Luận văn: Định hướng đầu tư vốn phát triển nông nghiệp huyện Đông Giang giai đoạn 2011- 2015

Chia sẻ: Nguyễn Tấn Khánh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:74

0
24
lượt xem
4
download

Luận văn: Định hướng đầu tư vốn phát triển nông nghiệp huyện Đông Giang giai đoạn 2011- 2015

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá tình hình thực hiện đầu tư vốn và hiệu quả của quá trình đầu tư vốn trong phát triển nông nghiệp của huyện Đông Giang trong giai đoạn 2006- 2010. Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư và huy động nguồn vốn váo phát triển nông nghiệp trong giai đoạn đến ( 2011- 2015).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Định hướng đầu tư vốn phát triển nông nghiệp huyện Đông Giang giai đoạn 2011- 2015

  1. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng MỤC LỤC .......................................................................................... .......................................................................................... .......................................................................................... Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 1
  2. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng MỞ ĐẦU  1. Lý do chọn đề tài:       Trong nền kinh tế quốc dân, nông nghiệp là một trong những ngành có vai   trò đặc biệt quan trọng. Nó là điểm khởi đầu, là nền tảng cho quá trình phát  triển kinh tế. Đồng thời nông nghiệp là ngành có liên quan trực tiếp đến việc   làm, thu nhập và đời sống của đại đa số  dân cư  nước ta...Xã hội ngày càng  phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì đòi hỏi về  nhu  cầu lương thực, thực phẩm ngày càng đa dạng phong phú cả  về  lượng và  chất cũng như  về  chủng loại (do sự  gia tăng dân số, do sự  tăng lên của nhu   cầu bản thân từng con người). Do vậy, chỉ có một nền nông nghiệp phát triển   cao mới có hy vọng đáp ứng được. Ngoài ra nạn đói, nạn ô nhiễm môi trường   sinh thái... đang là những vấn đề  liên quan trực tiếp đến nông nghiệp nông   thôn... và trên thực tế  cũng chứng minh rằng, nước nào có nền nông nghiệp  phát triển bền vững chắc đều là nước có nền kinh tế  phát triển  ổn định. Sự  phát triển nông nghiệp nông thôn sẽ  tạo ra một thị trường rộng lớn cho công  nghiệp và các ngành kinh tế  khác. Nông nghiệp nông thôn không chỉ  là nơi  cung cấp lao động, nguyên liệu và dược liệu cho công nghiệp mà còn là nơi  tiêu thụ  lớn các sản phẩm của công nghiệp. Chính vì thế, phát triển kinh tế  nông nghiệp là một bộ  phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế  của mỗi quốc gia. Nó càng quan trọng khi nước ta có hơn 80% dân số  sống  trong khu vực nông thôn và chủ yếu sinh sống bằng nghề nông.Tuy nhiên, để  ngành nông nghiệp ngày càng phát triển thì cần phải có sự đầu tư thoả đáng.  Vì đầu tư là yếu tố quyết định sự phát triển, là chìa khoá sự  tăng trưởng của   từng ngành, từng quốc gia. Hiện nay, vốn đầu tư  được tất cả  các quốc gia  trên Thế  giới quan tâm, vấn đề  này cũng rất bức xúc đối với quá trình tăng  Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 2
  3. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng trưởng và phát triển  ở nước ta. Do đó,việc đầu tư  sử  dụng vốn như  thế  nào   cho hợp lý là rất quan trọng.       Đông Giang là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam , sản xuất nông   nghiệp có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế của huyện. Cùng với sự biến  đổi của nền kinh tế  cả  nước, của toàn tỉnh trong những năm đổi mới, sản  xuất nông nghiệp của huyện đã có bước phát triển nhiều hơn so với những  năm trước đây, đạt được những kết quả đáng khích lệ: Sản xuất lương thực   tăng , chăn nuôi dần được phát triển...đã từng bước đảm bảo nhu cầu lương  thực, thực phẩm cho nhân dân trên địa bàn huyện. Tuy vậy, sản xuất nông  nghiệp hiện nay vẫn còn bộc lộ những mặt hạn chế như: trồng trọt vẫn trong   tình trạng độc canh cây lúa, chăn nuôi vẫn chưa có hướng đi đúng để  trở  thành một ngành sản xuất chính và các hoạt động dịch vụ  nông nghiệp vẫn  còn nặng về sản xuất, kinh doanh chưa thực sự thúc đẩy sản xuất phát triển.  