp người học tự tin vào khả năng nghe của mình.
Cũng theo quan điểm của Mary Underwood [5], để rèn luyn k ng nghe hiệu quả,
ngưi hc cần trước hết áp dụng các phương pháp nghe vốn được sử dng một cách tự nhiên
trong quá trình nghe hiểu tiếng mẹ đẻ, không bám vào từng câu chcủa thông tin được nghe.
Ngưi học cần tăng cường học hi đmở mang thêm vốn kiến thức n hoá xã hội liên quan
đến chủ điểm được nghe, đng thời chp nhận hiểu một phần thông tin, không đặt ra yêu cầu
nm bắt toàn b thông tin đang được trình bày. Trong tiến trình đó, vn từ vựng của người
học, khả năng nhận diện các từ chuyển mạch, cách dùng trọng âm, ngđiệu của người nói,...
để đoán được những gì sắp xảy đến trong đàm thoại, khả năng hiểu được ý nghĩa thật sự ẩn
dưới câu chữ, khả năng phân biệt giữa dkiện trình bày quan điểm của người nói,...
những k năng nghe cần thiết người hc cần đuợc rèn luyn trong qtrìnhn luyn k năng
nghe hiểu.
2.2. Thực trạng giảng dạy-học tập kỹ năng nghe hiểu cho đối tượng sinh viên
không chuyên ngquan điểm của người học và người dạy về những khó khăn của việc
dạy-học kỹ năng nghe
Dựa trên kết qucủa các phiếu điều tra đối với đối tượng người học (100 sinh viên
không chuyên ngữ) và đối tượng người dạy (10 giáo viên Khoa Tiếng Anh không chuyên
ng), đồng thời trên sở đánh giá chủ quan của người nghiên cứu qua các buổi dự lớp và
các cuc phỏng vấn không chính thức, thể nhìn nhận thực trạng sau về tiến trình dy và
học nghe cho đối tượng sinh viên không chuyên ngữ:
V phía người học, phải thừa nhận thực tế là mặc dù đã qua 7 năm (81%), hoặc ít nht
3 năm (16%) học tiếng Anh chương trình phthông, đối với đa s sinh viên (76%), nghe
hiu là môn hc khá mới mẻ và hầu hết (98%) cho rằng nghe hiểu là môn hc khó nhất. Trong
khi đó, với 04 tiết học tiếng Anh mỗi tuần (học k 1), và 03 tiết / tuần (học kỳ 2 và học kỳ 3)
trong 15 tuần mỗi hc k, thi lượng giành cho học nghe lớp quá ít ỏi. Thời gian thọc của
sinh viên càng ít i hơn, chỉ có 27% sinh viên thừa nhn có luyn nghe thêm ở nhà từ 1 - 2 gi
/ tuần. Điều này giải phn nào thực trạng một số sinh viên đọc phần ghi lại lời băng nghe
(Tapescript) trước khi đến lớp, thói quen xấu biến quá trình nghe trthành nghĩa và lãng
phí thời gian.
Thói quen dịch sang tiếng Việt để hiểu từng câu chữ, mong muốn nghe và nhđược
100% thông tin cũng làm không ít sinh viên (63%) không phân biệt được đâu là nội dung cốt
lõi cần nắm bắt, đâu là thông tin thyếu thể bqua trong quá trình nghe. Nhn thức lệch
lc về yêu cầu của môn học kiểu này làm người học mệt mi và khuynh hướng ngán ngại,
hoang mang trong các gihc nghe tại lớp.
Vphía người dạy, việc áp dụng phương pp truyn thng trong giảng dạy ngôn ngữ
k cả dạy nghe hiểu một số giáo viên ng làm tình trạng này trnên tồi tệ hơn. Vẫn còn
quan niệm cho rằng nghe là rèn luyn kỹ năng tiếp nhận ngôn ngữ (receptive skill). Người
học được yêu cầu tiếp nhn thông tin mà không hđược gợi ý trước v tình huống sắp nghe
hay không hđược đặt ra yêu cầu phản hồi sau khi nghe một cách rõ ràng. Mt số giáo viên
cũng ý thức được sự cần thiết phi thay đi phương pháp dạy nhưng do thời lượng eo hẹp
lớp, họ không thể áp dụng được nhiều biện pháp hữu hiệu để thay đổi tình hình.
