KYÕ THUAÄT THI COÂNG CHÖÔNG VI. COÂNG TAÙC BEÂTOÂNG
270
CHƯƠNG VI
CÔNG TÁC BÊTÔNG
TRONG THI CÔNG BÊTÔNG CỐT THÉP TOÀN KHỐI
BÀI 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KẾT CẤU BÊ TÔNG VÀ BÊ TÔNG CỐT THÉP
I. NHNG ĐẶC TÍNH CỦA BÊTÔNG
Các thành phn vật liệu trong bêtông gồm: chất kết dính, coat liệu lớn, cốt liu
nhỏ.
1. Sữa ximăng là hỗn hợp ximăng với ớc, được sử dụng n mt loại keo dính để
liên kết các hạt cát, viên đá lại với nhau, vậy ximăng là chất kết dính.
2. H bêtông là hn hợp ximăng, nước, cát, đá, sau khi đổ khuôn và ninh kết, hồ đó trở
thành loại đá nhân tạo, gọi là bêtông.
Sau khi đầm và đông cứng nó trở thành mt vật liệu đồng nhất (tương đối).
Cũng như tất c các loại đá, bê tông chịu nén tốt nhưng chịu kéo kém.
3. Cát, đá là vật liệu trơ không tham gia vào quá trình đông cứng của bêtông, nhưng lại
là bxương cứng của bêtông, được gọi là ct liệu. Có ba loại cốt liệu sau:
- Ct liệu nhỏ là cát, xỉ, kê-răm-dít …, cỡ hạt tới 5mm.
- Ct liệu lớn là đá dăm, đá sỏi, hạt xỉ, hạt kê-răm-dit cỡ hạt lớn 5 - 150mm.
- Ct liệu độn là đá hc, cỡ 200 - 300mm, cho lẫn vào h bêtông trong kết cấu
không có ct thép.
4. Vữa ximăng - cát là hỗn hợp gồm ximăng, nước, cát, dung lượng trung bình 1800
kg/m3, còn gi là bêtông hạt nhỏ.
5. Bêtông nặng là loại bêtông thông dụng nhất, dung trọng 2200 - 2500 kg/m3 tu
thuộc loại đá sử dụng.
6. Bêtông nh làm bằng các ct liệu có cấu trúc rỗng xốp (kê-răm-dit, pec-lít, xỉ lò cao
…), dung trọng nhỏ dưới 1700 kg/m3, dùng m bêtông cách nhit.
7. Bêtông cc nặng có dung trọng 2800 - 8000 kh/m3, cốt liệu gồm quặng sắt, mu
gang, tp, barit, magnhêtit … được dùng để xây dựng lò phản ứng hạt nhân, nhà máy
điện nguyên tử … làm những bức tường ngăn cản phóng x.
8. Bêtông chịu nhiệt là loại bêtông chịu đưc nhiệt độ cao trong lò nung, lò hơi …;
nhiệt độ cao nhất mà bêtông này chịu được tuỳ thuộc khnăng chịu nhiệt của loại cốt
liệu sử dụng.
9. Bêtông đúc sẵn bêtông được đúc trước trong các khuôn định hình, ri mới lắp đặt
vào vị trí trong công trình, còn gọi là kết cấu đúc sẵn.
10. Bêtông trang trí là bêtông có mặt ngoài được gia công đặc biệt, thành các hoa văn
hoặc thành các đường nét tạo dấu ấn kiến trúc, có màu sắc do sử dụng ximăng trắng
pha bt màu.
11. Bêtông khô là bêtông sử dụng rất ít nước, có độ sụt nhỏ dưới 2cm, dùng để đúc các
bề mặt có độ dốc nghiêng.
KYÕ THUAÄT THI COÂNG CHÖÔNG VI. COÂNG TAÙC BEÂTOÂNG
271
12. Bêtông cường độ cao, cường độ đó là 500 - 600 kG/cm2; muốn có loại bêng này
thì phải sản xuất được loại ximăng mác cao nhưc bêtôngphải thay đi công
nghsản xuất ximăng.
13. Cường độ bêtông là kh năng chịu nén ép của bêtông sau khi đông cứng được 28
ngày. Cường độ bêtông phthuộc chất lượng các vật liệu thành phần. Phòng thí
nghiệm vật liu y doing lựa chọn ra các t lệ thành phn vật liệu sao cho cường độ
tông không thấp hơn mác thiết kế. Kiểm tra sự lựa chọn này bng cách ép vỡ các
mẫu bêtông thí nghiệm trên máy n, sau khi bêtông đã đạt 7 hay 28 ngày tuổi.