Hiểu rõ được điều này, trong thời gian qua, Nhà nước,tỉnh và huyện đã đầu tư  khá thoả đáng nhằm đưa nền kinh tế huyện phát triển mạnh hơn nữa trong đó  lĩnh vực nông nghiệp cũng được quan tâm đầu tư thoả đáng... nhưng cũng chỉ  đạt được phần nào mục tiêu đề  ra. Do đó, để  nông nghiệp ngày càng phát   triển và góp phần quan trọng trong nền kinh tế của huyện trong th ời gian t ới,   huyện   cần quan tâm đầu tư  hơn nữa đến lĩnh vực này. Đồng thời phải có  những biện pháp nhằm huy động các nguồn vốn khác tăng cường nguồn vốn   đầu tư cho nông nghiệp huyện Đông Giang. Trong thời gian thực tập tại Phòng Nông nghiệp – Phát triển nông thôn huyện  Đông Giang, qua quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn, em chọn đề  tài   “Định hướng đầu tư vốn phát triển nông nghiệp huyện Đông Giang giai đoạn  2011­ 2015. 2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài:  Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 3
  4. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng        ­ Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá tình hình thực hiện đầu tư  vốn và hiệu   quả  của quá trình đầu tư  vốn trong phát triển nông nghiệp của huyện Đông  Giang trong giai đoạn 2006­ 2010. ­ Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động  đầu tư  và huy động nguồn vốn váo phát triển nông nghiệp trong giai đoạn  đến ( 2011­ 2015) ­ Phạm vi nghiên cứu đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm vi của ngành  nông nghiệp huyện Đông Giang giai đoạn 2006­ 2010. 3. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài này chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân  tích kinh tế, phương pháp thống kê kinh tế, phương pháp so sánh, phương  pháp tổng hợp , dự báo. Nội dung đề tài gồm có ba chương như sau: CHƯƠNG I.  Những vấn đề lý luận chung CHƯƠNG II. Thực trang đâu t ̣ ̀ ư vốn phat triên nông nghiêp huyên Đông  ́ ̉ ̣ ̣ Giang (2005 ­2010) CHƯƠNG III. Đinh h ̣ ương va giai phap nhăm nâng cao hiêu qua s ́ ̀ ̉ ́ ̀ ̣ ̉ ử dung  ̣ nguôn vôn đâu t ̀ ́ ̀ ư vao nông nghiêp ̀ ̣ Trong thời gian thực hiện đề tài em xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị  phòng NN ­ PTNT và thầy Th.s VÕ VĂN GIẢNG đã tận tình hướng dẫn và  giúp đỡ em trong quá trình thực tập cũng như hoàn thành bài chuyên đề này  .Vì thời gian và kiến thức còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi sai xót ,em  mong được sự góp ý của quý thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn. Đà Nẵng, ngày      tháng     năm SVTH : Ating Thị Biêu Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 4
  5. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng NỘI DUNG  Chương 1. Những vấn đề lý luận chung I. Các lý thuyết cơ bản: 1.1.Các khái niệm * Khái niệm chung về đầu tư   + Xét trên góc độ  tiêu dùng: đầu tư  là hình thức hạn chế  tiêu dùng hiện tại   để thu được mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai  + Xét trên góc độ tài chính: đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ  đầu tư nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời. * Khái niệm đầu tư  phát triển : Trong đầu tư  người ta lại chia thành các  loại đầu tư cụ thể như sau:     + Đầu tư thương mại     +Đầu tư tài chính     +Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ  vốn ra để  tiến  hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế làm tăng tiềm   lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động của xã hội khác, là điều kiện   chủ yếu để tạo việc làm và nâng cao đời sống của người dân trong xã hội. * Khái niệm vốn đầu tư : Trong đầu tư người ta cũng hay đề cập đến một  thuật ngữ là vốn đầu tư, đây chính là yếu tố  quyết định tính chất quy mô   của dự án.     + Dưới hình thái tiền tệ: vốn đầu tư  là khoản tích luỹ  của xã hội, của   các cơ  sở  sản xuất kinh doanh, dịch vụ; là tiền tiết kiệm cuả  dân và huy  động của dân  từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái  Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 5