Sthiếu đầu trang thiết bị giảng dạy của trường sở tại (phòng lab, băng, đĩa,... ),
cộng với tình trạng lớp đông vẫn còn phổ biến các lớp không chuyên ngữ càng làm hạn chế
tính hiệu quả của quá trình dạy - học nghe ở đối tượng này.
Thực trạng không mấy khả quan này làm cho nghe hiểu đã khó càng trnên khó hơn.
Theo Brown and Yule (1983) [2], có bn yếu tố thể gây khó khăn cho tiến trình nghe hiểu:
ngưòi i, ngưi nghe, ni dung thông tin và các trang thiết b bỗ trợ. Thực tế thì trong q
trình dy và học môn nghe hiểu cho đối tượng này, người dạy ý thức được người học
thường gặp phải một số khó khăn sau:
Tr ngi trước tiên phi kđến là sthiếu kiến thức ngôn ngữ. Vốn từ hạn chế là tr
ngại lớn nhất đi với quá trình nghe hiểu của người hc (71%). Hạn chế này khiến người hc
do phải dừng lại suy nghĩ khi gặp từ mới, đã đvuột mất thông tin cần nắm tiếp theo. Đó là
chưa kể đến yếu tố tâm lý căng thng khi nghe thể biến những từ quen thuộc trở thành t
mi không nhn ra nổi trong quá trình nghe. Cách phát âm tvựng còn làm tăng đ khó của
n nghe lên nhiều lần. Những biến đổi âm trong li nói nhanh và liên tc so với cách phát
âm ràng tng âm tiết của giáo viên lớp cũng là tr ngại đáng kể. Chẳng hạn các hin
tượng âm Schwa /Ə/, hiện tượng nuốt âm (elision), đồng hoá âm (assimilation), đồng âm d
nghĩa (homophone), luôn là nhng thách thức không nhỏ đối với người học không chuyên
ng. Đó là chưa kể đến những giọng phát âm khác nhau (accents) vốn gây sốc và khủng
hoảng tâm lý cho người học.
Trở ngại về kiến thức ngôn ngữ càng gây khó khăn gấp bội khi kèm theo nó là hạn chế
kiến thức về lĩnh vực chuyên môn đcập đến trong bài nghe. Nếu không kiến thức nền
rộng liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, người hc khó thnhận đoán nhng điều sắp
nghe, suy diễn phát hiện những gì chưa nghe được để nâng cao hiệu quả của môn hc này.
Một vấn đni cộm khác làm ảnh hưởng không nhỏ kết quả quá trình dy - hc nghe
là shổng kiến thức văn hoá. Wardhaugh (1986) [6] khẳng định ngôn ngữ văn hoá mối
liên hkhông thể tách rời (inextricably), không thể hiểu và đánh giá ngôn ngữ ngoài yếu tố
văn hoá. Vì vy, nếu người học đem áp đặt mã văn hoá, phong tục tập quán của nn ngữ mẹ
đẻ vào ngôn ngữ đích sẽ không giải mã đúng, từ đó không suy đoán được, thậm chí hiểu sai ý
tưởng người nói cần chuyn tải.