14. Cht lượng ximăng, cường độ (hoạt tính) ximăng càng cao thì cường độ bêtông
cũng cao. Tốc độ đông cứng của ximăng càng lớn thì cường độ bêtông cũng tăng
nhanh.
15. Lượng ximăng cho 1 m3 bêng. Cường độ bêtông sẽ cao nhất khi đã sử dụng một
lượng ximăng đủ để sữa ximăng lắp kín hết các lỗ rỗng trong cát và bao bọc hết các
hạt cát còn vữa ximăng - cát thì đủ để lấp kín các khe rỗng giữa các viên ct liệu lớn.
16. Lượng nước cho ximăng. Khi sử dụng cùng mt lượng ximăng, cường độ bêtông
sẽ thp đi nếu lượng nước trong hồ bêtông tăng lên. Giải thích điều này như sau: lượng
nước cần thiết cho xiăng thy hoá chỉ vào khoảng 20% trọng lượng ximăng, nghĩa là
khi sử dụng 220 - 250 kg ximăng cho 1m3 bêtông thì ch cần 45 - 50 lít nước; nhưng
khiy hồ bêtông quá khô nên khó trộn đu, k đổ khuôn và đầm chặt, người ta phải
tăng lượng nước lên 3 - 4 lần, khoảng 160 - 180 lít nước cho 1m3 bêtông. Phần nước
dư thừa sbốc hơi khi bêtông ninh kết, để lại những lỗ rỗng xốp, càng nhiều nước thì
độ rỗng xốp trong bêtông càng lớn, do đó cường độ bêtông giảm.
17. Cht lượng cốt liệu. Hình dạng, kích cỡ và thành phần các viên cốt liệu to nên
chất lượng bêtông. Các viên đá gồm nhiều kích cỡ khác nhau (không đều nhau) thì
tyhể tích rỗng sẽ giảm. Độ bám bề mặt viên đá coat liệu làm tăng độ dính bám của vữa
ximăng với viên coat liu đó, tức làm tăng cường độ bêtông. Hình dạng viên đá dài,
dẹt, mặt nhẵn làm giảm cường độ bêtông. Độ dơ bẩn của coat liệu làm giảm sức bám
dính của nó với vữa ximăng, tức làm giảm cường độ bêtông.
18. Cht lượng trộn hồ bêtông. Trộn hồ bằng thủ công chất lượng không đồng đều như
khi trộn bằng máy trộn. Số lần trộn quá ít hoặc thời gian trộn quá ngắn đều làm giảm
cường độ bêtông.
19. Độ chặt ca hồ bêtông. Hđược làm chặt bằng đầm rung thì cường độ bêtông s
tăng lên 10 - 30% so với đầm thủ công.
20. Điều kiện đông cứng. Cường độ bêtông sẽ tăng lên cao nhất khi nó được đông
cứng trong môi trường nóng ẩm. Ngược lại trong môi trường nóng khô, chất lượng
tông giảm đi khá nhiều.
Nhiệt độ khí trời thấp làm chậm tốc độ đông cứng của hồ bêtông; ở nhiệt độ
0oC, hồ bêtông không đông cứng được.
21. Dung trọng bêtông là thành phần chất rắn (đá ximăng và coat liu) ở trong đơn v
th tích bêtông đó, chng hạn, dung trọng bêng là 0,85; nghĩa là 85% thể tích bêtông
đó là chất rắn, còn 15% thể tích đó là phần rỗng xốp doớc trong bêtông đã bốc hơi
để lại. Trong xây doing ta hiểu dung trọng bêtông là trọng khối tính bằng kg/m3. dung
trọng là yếu tố quan trọng của bêtông, vì cường độ, độ chống thấm, độ bean lâu của
tông phụ thuộc vào dung trọng này.
22. Độ chống thm là yêu cu của bêng các h chứa nước, các công trình thu lợi.
Người ta tăng dần áp lực nước lean mu bêtông thou nghim để tìm ra áp lực lớn nhất
khi nước còn chưa thấm qua mẫu bêtông đó.
KYÕ THUAÄT THI COÂNG CHÖÔNG VI. COÂNG TAÙC BEÂTOÂNG
272
23. Cường độ mạch ngừng. Trong công trình bêtông coat thép đúc toàn khối thường
những mạch ngừng do quá trình đúc bị gn đoạn. Trước khi đúc bêtông trlại can
phải đánh nhám và rửa sạch bề mặt tiếp xúc, nếu không, cường độ liên kết giữa bêtông
cũ và tông mi sẽ giảm đi nhiều.