  6. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng sản xuất xã hội nhằm duy trì các tiềm lực sẵn có vào tạo ra những tiềm  lực mới cho nề kinh tế.    +Dưới hình thái vật chất: vốn đầu tư  bao gồm các loại máy móc, thiết  bị, nhà xưởng, các công triình cơ sở hạ tầng, các loại nguyên liêu, vật liệu,  các sản phẩm trung gian khác.... Vốn đầu tư  là yếu tố  không thể  thiếu được của các công cuộc đầu tư.   Trong nền kinh tế phát triển, vai trò của vôns đầu tư là rất quan trọng, nó  góp phần tạo sự phát triển mạnh cho nền kinh tế. Khái niệm hoạt động đầu tư: là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi  năng lực sản xuất và tạo ra năng lực sản xuất mới, đó là quá trình  chuyển hoá vốn thành các tài sản phục vụ cho quá trình sản xuất. 1..2 Phân loại vốn đầu tư :        Hoạt động đầu tư có thể được chia thành nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc   vào mục đích của người nghiên cứu và các nhà quản lý đầu tư. Sau đây là một  số cách phân loại chính: ­ Theo đối tượng đầu tư: + Đầu tư  vật chất( đầu tư  tài sản vật chất hoặc tài sản thực như  nhà   xưởng, máy móc thiết bị...) + Đầu tư tài chính ­ Theo cơ cấu sản xuât: + đầu tư chiều rộng: nhằm mở rộng sản xuất đòi hỏi vốn lớn, có tính chất   kỹ thuật phức tạp trong thời gian dài. + Đầu tư  chiều sâu: nhằm nâng cao trình độ  khoa học công nghệ, khối   lượng vốn không lớn và tính chất kỹ  thuật không phức tạp, và thời gian   không dài... ­ Theo phân cấp quản lý: + Dự án Nhóm A do thủ tướng quản lý Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 6
  7. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng + Dự án nhóm B,C do Bộ hoặc UBND các tỉnh, thành phố quản lý. ­ Thao nguồn vốn huy động :   + Vốn huy động trong nước + Vốn huy động nước ngoài ­ Theo thời gian: + Đầu tư ngắn hạn + Đầu tư trung hạn + Đầu tư dài hạn ­ Theo vùng lãnh thổ: phản ánh tình hình đầu tư của từng vùng kinh tế,   từng tỉnh. Ngoài các hình thức phân loại trên, còn có các hình thức phân loại khác mà  không được nêu trong bài này. Do vậy, tuỳ theo mục đích mà người ta có  thể lựa chọn sử từng cách phân loại cho phù hợp. 1..3 Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế: Từ  trước tới nay khi nói về  đầu tư  , không một nhà kinh tế  học nào và  không một lý thuyết nào lại không nói đến vai trò to lớn của đầu tư  đối  với nền kinh tế. Có thể nói rằng đầu tư là vấn đề cốt lõi, là động lực cho  sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. 1.3.1 Tác động tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế: Đầu tư tác động mạnh tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, mức độ  tác động cũng như thời gian ảnh hưởng là khác nhau. Đối với tổng cầu: Đầu tư là một yếu tố cực kỳ quan trọng cấu thành tổng  cầu. Bởi vì, đầu tư  một mặt tạo ra sản phẩm mới cho nền kinh tế, mặt   khác nó lại tiêu thụ  và sử  dụng một khối lượng lớn hàng hoá và dịch vụ  trong quá trình thực hiện đầu tư. Do vậy, xét trong thời gian ngắn hạn,  đầu tư tác động trực tiếp tới tổng cầu theo một tỷ lệ thận ngiã là: mỗi sự  Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 7
  8. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng thay đổi của đầu tư đầu ảnh hưởng tới sự ổn định của tổng cầu nền kinh   tế. Đối với tỏng cung: ta biết rằng, để  tiến hành một công cuộc đầu tư  đòi  hỏi   một nguồn lực, một khối lượng vốn lớn, thành quả( hay các sản  phẩm,dịch vụ mới của nền kinh tế) của các công cuộc đầu tư đòi hỏi một  thời gian khá dài mới có thể phát huy tác dụng. Do vậy, khi các thành quả  này phat huy tác dụng làm cho sản lượng của nền kinh tế  tăng lên. Như  vậy, đầu tư có tính chất lâu dài và nó sẽ làm cho đường tổng cung dài hạn  của nền kinh tế tăng lên. Qua sự  phân tích trên ta thấy rằng, đầu tư   ảnh hưởng mạnh tới cả  tỏng   cung và tổng cầu. Bởi vì, xét về  mặt cầu thì đầu tư  tiêu thụ  một khối   lượng lớn hàng hoá và dịch vụ  cho nền kinh tế nhưng đứng về  mặt cung  thì nó làm cho sản xuất gia tăng, giá cả giảm, tạo công ăn việc làm và làm  tăng thu nhập từ  đó kích thích tiêu dùng. Mà sản xuất phát triển chính là  nguồn gốc cho sự phát triển kinh tế  xã hội, là điều kiện để  cải thiện đời  sống con người. Như  vậy, đầu tư  là nhân tố  cho sự  tăng trưởng và phát  triển một nền kinh tế. 1.3.2 Ảnh hưởng hai mặt tới sự ổn định nền kinh tế : Khi nghiên cứu về  đầu tư  ai cũng hiểu rằng đầu tư  luôn có một độ  trễ  nhất định, tức là đầu tư  hôm nay, thành quả  mai sau. Ngopài ra do đầu tư  có  ảnh hưởng tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế  không ăn khớp  về  thời gian do vậy nó có thể  phá vỡ  sụa  ổn định của một nền kinh tế.  Nếu đầu tư  tốt nó có thể  giúp cho nền kinh tế  tăng trưởng và phát triển.   Ví dụ  như  các nước NICs, do có đầu tư  hiệu quả  nên từ  nghững nứớc   nghèo đã trở  thành các nước công nghiệp với nền công nghiệp phát triển   hiện đại. Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 8