Vn đề tâm ng là một khó khăn khác đối với người học trong tiếp nhn và phn
hồi thông tin. Một trong những yếu tố tâm lý dẫn đến tình trạng không nắm bắt được thông tin
được nhiều sinh viên (58%) chia slà người nghe không thể quyết định nhịp độ hay chnh
thông tin thành tng mảng dễ kiểm soát như khi đọc, viết hoặc nói. Người học chỉ có thể điều
chỉnh cho kịp với nhịp độ đang diễn ra. Nếu không có tâm lý vững người nghe không thể làm
được điều này. Khó hơn nữa là lời nói lập tức biến mất ngay sau khi thốt ra. Người nghe nếu
không nắm bắt được sợi chỉ xuyên suốt, mải lo chú ý đến tiểu tiết hoặc qsa đà vào việc
diễn nghĩa những gì nghe được, sẽ bỏ mất thông tin kế tiếp, dẫn đến hoảng sợ bỏ luôn thông
tin tiếp theo. Sự chăm chú giả tạo (faking attention) (Steil, Barker & Watson) của người học
cũng là thói quen xấu cần tránh trong quá trình rèn luyn kỹ năng nghe.
Các yếu tkhách quan về sở vật chất và i liệu giảng dy cũng như i trường
ngôn ngcũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu qudạy và học môn nghe. Trong lớp học cả
thầy và trò đu không phi người bản xứ, nguời hc ít điều kiện nghe đúng thứ tiếng
Anh của người bản địa, hay s dụng ngôn ngtrong các tình hung giao tiếp thực. Sinh viên
vì thế khuynh hướng phản ứng chậm, thậm chí không giao tiếp được khi được đặt vào các
tình hung giao tiếp cụ thể. Tình trng lớp đông và trình đkhông đồng đều cũng y nhiều
khó khăn cho người dạy trong việc xử lý các tình hung ở lớp. Thái độ học th động trong gi
học nghe một số lớp người nghiên cứu dp dự giờ ng cho thấy người học dường như
chưa quan tâm đúng mức đến việc tự nâng mình lên trong quá trình hc nghe.
2.3. Các giải pháp khắc phục
Trước hết người dạy người học cần hiểu rõ bản chất của quá trình nghe hiểu. Theo
Anderson & Lynch (1988) [1] và David Nunan (1991) [3], người nghe đóng vai trò là mt ch
th tích cực (active model builder), xây dựng cho mình k năng nắm bắt thông tin bằng
phương pháp ‘bottom-up’, pn đoạn lời nói thành tng đơn vị từ nhỏ đến lớn dần đhiểu;
hoặc phương pháptop-down’, ng kiến thức nền sẵn có ca mình để nắm bắt được vn đề.
Mặt khác, cũng theo quan điểm của Anderson & Lynch (1988) [1], có mối liên hệ mật
thiết giữa k năng nghe và k năng nói, giữa nghe hiểu và đc hiểu, trong đó nói là kết quả
của việc theo dõi hiểu nhng gì nghe được (“Speaking results from the process of
following and interpreting the listening input”) [1], và phát trin kỹ năng nghe không những
giúp cải thiện khả năng nghe mà còn phát triển được khả năng nói và đọc hiểu.
Từ đó người nghiên cứu xin đề xuất mt s kiến nghị sau:
Vphía người dạy, cần ng cao ý thức học hỏi đồng nghiệp đkhông ngừng đổi mới
phương pháp giảng dạy kỹ năng nghe hiểu, k năng được xem là khó nht. Người dy cần
shợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp để tìm ra phương pháp dạy tối ưu áp dụng
o bài giảng n nghe. Ngoài sđa dạng về phương pháp, giáo viên cần sdụng nhiều
nguồn dữ liệu khác nhau, với nhiều yêu cầu có độ khó khác nhau để không làm sinh viên khá
cảm thấy chán, đồng thời không làm sinh viên yếu nản vì cảm giác bị bỏ rơi.
Mặt khác, nhằm khắc phc tình trạng lớp đông sinh viên, giáo viên cũng cần khuyến
khích shp tác, giúp đỡ lần nhau giữa các đối tượng người học, và khuyến khích sinh viên ý
thức được họat động tự hc nhà. Người dạy cần từng bước hướng dẫn, rèn luyn cho ngưi
học khả năng suy đoán, suy diễn dựa trên nh nh gi ý ban đầu, hoặc các yếu tố báo hiệu
chuyn ý như các liên từ, từ nối câu… để đoán được thông tin tiếp theo. Kỹ năng phát âm của
sinh viên, đặc biệt những trường hợp biến âm như hiện tượng nuốt âm, đồng âm, đồng hoá,...
cũng nên được tăng cường trong việc thiết kế các hoạt động nghe hiểu tại lớp.