24. Tính co ngót của bêtông. Hồ bêng chứa nước nên khi ninh kết thể tích bêtông
thay đổi: ở ngoài khí trời bêtông s44 khô và co ngót; trong nước bêtông s nở ra chút
ít. Mặt ngoài bêtông k nhanh hơn bean trong khối bêtông, tạo sự co ngót không
đồng đều, từ đó phát sinh ra các vết nứt ly ty hỗn lon (vết nứt co ngót). Có thể làm
giảm sự co ngót không đồng đều này bng cách thường xuyên tưới ẩm mặt ngoài và
che ph mặt ngoài đó khỏi mau khô vì nắng gió.
H bêtông chứa nhiều xi măng và nhiu nước thì co ngót càng nhiu nhất là khi
tông ninh kết trong môi trường khô.
25. Tính phát nhit của bêtông. Trong quá trình ninh kết các phản ứng hoá học của
tông toả nhiệt; nhiều nhất trong các khối bêtông lớn, như trong các khối móng lớn,
các công trình thu lợi … tạo ra những ứng suất nhiệt trong bêtông.
26. Tính co giãn ca bêtông theo nhit độ. Giống như mi loại vật liệu, bêtông cũng co
giãn khi nhit độ môi trường thay đổi. Hệ số co gãin tuyến tính của bêtông trunh bình
là 0,00001 nghĩa là trên mi 10m dài, bêtông giãn ra 1mm khi nhiệt độ tăng lên 10oC.
sự biến dạng do nhiệt đ này thấy rõ ràng trong các công trình nhà cửa có khối tích
lớn, nó ảnh hưởng xấu đến cường độ bêtông. Để giảm tác dụng này của nhiệt độ,
người ta chia công trình ra làm nhiều pân đoạn bằng những mạch (khe) nhiệt.c
mạch nhiệt này cách nhau khoảng 40m, chiều rộng khe nhiệt 10 - 15mm.
27. Bê tông ct thép là skết hợp của 2 loại vật liệu bê tông và cốt thép khi đông kết
ng sẽ dính chặt với thép để cùng nhau chịu lực. Với cùng 1 diện tích, cốt thép
chịu lc rất lớn so với bê tông. Khi đặt ct thép vào bê tông thì khả năng chịu lực (đặc
bit chịu kéo) của kết cấu bê ng stăng lên rt nhiều.
II. TÍNH LƯU ĐỘNG CỦA HỒ BÊTÔNG
Khi chọn các thành phần cho hồ bêtông, không nên chỉ quan tâm đến cường độ
không thôi, mà cần chú ý đến hai đặc tính ảnh hưởng đến quá trình thi công, đó tính
lưu động và tính ổn định của hồ bêtông.
1. Tính lưu động của hồ bêtông
H bêtông cn phải có một độ chảy dẻo nhất định để có thể trút nhanh ra khỏi
ci trộn, khỏi phương tiện vận chuyển, để có thể đúc khuôn nhanh, lấp kín được mọi
khe hgiữa các thanh cốt tp xen dày. Tính lưu động của hồ bêtông được đo bng
"ống côn" (hình 6.1), dụng cụ này bng tôn, đường kính miệng trên 100mm, đường
kính đáy dưi 200mm, chiều cao 300mm. nhồi bêtông vào ống côn làm ba lớp, mỗi
lớp dày 100mm; dùng thanh sắt đường kính 15mm để xọc nhi mỗi lớp 25 nhát. Sau
khi gạt hồ dư tha trên miệng ống, rút côn lên từ từ và thẳng đứng. Khối hồ bêtông s
lún sụt, nhười ta đo độ st này bằng một thước ngang như trong hình 6.1.
Dựa vào độ sụt đo được ta phân hồ bêtông ra làm ba dng độ st:
- Bêtông có độ st bằng 0 hay bằng 1 - 2cm, gi là bêtông khô;
- Bêtông có độ st bằng 3 - 16cm, gi là bêng dẻo;
- Bêtông có độ st trên 16cm, gọi là bêtông lỏng.
Tu theo từng loại kết cấu bêtông và quy của chúng mà chọn độ sụt ca hồ
tông theo bảng 6.1.