  9. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng Giả sử ta tăng cầu trong nước, khi đó làm cho nhu cầu tiêu dùng hàng hóa,   dịch vụ trong nước liên quan đén công cuộc đầu tư như máy móc, thiết bị,   sức lao động, nguyên vật liệu....tăng theo. Điều đó làm tổng cầu nền kinh tế  của các loại hàng hoá này tăng lên, theo quy luật cung cầu của nền kinh tế  dẫn đến giá cả của những mặt hàng này cũng tăng lên một cách mạnh mẽ,  đến một mức nào đó sẽ dẫn tới lạm phát, với tỷ lệ có thể rất cao. Khi lạm  phát tăng lên, giá cả  tăng vọt dẫn đến các chi phí đầu vào tăng kéo theo là  sản xuất trì trệ, doanh nghiệp phá sản , người lao động thất nghiệp,  ảnh   hưởng lớn đến nền kinh tế  và đời sống của các tầng lớp dân cư. Tất cả  những điều đó làm cho nền kinh tế  lâm vào khủng hoảng trì trệ  và làm   giảm tốc độ phát triển của đất nước. Tuy nhiên , nếu các quốc gia có chính  sách điều tiết đầu tư đúng đắn và phù hợp thì đó không những là khắc phục   được những ảnh hưởng tiêu cực mà còn là động lực cho sự tăng trưởng và  phát triển nền kinh tế. Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 9
  10. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng 1.3.3 Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế: Như đã trình bày ở phần trên  sự tác động của đầu tư tới tổng cung và tổng  cầu, sự tác động của đầu tư đối với sự ổn định nền kinh tế, ró răng đầu tư  có tác động rất lớn đến sự  tăng trưởng  cảu nền kinh tế. Để  xem xét cụ  thể ta có thể sử dụng hàm Harrod­ Domar để minh hoạ mối quan hệ giữa   tốc độ tăng trưởng và vốn đầu tư:                                         i                              k =­­­­­­­­­­                                         g Trong đó:  + k là hệ số ICOR                   + i là vốn đầu tư                   + g là mức tăng GDP                                    i Tù đó suy ra:    g =­­­­­­­­­­­                               k Như  vậy, nếu hệ  số  ICOR không đổi thì tốc độ  tăng trưởng GDP hoàn  toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư hay nói cách khác đầu tư quyết định tới sự  tăng trưởng của nền kinh tế.  Đối với mỗi quốc gia khác nhau thì hệ  số  ICỎ  cũng khác nhau, nó tuỳ  thuộc vào trình độ  phát triển kinh tế  xã hội và cơ  chế  chính sách của nhà   nước. Đối với các nước đang phát triển có chỉ số ICOR thấp còn các nước   phát triển thì ngược lại. Đồng thời chỉ số ICOR của nhiều ngành kinh tế là  khác nhau, trong đó ICOR của ngành nông nghiệp thường là rất thấp, tốc  độ tăng trưởng của ngành nông nhiệp cũng không cao. Ngoài ra đầu tư  còn làm tăng năg suất lao động , chất lượng sản phẩm,   năng lực sản xuất do vậy thay đổi tốc độ  phát triển kinh tế. Vì vậy, đối  với mỗi quốc gia cần có một chính sách thích hợp để huy động vốn và đầu   Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 10
  11. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng tư  có hiệu quả  nhằm nâng cao tốc độ  tăng trưởng và phát triển kinh tế  nước mình.       1.3.4 Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế:        Một quốc gia được coi là phát triển khi cơ cấu kinh tế đi theo hướng   công nghiệp­ dịc vụ­ nông nghiệp trong đó công nghiệp và dịch vụ  chiếm  một tỷ  lệ  cao trong GDP của nước đó . Bởi vì nông nghiệp do có nhiều  hạn chế  về  điều kiện tự  nhiên và khả  năng sinh học của cây trồng vật   nuôi nên chỉ  có tốc độ  tăng trưởng tối đa tù 5­ 6%. Do vậy , khi công   nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ cao, nó có khả năng đưa tốc độ tăng trưởng   kinh tế của nước đó lên cao độ 9­ 10% / năm. Muốn vậy chúng ta phải có  chính sách đầu tư  thoả  đáng. Mỗi quốc gia cần tăng cường tỷ  lệ  đầu tư  cho công nghiệp và dịc vụ  và có nhiều chính sách phát huy hiệu quả  đầu  tư, có vậy thì mới có thể phát triển được ngành công nghiệp và dịch vụ. Mặt khác, trong nông nghiệp ta cũng nên chú trọng đầu tư nhiều hơn cho  chăn nuôi bởi vì chăn nuôi thường có tỷ lệ tăng trưởng mạnh hơn trông  trọt. Còn với cơ cấu vùng lãnh thổ quốc gia phát triển thường có cơ cấu kinh tế  lãnh thổ  cân đối và đồng đều giữa các vùng trong cả  nước. Do vậy, bên   cạnh việc đầu tư  trọng điểm để  phát triển thành thị  và vùng đông bằng,   chúng ta cần có chính sách đầu tư  và phát triển kinh tế  của vùng núi và  vung nông thôn khó khăn để  vùa phát triển kinh tế  xã hội vừa tạo sự  cân  băng ổn định trong nước. 1.3.5 Đầu tư góp phần nâng cao trình độ khoa học công nghệ: Như chúng ta đã biết, khoa học công nghệ là trung tâm của đời sống kinh   tế  xã hội hiện đại, một quốc gia chỉ  phát triển được khi có một nề  khoa  học công nghệ  tiên tiến và hiện đại.  Ở  các nước phát triển, họ  có mức  Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 11