V phía người học, cần nhận thức đúng bản chất và yêu cầu của môn nghe hiểu để có
kế hoạch điều chỉnh, rèn luyện phương pháp nghe hiểu hiệu quả. Sinh viên cn tuyệt đối tránh
thói quen thđộng, không động não suy nghĩ trước lúc nghe, cũng như cần khắc phục hiện
tượng chú ý gitạo, hoặc thói quen xem trước Tapescript, mong muốn nắm bắt 100% thông
tin,... Ngưi hc ng cần tận dụng mọi hội để thể luyn nghe, cả trong lẫn ngoài lớp
học, nâng cao ý thức tự học nhà, kcả luyn phát âm thật chuẩn những từ đã học. Do sự
liên thông giữa nghe hiểu vi một số kỹ năng khác, quá trình luyn nghe n được thực hiện
trên cơ sở kết hp trau gii các k ng nói, đọc hiểu. Ngoài ra, người học cũng cần đọc thêm
nhiu tài liệu sách báo liên quan đến nhiều chủ đề khác nhau để mở rộng vốn kiến thức nền về
các vn đề kinh tế xã hội của mình.
Vphía người lên chương trình và biên son giáo trình, cũng cần tạo sự chủ động cho
ngưi dạy và người hc lớp. Ngoài các tài liệu giảng dạy bắt buộc trên lớp, các đối tượng
giảng dạy, học tập ngôn ngữ nói chung, k năng nghe hiểu nói riêng, cần được giành riêng
một phần thời gian tương ng với 1/5 thời lượng của cả học k đ thể thực hiện một số
hoạt động giao tiếp theo nhu cầu và sthích của sinh viên. Người dy người hc th
chuẩn bị một số băng đĩa nghe không nằm trong chương trình như bài hát, nhng mẩu chuyện
sinh động, hoặc một số tài liệu ghi âm từ c cuộc phng vấn, trò chuyện truyn hình, hay
t đoạn thoại trong một bộ phim đang ăn khách,... để làm thay đổi khẩu vị làm đa dạng
hoá các hoạt động nghe hiểu tại lp.
Các lớp hc cần được bố trí trang thiết bị thuận lợi cho việc dạy và học kỹ năng nghe,
tốt hơn hết là ở khu vực tách biệt để khi ảnh hưởng đến giờ dạy của các giáo viên khác.
3. KẾT LUẬN
Thành công trong dy học ngôn ngữ nói chung, trong dạy và hc k năng nghe hiểu
nói riêng phải là kết qucủa nhng nỗ lực toàn diện không chtừ phía người dy, người học,
còn tnhững yếu tố liên quan như i liệu giảng dạy, phương pháp giảng dạy, phương
pháp đánh giá,... Xuất pt tbản chất của môn học, người nghiên cứu mong muốn giải
những khó khăn đối với ngưi dạy ngưi hc các lớp không chuyên nggặp phải trong
quá trình giảng dạy và học tập k năng nghe để từ đó đề xuất một sồ ý kiến nhằm để cải thiện
tình hình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Anderson, A. & Lynch, T., Listening, OUP, 1998.
[2] Brown, G, & Yule, G., Teaching Spoken English, CUP, 1983a.
[3] Nunan, D., Language Teaching Methodology, Prentice Hall International (UK) Ltd,
1991.
[4] Steil, L. et al, Effective Listening, Mc. Graw Hill, Inc. 1983.
[5] Underwood, M., Teaching Listening, Longman, 1989.
[6] Wardhaugh, R., An Introduction to Sociolinguistics, Basil Blackwell Ltd, 1986.