Độ sụt và độ cứng của hỗn hợp bêtông tại vị trí đổ (TCVN 4453 - 1995)
(Bảng 6.1)
Loi và tính chất của kết cấu Độ sụt (mm) Chsố độ cứng (S)
KYÕ THUAÄT THI COÂNG CHÖÔNG VI. COÂNG TAÙC BEÂTOÂNG
273
Đầm máy Đầm tay
- Lớp lót dưới móng hoặc nn nhà, nền đường và nn đường băng; 0 - 10 - 50 -
40
- Mặt đường và đường bằng, nền nhà, kết cu khối lớn không hoặc ít cốt thép (tường
chn, ng bloc…); 0 - 20 20 - 40 35 - 25
- Kết cấu khối lớn có tiết diện lớn hoặc trung bình; 20 - 40 40 - 60 25 -
15
- Kết cấu bêtông ct thép có mật độ cốt thép dày đặc, tường mỏng, phễu silô, ct, dầm
và bản tiết diện bé… các kết cấu bêng đổ bằng cốp pha di động. 50 - 80 80 -
120 12 - 10
- Các kết cấu đổ bằng bêtông bơm 120 200
Các số liệu về độ st và độ cứng nêu trong bảng ứng với bêtông khô bêtông
dẻo. Còn đối với bêtông lỏng, không cần đầm rung (đầm máy), lại có phụ gia hoá dẻo,
thì độ sụt được ấn định ngay tại hiện trường, da theo các phương tiện dùng để vận
chuyển và đổ bêtông (cần trục, máy bôm bêng…), trong khoảng 160 - 240mm.
thể tăng độ sụt của hồ bêng bằng cách bổ sung nước và xi măng đồng thời.
Khi t lệ N/X không thay đổi thì cường độ bêtông cũng không thay đổi. Như vy, là có
th điều chỉnh thành phần của hồ bêtông để đạt được độ lưu động cần thiết cho việc thi
công bêtông mà vẫn được cường độ quy định.
2. Tính ổn định của hồ bêtông
H bêtông khi đổ vào khuôn đúc và đầm chặt, vẫn giữ nguyên tính đồng chất,
không phân rã; hoặc khi đổ hồ vào ống côn thử độ st, thấy việc nhồi xọc dễ dàng,
không thy ớc rò rỉ ở đáy ống côn; khi nhấc ống côn lên thy h bêtông lún xuống,
nhưng không rời rã, lở xập.
Các thành phn vật liệu của hồ bêtông gm: ximăng (X), cát (C), đá (Đ), được
tính theo trọng lượng khối (kg). lượng xi măng được lấy làm đơn vị so sánh. Lượng
nước (N) xét riêng biệt, lấy theo tỷ lệ N/X.
Chẳng hạn, cho biết thành phần (X, C, Đ) của hồ bêtông 1;2,5; 4,5 và t lệ
N/X= 0,6 thì nghĩa là các lưng vật liệu trong 1m3 bêtông như sau: gi sử lượng xi
măng là 280kg, vậy cần 170 lít nước, 700 kg cát và 1280 kg đá.
III. NHNG TÍNH CHẤT CỦA XI MĂNG
Xi măng chất kết dính có thể đông cứng ở trong không khí và cả ở trong
nước.
1. Xi măng poóc-lăng. Cường độ (hoạt tính) của xi măng này phân thành các mác P-
30, P-40, P-50, P-60, được sử dụng vào các công trình trên trên đất, ới mặt đất và
dưới nước, không dùng được ở i có nước xâm thực.
2. Xi măng poóclăng đông cứng nhanh. Cường độ của nó tăng khá nhanh trong mấy
ngày đầu (1 - 3 ny). Thường sau ba ngày, cường độ chịu nén đã trên 25MPa.
3. Xi măng poóclăng dẻo. Trong quá trình nghiền clinke có sdụng phụ gia hoá dẻo,
như chất bã rượu sunphit. Dùng loại ximăng này h bêtông có độ lưu động cao mà
không cần tăng thêm nước khi pha trộn.
4. Xi măng đông cứng cc nhanh. Cũng là loi xi măng poóclăng nhưng nó có thể đạt
cường độ cao ngay trong khi ninh kết ban đầu (dưới 1 giờ), nên được sử dụng vào việc
đóng nút bịt các l khoan dầu khí. Hồ xi măng này chtrộn với nước, không có cốt
liệu, với t lệ N/X = 0,4 - 0,5.
5. Xi măng poóclăng kỵ nước. Chế tạo bằng cách pha thêm chất phụ gia hoạt tính mặt
ngoài k c (như xà bông naptenic, axit oleic…) vào clinke khi nghiền. Các phụ gia
y to nên mt màng mỏng bên ngoài hạt xi măng, dường như mỗi hạt được bọc một
KYÕ THUAÄT THI COÂNG CHÖÔNG VI. COÂNG TAÙC BEÂTOÂNG
274
màng chống ẩm. Xi măng giữ được hoạt tính ban đầu trong suốt thời gian vn chuyển
và bảo quản trong không khí ẩm ướt, không vón hòn khi tiếp xúc với nước trong
thờigian ngắn. Màng bc ngoài hạt xi măng lại không gây trở ngại cho quá trình ninh
kết của xi măng khi trộn với nước.