  12. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng đầu tư lớn , có quá trình phát triển lâu dài nên trình độ khoa học công nghệ  cuat họ hơn hẳn các nước khác trên thế giới. Khi hị áp dụng các thành tựu  này làm cho nền kinh tế có mức độ  tăng trưởng mạnh mẽ, đời sông scủa  người dân ở mức cao. Còn đối với các nước đang phát triển, do công nghệ  nghèo nàn lạc hậu lại không cá điều kiện để  nghiên cứu phát triển khoa   học kỹ thuật nên kinh tế phát triển rất thấp, sản xuất kém phat triển và bị  phụ  thuộc vào các nước công nghiệp. Muốn thoát khỏi tình trạng này thì  các   nước phải tăng cường đầu tư  mạnh và tìm cách thu hút đầu tư  bên  ngoài vào trong nước. Đầu tư   ở  đây được hiểu theo nghĩa là thu hút công  nghệ  hiện đại của nước ngoài phù hợp, đồng thời tổ  chức nghiên cứu để  phát minh ra các công nghệ mới hiện đại hơn. Quá trình công nghiệp hoá­   hiện đại hoá của các nước này có tành công hay không phụ thuộc rất nhiều  vào việc đầu tư  phát triển khoa học công nghệ. Có thể  khẳng định rằng,   đầu tư khoa học công nghệ là một chính sách cực kỳ quan trọng trong quá  trình phát triển kinh tế xã hội. Ngoài một số những vai trò chính yếu trên, đầu tư còn góp phần tăng ngân  sách của chính phủ, góp phần đảm bảo  ổn định đất nước, mở  rộng  ảnh  hưởng của quốc gia,... Từ  những phân tích trên , chúng ta có thể  khẳng định rằng đầu tư  là chìa  khoá cho sự phát triển của mỗi quốc gia và cho toàn thế giới. 1.4 Quản lý đầu tư:  Đây là hoạt động có ảnh hưởng rrất mạnh tới kết quả và hiệu quả  đầu tư  của một đất nước nói chung , của một ngành kinh tế nói riêng. 1.4.1 Khái niệm: Quản lý đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng quá trình  đầu tư ( bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành  kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tư tạo ra) bằng một hệ  Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 12
  13. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng thống đồng bộ  các biện pháp kinh tế xã hội và tổ  chức kỹ  thuật cùng các  biện pháp khác nhằm đạt được kết quả  kinh tế  xã hội cao trong những   điều kiện cụ thể và trên cơ sở vậ dụng sáng tạo những quy luật kinh tế. 1.4.2 Mục tiêu của quản lý đầu tư: được xem xét dưới hai góc độ  của nền  kinh tế: ­ Vĩ mô:  + Đáp ứng tốt nhất việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển   ngành trong từng thời kỳ nhất định + Huy động tối  đa và sử dụng hiệu quả nhất ca nguồn lực trong và ngoài   nước. + Đảm bảo quá trình thực hiện đầu tư  xây dựng các công trình đúng quy   hoạch kiến trúc đã định. ­ Vi mô: Đó là đạt được hiệu quả  kinh tế  xã hội cao nhất với chi phí bỏ  ra thấp   nhất trong một giai đoạn nhất định. Mục tiêu này được cụ  thể  trong từng  giai đoạn của quá trình đầu tư. Mục tiêu này ở các cơ sở nếu thực hiện tốt   sẽ làm cho các công cuộc đầu tư đạt kết quả cao và thúc đẩy cỏ sở đi lên. 1.4.3 Các nguyên tắc ­ Thống nhất : Thống nhất giữa các lãnh đạo chính trị, kinh tế, kết hợp hài  hoà giữa mặt kinh tế và xã hội. Nguyên tắc này đòi hỏi  ngành kinh tế vừa   phải  phát   triển  nhưng  mặt khác  phải tuân  theo  định  hướng   chung của   Đảng và nhà nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu   nhập . ­ Tập trung dân chủ: đòi hỏi mỗi ngành kinh tế    phải được đặt dưới sự  lãnh đạo thống nhất của nhà nước nhưng những định hướng , chiến lược  chúng ta phải nhận được sự đóng góp của câp dưới. Bên cạnh hướng phát  Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 13
  14. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng triển chung thì mỗi ngành kinh tế   ở  mỗi địa phương có thể  tuỳ  theo đặc  điểm riêng của mình mà có những chính sách phát triển phù hợp. ­ Quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa phương và theo lãnh  thổ: Đòi hỏi tại mỗi địa phương , từng ngành phải phát triển trong tổng   thể chung của địa phương đó, đảm bảo sự  phát triển toàn diện các ngành   kinh tế. ­ Kết hợp hài hoà giữa các lợi ích: nó đòi hỏi mỗi công cuộc đầu tư khong   đáp ứng đơn thuần là lợi ích kinh tế mà còn phải đáp ứng cả lợi ích xã hội,  lợi ích cộng đồng. ­ Tiết kiệm và hiệu quả: đòi hỏi một ngành với vốn đầu tư nhất định, chi  phí thấp mà thu được hiệu quả cao nhất. ­ Phải đảm bảo thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng: Quản lý hoạt   động đầu tư có vai trò quan trọng đối với sự thành công của các công cuộc   đầu tư ở mỗi ngành, mỗi địa phương và trong cả nước. 1.5 Kế hoạch hoá đầu tư:      Đây vừa là nội dung vừa là công cụ để quản lý hoạt  động đầu tư. Công  tác      kế hoạch hoá đầu tư có tính chất hướng dẫn, định hướng cho việc  thực hiện đầu  tư sau đó. 1.5.1 Các nguyên tắc: + Kế  hoạch hoá đầu tư  của ngành phải xuất phát từ  yêu cầu chung của   đường lối phát triển ngành đó, của cả  nền kinh tế  và nhu cầu của thị  trường trong cũng như ngoài nước. + Phải đảm bảo quy luật khách quan , khoa học và tính hiện thực của các  phương án. + Kết hợp tốt về các mặt trong nền kinh tế đó: tạo điều kiện khai thác hết   tiềm năng của ngành, để nó phát triển toàn diện hơn. Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 14
  15. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng + Kế  hoạch hoá  ở  cấp cao sẽ  mang tính  định hướng,  kế  hoạch  ở   địa  phương sẽ  cụ thể hoá, thực hiện đường lối đó. Điều này sẽ  bảo đảm kế  hoạch được thực hiện thống nhất từ trên xuống và không bị chồng chéo. + Phải có độ tin cậy cao và tối ưu. 1.5.2  Trình tự lập kế hoạch đầu tư: Kế hoạch đầu tư ở đây được lập chủ yếu cho ngân sách nhà nước đầu tư  vào ngành kinh tế, theo trình tự sau: ­ Xác định nhu cầu về  chủng loại và khối lượng sản phẩm, dịch vụ  cho   sản xuất và tiêu dùng của kỳ kế hoạch mà ngành kinh tế phải đảm nhiệm. ­ xác định khả năng đáp ứng nhu cầu ngành đối với các điều kiện hiện có  ở đầu kỳ kế hoạch để xem khả năng của ngành đó ra sao. ­ Xác định các năng lực và dịch vụ mới cần tăng thêm trong kỳ. ­ tiến hành lập kế  hoạch đầu tư  để  đáp ứng năng lực mới tăng thêm cho   kỳ kế hoạch thông qua các dự án đầu tư . Việc lập kế hoạch đầu tư  theo   dự án lại được tiến hành theo các bước sau đây: + Kế hoạch cho điều tra , khảo sát + Kế hoạch chuẩn bị đầu tư + Kế hoạch chuẩn bị thực hiện dự án đầu tư + Kế hoạch thực hiện dự án  1.5.3 Các điều kiện được ghi dự án vào kế hoạch đầu tư: + Phải nằm trong quy hoạch ngành + Phải có quyết định đầu tư + phải có thiết kế  kỹ  thuật và tổng dự  toán hay thiết kế  kỹ  thuật và dự  toán cho các giai đoạn đầu tư đối với các công trình lớn. II. Đầu tư vốn­ nhân tố quyết định đối với sự phát triển nông nghiệp: 2.1.Giới thiệu về nông nghiệp: Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 15
  16. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng 2.1.1 Khái niệm: Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm nông­ lâm­ ngư  nghiệp,  phát triển nông nghiệp cũng có nghĩa là phát triển nông­ lâm­ ngư  nghiệp.  Ngoài ra phát triển nông nghiệp còn gắ  liền với phát triển nông thôn và  nâng cao điều kiện sinh hoạt của nông dân. Nông nghiệp được hiểu theo  nghĩa hẹp chỉ bao gồm trồng trọt và chăn nuôi. Việt Nam chúng ta là một quốc gia có một nền nông nghiệp lâu đời với  truyền thống hàng nghìn năm trồng lúa nước. Có thể nói nước ta có nhiều   điều kiện về  tự nhiên và con người rất thuận lợi chp việc phat triển một   nên nông nghiệp vững mạnh. Tuy rằng, nông nghiệp chiếm một vị trí ngày  càng thấp kém trong nền kinh tế  nhưng trong giai  đoạn này nó vẫn là  ngành kinh tế  quan trọng , góp phần chuyển dịch cơ  cấu kinh tế, xuất  khẩu và thu ngoại tệ cho đất nước, cải thiện đời sống nhân dân. Phát triển   nông nghiệp là yêu cầu cấp thiết của đất nước trong quá trình công nghiệp  hoá­ hiện đại hoá đất nước .  2.1.2 Đặc điểm nông nghiệp nói chung:        Từ việc nghiên cứu tình hình thực tế và những kinh nghiệp của người đi  trước, người ta thấy rằng ngành nông nghiệp có một vài đặc điểm sau: a) Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu: Đây là một đặc điểm cực kỳ  quan trọng và khác biệt của nông nghiệp .  Trong nông nghiệp, đặc biệt trong trồng trọt thì đất là một yếu tố  sản  xuất không thể thiếu được, đất vừa là nơi sản xuất mà cũng chính là yếu  tố  quyết định cho sự  sinh tồn của cây trồng. Như  vậy, đất là không thể  thiếu trong sản xuất nông nghiệp. Cùng với các yếu tố khác như sự  chăm   sóc của con người , tưới tiêu và điều kiện thời tiết, chất lượng đất đai có   ảnh hưởng mạnh tới năng suất, chất lượng của sản phẩm nông nghiệp và  thành quả  lao động cảu người nông dân . Vì thê, muốn nông nghiệp đạt  Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 16