Bêtông vữa xing - cát chế trộn với xi măng poóclăng k nước có độ lưu
động cao, có độ thấm nước nhỏ.
6. Xi măng poóclăng xỉ, là kết quả của quá trình nghiền kết hợp clinke poóclăng với xỉ
lò cao và thạch cao. Đặc điểm của loại xi măng này là tc độ đông cứng chậm và to
nhiệt ít hơn so với xi măng poóclăng thông thường.
7. Xi măng poóclăng puzơlan, được chế tạo bằng cách nghin clinke poóclăng với các
phgia hoạt tính như đá điatômít, đá bọt, trêpen, tuýp núi lửa. Đông cứng ở ngoài khí
trời cường độ của xi măng poóclăng pulan ng chậm hơn, toả nhiệt ít hơn so với xi
măng poóclăng thông thường; nhưng nếu nó đông cứng ở trong môi trường nước hoặc
ở nơi ẩm ướt thì cường độ lại cao hơn xi măng poóclăng thông thường. Quá trình đông
cứng chậm cũng do xi măng poóclăng pulan cần một lượng nước khá lớn.
8. Xi măng poóclăng puzơlan chống sunphát. Đặc điểm ca xi măng này là chống tác
dụng thường xuyên ca nước sunphát và các nước xâm thực khác. Khi đông cứng xi
măngy toả nhiệt ít hơn xi măng poóclăng thông thường, nên nó thích hợp vi các
công trình bêng khối lớn trên sông và trên biển.
IV. THỜI GIAN NINH KẾT CỦA XI MĂNG
Kiểm tra thời gian ninh kiết ca xi măng, phục vụ quá trình đúc bêtông, bằng
dụng cụ thí nghiệm Vica (hình 6.2). trước tiên chế trộn các mẫu bột xi măng nhào
nước với độ do tiêu chuẩn (lượng nước chiếm 23 - 26% lượng xi măng), rồi đổ vào
mt hộp khuôn tròn, cao 40mm, đường kính trung bình 70mm. Cho kim Vica tiếp xúc
với mặt bt nhào, sau đó mở ốc hãm để thanh chạy và kim Vica rơi tự do xuyên khi
bột nhào. Lúc đầu bột nhào còn mềm nên kim cắm xuyên qua lớp bột; cứ 5 phút sau
lại cho kim cắm vào lớp bột một lần, cho đến khi bột nhào bắt đu ninh kết. Từ đó, cứ
cách 15 phút mi cho kim cm xuống một lần, mỗi lần phải xê dịch khuôn tròn để kim
không rơi vào vết xuyên cũ là lau đầu kim.
Hình 6.2. Dụng cụ thí nghiệm Vica.
Thời điểm bắt đầu ninh kết (sơ sinh) của xi măng (t1) là khoảng thời gian tính
từ lúc trộn xi măng với nước cho đến khi kim rơi cắm xuyên cách đáy 1 - 2mm.
Thời điểm kết thúc ninh kết (chung ninh) của xi măng (t2) là khoảng thời gian
tính từ lúc trộn cho tới khi kimi mà chỉ cắm được vào xi măng không quá 1mm.
V. THỂ TÍCH XI MĂNG BIẾN ĐỔI KHÔNG ĐỒNG ĐỀU
Hoạt tính ca xi măng gim dần theo thời gian, nên xi măng đã cất chứa trên hai
tháng, khi sdụng phải kiểm tra chất lượng lại.
Người ta làm những mẫu thử nghiệm dạng cái bánh đúc từ bột xi măng nhào và
dưỡng hộ chúng trong không khí ẩm, thời gian một ny, sau đem đun sôi trong thùng
ngập nước khoảng 4 giờ.
Quan sát k các mu bánh đúc bng mắt thường hay bằng kính lúp xem có xuất
hiện (hình 6.3): nhng vết nứt nhỏ hướng từ tâm rap; tấm bánh đúc cong vênh;
tiếng gõ nghe đục, đó là nhng dấu hiu báo chất lượng xi măng không đồng đều.
Hình 6.3. Mu bánh đúc để xác định tính biến đổi thể tích ca xi măng
a) Mẫu có thể tích ổn định; b, c, d) Các mẫu có thể tích biến đổi không đồng đều.