  17. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng kết quả cao thì phải có những biện pháp tác động vào đất đai. Tuy nhiên,  đất là do tự  nhiên tạo ra cho nên ta không thể  thay đổi hoàn toàn những  điều kiện của đất. Do đặc điểm này mà mức độ  tác động của con người   trong sản xuất nông nghiệp là rất hạn chế, mức độ  áp dụng tiến bộ  khoa  học cũng không thật nhiều nên nông nghiệp là ngành có tốc độ tăng trưởng   không cao và nhanh như các ngành kinh tế khác . Tuy vậy, đối với một số  lĩnh vực chăn nuôi, đất đai cũng chỉ là mặt bằng để tiến hành sản xuất như  các ngành kinh tế khác và nó không chịu nhiều ảnh hưởng của đất. b) Đối tượng sản xuất là những cơ thể sống:    Một đặc điểm khác nữa của nông nghiệp so với các ngành kinh tế  khác  là đối với các ngành này thì đối tượng sản xuất là những sản phẩm hàng  hoá còn đối với ngành nông nghiệp là những cơ thể sống, đó là những cây  trồng vật nuôi có sẵn trong tự nhiên được con người đem về thuần dưỡng.  Nhũng đối tượng này thường có những quy luật tăng trưởng và phát triển  nhất định, mặc dù đã được con người thay đổi ít nhiều, chúng cũng chịu   ảnh hưởng rất mạnh mẽ  của các điều kiện tự  nhiên và cũng không thể  tăng trưởng quá mức cho phép của quy luật tự nhiên . Vì những đặc trưng   trên mà ngành nông nhiệp có tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với các ngành  kinh tế  khác. Tuy nhiên, tốc độ  tăng trưởng nông ngfhiệp có thể  đạt cao  hơn nếu con người tác động vào các cơ  thể sống này thông qua việc phát  triển công nghệ  sinh học để  tạo ra những giống cây trồng mới với năng  suất và chất lượng sản phẩm cao hơn, Chúng ta cũng cần tìm hiểu các quy  luật phát triển của các đối tượng sống này để  tìm ra các biện pháp chăm  sóc kịp thời và có các loại phân bón tốt nhất vào các thời điểm cụ thể. c) Nông nghiệp là ngành sản xuất chịu  ảnh hưởng mạnh của của các   điều kiện tự nhiên: Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 17
  18. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng Do   vậy,   mỗi   sự   thay   đổi   nhỏ   của   tự   nhiên   đều   ảnh   hưởng   tới   nông  nghiệp; đối với các ngành kinh tế khác, thì mức độ phụ thuộc này là không  quá lớn , ví dụ  như  công nghiệp thì dù trời có đổ  mưa hay có gió lớn thì  người ta vẫn có thể  tiến hành sản xuất bình thường và sự  thay đổi trong   kế hoach sản xuất là không đáng kể. nhưng đối với ngành nông nghiệp thì  khác, mọi sự  thay đổi đều có  ảnh hưởng , như  đất tốt hay xấu đều  ảnh   hưởng tới năng xuất chất lượng sản phẩm . Nếu thời tiết tốt phù hợp với  yêu cầu , chúng ta đạt được một vụ mùa bội thu còn nếu thời tiết xấu thì   ngược lại. Vì vậy, trong nông nghiệp chúng ta cần hạn chế cácẩnh hưởng   của điều kiện tự  nhiên hoặc phải có nhũng biện pháp khai thác tự  nhiên  tốt nhất thì chúng ta mới thu được các kết quả  cao và giúp cho sản xuất   nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định.  d) Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao: Bởi lẽ  đối với những loại cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp , chúng  không thể phát triển quanh năm suốt tháng mà chúng cần có một thời gian  phù hợp nhất định trong năm để sinh trưởng và phát triển tốt. Mặt khác, do   trong nông nghiệp thời gian lao động không hoàn toàn ăn khớp với thời  gian sản xuất . Những đặc điểm này làm cho sản xuất nông nghiệp có tính  thời vụ. Để khắc phục được tình trạng này thì chúng ta cần phải xây dựng  một hệ  thống cơ  sở  hạ  tầng thuận tiện, hiện đại và phù hợp để  có thể  phục vụ tốt nhất cho công cuốcản xuất. e) Nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng thấp : Đây là một thiệ thòi cho ngành nông nghiệp so với các ngành công nghiệp  và dịch vụ. Người ta thấy rằng dù nông nghiệp có điều kiện sản xuất   thuận lợi đến mấy đi nữa thì nông nghiệp cũng chỉ đạt tốc độ tăng trưởng   5­ 6%/ năm trong khi ngành công nghiệp đạt 10% trở  lên là bình thường.   Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 18
  19. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng Kết quả thấp kém của sản xuất nông nghiệp chính là hệ  quả tất yếu của   những đặc điểm trên của ngành nông nghiệp. Dựa trên việc nghiên cứu các đặc điểm của ngành nông nghiệp chúng ta sẽ  có những ý tưởng, những sáng kiến trong việc lập kế hoạch sản xuất, tiến   hành đầu tư và có những biện pháp cần thiết cho phát triển sản xuất nông  nghiệp. 2.1.3 Đặc điểm nông nghiệp Việt Nam: Mặc dù đang trong giai đoạn công nghiệp hoá­ hiện đại hoá đất nước  nhưng Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với trình độ  phát triển  ngành nông nghiệp vẫn  ở mức rất thấp. Vì thế  , nghiên cứư  rõ đặc điểm   của nền nông nghiệp nước ta sẽ  guíp cho chúng ta có những chính sách  đầu tư  phát triển phù hợp nhằm thúc đẩy nền nông nghiệp nước ta từng   bước đi lên, theo kịp tiến trình phát triển chung của đất nước. Có thể  nói   nền nông nghiệp nước ta ngoài những đặc điểm chung như đã được phân  tích trên đây thì còn có những điểm riêng sau: Nền nông nghiệp Việt Nam vẫn mang tính truyền thống sâu sắc, chưa có  những thay đổi lớn so với những năm trước đây. Trong suốt thời kỳ  vừa   qua, nông nghiệp được Đảng và nhà nước quan tâm cà đầu tư thoả đáng đã   có những bước mạnh cả về năng suất , chất lượng . Nhưng nhìn chung thì   sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính cá thể  và đơn lẻ  , mức độ  áp dụng   khoa học kỹ thuật công nghệ vào nông nghiệp còn ít, đồng thời mức độ cơ  gới hoá trong nông nghiệp là không cao. Thậm chí  ở  nhiều vùng quê, sản   xuất nông nghiệp vẫn  ở  trong tình trạng “ con trâu đi trước, cái cày theo  sau” . Còn về  vấn đề  cây trồng thì trong trồng trọt vẫn  ở  dạng độc canh   cây lúa , trong khi nhiều nơi thích hợp cho phát triển nhiều loại cây khác   lại chưa có chính sách khuyến khích thoả  đáng .Ngoài ra , chăn nuôi là   ngành  Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 19
  20. Giáo viên hướng dẫn :   Võ Văn Giảng Giúp cho nông nghiệp có tốc độ  tăng trưởng thì chúng ta vẫn chưa có  những chính sách đầu tư phát triển thích hợp cho nên tỷ lệ chăn nuôi trong  toàn ngành nông nghiệp vẫn còn thấp . Trong khi đó hệ  thống cơ  sở  hạ  tầng phụ  vụ  cho sản xuất nông nghiệp  ở  một số  vùng nếu có thì đã quá  lạc hậu hoặc thiếu đồng bộ còn lại là thiếu nhiều.. Tất cả những điều này   ảnh hưởng rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp. Đất nước ta được chia ra làm 3 miền với khí hậu và địa hình phức tạp và   khác biệt, đồi níu chiém nhiều diện tích do vậy mà sản xuất nông nghiệp   chỉ ở trong khoảng không gian nhỏ và khó cho việc áp dụng máy móc. Các   vùng đồng bằng có điều kiện phát triển nông nghiệp cũng không giống   nhau, như đồng bằng sông Cửu Long có độ phù sa lớn, có thể canh tác 3­ 4  vụ  trong năm lại phải chịu lũ hàng năm, đồng bằng sông Hồng chỉ  có thể  sản xuất hai vụ   do có muà đông giá rét . Khí hậu thời tiết khá phức tạp,   trong khi miền bắc có mùa đông rét và lạnh thích hợp cho việc sản xuất  một số  nông sản mùa đông thì  ở  miền nam gần miền xchs đạo nên thời  tiết nóng quanh năm nên chỉ cho phép phát triển những cây mùa hề. Chính  sự  phức tạp, đa dạng này đã tạo cho nền sản xuất nông nghiệp nước ta  không thống nhất và đồng bộ  giữa các miền và khó cho việc áp dụng  những giống cây trồng , vật nuôi đại trà trong cả  nước. Nhưng lại tạo ra   cho   nước   ta   thuận   lợi   trong   việc   phát   triển   đa   dạng   sản   phẩm   nông  nghiệp. Nông nghiệp nước ta hiện nay được phát triển trong điều kiện đất nước  đang trong quá trình công nghiệp hoá­ hiện đại hoá đất nước. Chính vì vậy  mà nó nhận được sự quan tâm lớn của toàn xã hội, mức độ công nghiệp  hoá nông nghiệp và nông thôn sẽ được tiến hành nhanh hơn và rộng hơn  trong cả nước , đồng thời chúng ta áp dụng được những thành tựu của  khoa học kỹ thuật được nhiều hơn và tốt hơn. Tuy vậy, nông nghiệp vẫn  Sinh Viên thực hiện : Ating Thị Biêu Trang 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản