BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ----------------- PHẠM THỊ HỒNG HÀ NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC ỨNG DỤNG HỆ THỐNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP (ERP) TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN NGHIẾN
Hà Nội – Năm 2012
i Luận văn thạc sỹ khoa học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứu về việc ứng dụng hệ
thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp tại Việt Nam”
do em tự thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. NGUYỄN VĂN NGHIẾN. Mọi tài
liệu và biểu đồ mô tả trong luận văn đều do em trực tiếp thu thập và thực hiện.
Để hoàn thành bản luận văn này, em chỉ sử dụng nhữn tài liệu được ghi trong
TÀI LIỆU THAM KHẢO, ngoài những tài liệu trên em không sử dụng bất cứ một
tài liệu nào khác. Nếu phát hiện sai sót, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Học viên
Phạm Thị Hồng Hà
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học ii Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Văn Nghiến, Giáo viên hướng dẫn,
đã hướng dẫn em rất chi tiết và tận tình để em có phương pháp nghiên cứu phù hợp
với đề tài được giao.
Em xin cảm ơn các thầy, cô giáo Viện kinh tế và quản lý, Trường Đại học
Bách Khoa Hà Nội sẽ nhiệt tình giảng dậy trong suốt khóa học để em có cơ sở lý
thuyết thực hiện luận văn này.
Cuối cùng, em xin chân thành thành cảm ơn các công ty, đơn vị tư vấn đã
giúp đỡ em trong quá trình thu thập dữ liệu để thực hiện luận văn.
Với những đề xuất trong bản luận văn này, em mong muốn góp phần đẩy
mạnh việc ứng dụng hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP nhằm giúp các
doanh nghiệp lựa chọn và ứng dụng hiệu quả hệ thống ERP để doanh nghiệp tối ưu
hóa được các nguồn lực của doanh nghiệp.
Trong quá trình thực hiện luận văn, do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế,
việc nghiên cứu và các giải pháp được đưa ra không tránh khỏi thiếu sót. Em rất
mong nhận được ý kiến quý báu của các thầy cô giáo để bản luận văn của em có
tính khả thi và hiệu quả cao hơn. Em xin chân thành cảm ơn.
Học viên
Phạm Thị Hồng Hà
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học iii Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................ ii
MỤC LỤC................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT ........................................................ v
DANH SÁCH CÁC BẢNG ...................................................................................... vi
DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ MINH HỌA ......................................... vi
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC HỆ THỐNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC
DOANH NGHIỆP (ERP) TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM ........................ 5
1.1. Lịch sử hình thành các hệ thống ERP .............................................................. 5
1.2. Hệ thống hoạch định nguồn nguyên liệu (MRP - Material Resource Planning)......... 5
1.3. Mô hình hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP hiện đại
(Enterprise Resource Planning) ....................................................................... 7
1.4. Ưu điểm, nhược điểm và phạm vi ứng dụng của hệ thống ERP ..................... 21
1. 5. Giới thiệu các hệ thống ERP đang triển khai và ứng dụng tại Việt Nam ....... 24
1.5.1. Ưu và nhược điểm của các hệ thống ERP nước ngoài ........................... 24
1.5.2. Ưu và nhược điểm của các giải pháp ERP do Việt Nam xây dựng ........ 27
1.6. Quy trình triển khai hệ thống ERP tại các doanh nghiệp ................................ 28
1.6.1. Tư vấn tiền giải pháp ............................................................................ 29
1.6.2. Tư vấn triển khai giải pháp ................................................................... 30
1.6.3. Triển khai hệ thống ............................................................................... 31
1.6.4. Hỗ trợ và bảo trì hệ thống sau triển khai................................................ 34
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC ỨNG DỤNG HỆ THỐNG QUẢN TRỊ
NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP (ERP) TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TẠI
VIỆT NAM .............................................................................................................. 35
2.1. Tổng quan về việc ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam.... 35
2.1.1. Khảo sát về việc ứng dụng hệ thống quản trị doanh nghiệp tại các
doanh nghiệp tại Việt Nam về quy mô và thời gian triển khai dự kiến.. 36
2.1.2. Nghiên cứu về tình hình ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp
trên thế giới.......................................................................................... 42
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học iv Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
2.2. Nghiên cứu về tình hình ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.............................................................. 48 2.2.1. Các xu hướng triển khai ERP tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài........................................................................................... 49
2.2.2. Đánh giá những khó khăn và thuận lợi trong quá trình triển khai và ứng
dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài......... 51
2.3. Nghiên cứu về tình hình ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp
Việt Nam...................................................................................................... 53
2.3.1. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình ứng dụng giải pháp ERP
tại các doanh nghiệp tại Việt Nam........................................................ 54
2.3.2. Nghiên cứu dự án triển khai hệ thống ERP tại công ty cổ phần Giấy
Sài Gòn ................................................................................................ 58
2.3.3. Nghiên cứu dự án triển khai hệ thống ERP tại Tổng công ty Thép Việt... 62
2.4. Giới thiệu về các đơn vị tư vấn triển khai hệ thống quản trị nguồn lực doanh
nghiệp tại thị trường Việt Nam...................................................................... 67
2.4.1. Công ty TNHH Dịch vụ ERP FPT ........................................................ 68
2.4.2. Công ty cổ phần công nghệ mới Kim Tự Tháp Việt Nam...................... 70
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ỨNG DỤNG CÁC HỆ THỐNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP ERP TẠI VIỆT NAM.............................................................................. 71
3.1. Định hướng lựa chọn và ứng dụng các hệ thống ERP cho các doanh nghiệp
theo nhóm các ngành nghề đặc thù ................................................................ 71
3.2. Phát triển các giải pháp ERP Việt Nam cho doanh nghiệp Việt Nam............. 73
3.3. Đề xuất quy trình lựa chọn giải pháp và triển khai hiệu quả hệ thống ERP tại
các doanh nghiệp tại Việt Nam...................................................................... 74
3.3.1. Lựa chọn đúng giải pháp và đơn vị triển khai........................................ 75 3.3.2. Lựa chọn đúng đơn vị tư vấn triển khai giải pháp đã được chọn............ 79 3.3.3. Lập kế hoạch triển khai dự án, xác định phạm vi dự án rõ ràng ............. 79 3.3.4. Xây dựng và duy trì đội dự án trong doanh nghiệp................................ 81 3.3.5. Nâng cao hiệu quả chuyển giao hệ thống và đào tạo sử dụng hệ thống.. 82 KẾT LUẬN.............................................................................................................. 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................... 86
PHỤ LỤC
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học v Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
BOM Định mức nguyên vật liệu (Bill of Material)
CNTT Công nghệ thông tin
CRM Hệ thống quản trị quan hệ khách hàng (Customer Relationship Management)
ERP Hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning)
MRP Hệ thống hoạch định nguồn nguyên liệu (Material Requirement Planning)
SCM Hệ thống quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management)
SMEs Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Small and Medium Enterprises)
SRM Hệ thống quản lý quan hệ đối tác (Supplier Relationship Management)
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học vi Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng tóm tắt một số vấn đề về kế toán tài chính khi triển khai ERP ...... 10
Bảng 1.2: Bảng so sánh chi phí triển khai các hệ thống ERP nước ngoài ............... 27
DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ MINH HỌA
Hình 1.1: Mô hình hoạt động của hệ thống ERP ...................................................... 9
Hình 1.2: Ví dụ về quy trình mua hàng của một doanh nghiệp............................... 14
Hình 1.3: Ví dụ về quy trình bán hàng................................................................... 15
Hình 1.4: Ví dụ về quy trình sản xuất .................................................................... 20
Hình 1.5: Thị phần của các hãng cung cấp giải pháp ERP trên thế giới.................. 25
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện quy mô của các dự án ERP tại các doanh nghiệp tại
Việt Nam ............................................................................................... 39
Hình 2.2: Thời gian triển khai kế hoạch của dự án ERP tại doanh nghiệp .............. 40
Hình 2.3: Các phân hệ chức năng được lựa chọn triển khai trong hệ thống ERP .... 41
Hình 2.4: Những thách thức và rủi ro chủ yếu trong triển khai hệ thống ERP ........ 44
Hình 2.5: So sánh chi phí và ngân sách thực hiện dự án......................................... 46
Hình 2.6: Mức độ thỏa mãn của doanh nghiệp về triển khai ERP .......................... 47
Hình 2.7 : Đánh giá kết quả triển khai hệ thống ERP ............................................. 48
Hình 2.8: Danh sách khách hàng của công ty FPT ERP ......................................... 69
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 1 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
MỞ ĐẦU
Hệ thống phần mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp hay phần mềm hoạch
định tài nguyên doanh nghiệp - ERP (viết tắt từ Enterprise Resource Planning) là
một giải pháp tích hợp các ứng dụng công nghệ thông tin, dùng cho mục đích hoạch
định tài nguyên (bao gồm nguồn nguyên liệu, máy móc thiết bị, nguồn nhân lực)
trong một tổ chức, một doanh nghiệp cụ thể, nhằm giúp cho doanh nghiệp quản lý
các nguồn lực của mình một cách hiệu quả, cung cấp thông tin một cách chính xác,
kịp thời cho việc quản lý điều hành doanh nghiệp. Các giải pháp ERP được ứng
dụng rộng rãi trên thế giới trong rất nhiều lĩnh vực từ ngành công nghiệp ô tô đến
ngành công nghiệp thực phẩm, phân phối cho đến giáo dục đào tạo. Tại Việt Nam,
cùng với sự phát triển của nền kinh tế và ngành công nghệ thông tin, các giải pháp
ERP cũng bắt đầu được triển khai và ứng dụng tại nhiều doanh nghiệp, góp phần
thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp, tăng tính cạnh tranh của các doanh
nghiệp trên thương trường. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công bước đầu, việc
ứng dụng các giải pháp ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam còn gặp nhiều khó
khăn do khách quan và chủ quan. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã nghiên cứu và
tìm hiểu về thực trạng việc ứng dụng các giải pháp ERP tại Việt Nam và lựa chọn
đề tài:” Nghiên cứu về việc ứng dụng hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp
(ERP) tại các doanh nghiệp tại Việt Nam”.
Thông qua việc nghiên cứu lý thuyết mô hình hoạt động của hệ thống ERP
và khảo sát về việc ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam,
cùng với việc nghiên cứu hai dự án triển khai ERP tại doanh nghiệp tại Việt Nam,
tác giả đã phân tích và nêu bật được các vấn đề ảnh hưởng đến hiệu quả của việc
ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất
và xây dựng các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả ứng dụng hệ thống ERP tại
các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Trong khuôn khổ đề tài, đối tượng nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp
tại Việt Nam đã và đang triển khai, ứng dụng hệ thống ERP tại doanh nghiệp, bao
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 2 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các doanh nghiệp
Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tình hình ứng dụng hệ thống ERP tại
các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu vận dụng phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng, kết hợp với các phương pháp thống kê, tổng hợp,
so sánh và phân tích tình huống để rút ra các kết luận.
Với kết cấu 3 chương, luận văn đã hệ thống hóa lý thuyết căn bản về hệ
thống ERP và các giải pháp ERP hiện hành, đồng thời thực hiện khảo sát sơ bộ
về việc ứng dụng và triển khai ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam trên khía
cạnh thời gian và quy mô triển khai. Đồng thời, tác giả nghiên cứu các dự án
ERP đã triển khai thành công tại các doanh nghiệp tại Việt Nam để rút ra các yếu
tố quyết định đến sự thành công của các dự án triển khai ERP. Từ đó đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng và triển khai ERP tại các doanh
nghiệp tại Việt Nam.
Trong chương 1, bằng phương pháp trình bày đi từ những khái niệm và chức
năng của khái quát của hệ thống MRP, tiền thân của hệ thống ERP, tác giả đã trình
bày mô hình hoạt động của hệ thống ERP và chức năng cũng như quy trình vận
hành của từng phân hệ trong hệ thống ERP hoàn chỉnh từ phân hệ quản lý sản xuất,
phân hệ kế toán tài chính, phân hệ mua hàng, bán hàng…Tác giả cũng đã phân tích
ưu điểm và nhược điểm của hệ thống ERP so với các phương pháp quản lý doanh
nghiệp khác đồng thời nêu ra phạm vi ứng dụng của hệ thống ERP trong các loại
hình doanh nghiệp. Phần tiếp theo của chương 1, tác giả tìm hiểu về nhóm các giải
pháp ERP của các hãng giải pháp trong và ngoài nước đang được triển khai và ứng
dụng tại Việt Nam. Phần cuối của chương 1, tác giả nghiên cứu và trình bày về quy
trình xây dựng và triển khai hệ thống ERP tại doanh nghiệp nói chung.
Trong chương 2, tác giả nghiên cứu và trình bày về việc ứng dụng hệ thống
quản trị nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp tại Việt Nam thông qua các
khảo sát các dữ liệu cụ thể từ các chuyên gia về một số doanh nghiệp đã và đang
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 3 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
triển khai ứng dụng ERP, đồng thời dựa trên kết quả của các cuộc khảo sát khác để
đánh giá về những khó khăn và thách thức cũng như hiệu quả của việc ứng dụng hệ
thống ERP tại doanh nghiệp để các doanh nghiệp có cơ sở tham khảo khi quyết định
triển khai dự án ERP. Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu làm rõ xu hướng triển
khai hệ thống ERP tại hai nhóm doanh nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài và các doanh nghiệp Việt Nam cũng như thuận lợi và khó khăn khi ứng
dụng ERP tại hai nhóm doanh nghiệp này.
Phần tiếp theo của chương 2, tác giả đi sâu nghiên cứu hai doanh nghiệp đã
triển khai ERP thành công, đồng thời nêu lên yếu tố quan trọng nhất quyết định
thành bại của dự án ERP tại doanh nghiệp đó. Đó là dự án triển khai ERP tại Giấy
Sài Gòn và dự án triển khai ERP tại Tổng công ty Thép Việt. Đây là hai dự án cỡ
lớn, kéo dài và tác động đến mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp. Dự án triển khai
ERP tại Công ty giấy Sài Gòn là dự án ERP đầu tiên trong ngành giấy. Nghiên cứu
về quá trình triển khai hệ thống ERP tại Giấy Sài Gòn cho thấy yếu tố mấu chốt để
đem lại hiệu quả của hệ thống ERP là sự quyết tâm của ban lãnh đạo, sự đồng lòng
của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong nỗ lực tái cấu trúc doanh nghiệp theo quy
trình quản lý hiện đại. Dự án triển khai ERP tại Tổng công ty Thép Việt là dự án
ERP có quy mô và tổng mức đầu tư lớn nhất cho một dự án ERP tại doanh nghiệp
tư nhân tính đến thời điểm hiện nay. Thép Việt đã triển khai hệ thống SAP ERP,
giải pháp chuyên cho các doanh nghiệp cỡ vừa và lớn với các phân hệ đặc thù cho
ngành thép như quản lý nguyên vật liệu, kênh phân phối. Dự án triển khai ERP tại
Thép Việt là một dự án thành công tiêu biểu tuân thủ theo bộ nguyên tắc triển
AcceleratedSAP (ASAP) của hãng SAP. Từ bài học thành công của Thép Việt cho
thấy việc xây dựng dự án một cách bài bản là lâu dài, tuân thủ đúng theo các quy tắc
triển khai của nhà cung cấp giải pháp sẽ hạn chế được những rủi ro không đáng có
và góp phần quan trọng vào thành công của cả dự án ERP.
Trong phần cuối chương 2, tác giả cũng đã giới thiệu và đề cập đến vai trò
của các đơn vị tư vấn triển khai ERP trong việc triển khai các dự án ERP.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 4 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Từ việc khảo sát thực tế và nghiên cứu tìm hiểu các dự án triển khai ERP tại
các doanh nghiệp tại Việt Nam và nêu lên những khó khăn trong quá trình chọn lựa
và triển khai ứng dụng ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam, trong chương 3, tác
giả đã đưa ra những đề xuất và giải pháp chung ở tầm vĩ mô và đề xuất mô hình
chọn lựa triển khai ERP phù hợp với tình hình thực tế của các doanh nghiệp của
Việt Nam.
Cụ thể là tác giả đề xuất xây dựng, nghiên cứu các nhóm giải pháp ERP theo
các nhóm ngành đặc thù dưới sự định hướng của các Hiệp hội ngành nghề từ bài
học thành công của các doanh nghiệp đi tiên phong trong việc ứng dụng hệ thống
ERP trong quản lý như ngành giấy, ngành thép....Tiếp đó, tác giả đề xuất việc phát
triển và tích hợp các giải pháp ERP Việt Nam cho doanh nghiệp Việt Nam, phù hợp
với môi trường kinh doanh và khả năng tài chính của các doanh nghiệp quy mô vừa
và nhỏ tại Việt Nam.
Bên cạnh hai giải pháp mang tính tổng quát vừa nêu trên, trong phần cuối cùng
của luận văn, tác giả cũng đề xuất quy trình lựa chọn giải pháp phù hợp và hỗ trợ quá
trình triển khai hệ thống ERP cho các doanh nghiệp tại Việt Nam từ khâu xây dựng
quy trình lựa chọn giải pháp, lựa chọn đơn vị tư vấn cho đến việc xây dựng đội dự án,
thực hiện dự án và chuyển giao đào tạo dự án ERP tại doanh nghiệp.
Sau đây là phần trình bày nội dung của luận văn tốt nghiệp.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 5 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÁC HỆ THỐNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC
DOANH NGHIỆP (ERP) TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
1.1. Lịch sử hình thành các hệ thống ERP
Hệ thống phần mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp hay phần mềm hoạch
định tài nguyên doanh nghiệp - ERP (viết tắt từ Enterprise Resource Planning) là
một giải pháp tích hợp các ứng dụng công nghệ thông tin, dùng cho mục đích hoạch
định tài nguyên (bao gồm nguồn nguyên liệu, máy móc thiết bị, nguồn nhân lực)
trong một tổ chức, một doanh nghiệp cụ thể, nhằm giúp cho doanh nghiệp quản lý
các nguồn lực của mình một cách hiệu quả, cung cấp thông tin một cách chính xác,
kịp thời cho việc quản lý điều hành doanh nghiệp. Hệ thống ERP điển hình là một
hệ thống đa phân hệ (Multi Module Software Application) từ phân hệ quản lý tài
chính - kế toán, quản lý vật tư, trang thiết bị, quản lý nhân sự đến phân hệ quản lý
sản xuất, kinh doanh và bao trùm toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Tất cả các
phân hệ của hệ thống ERP được tích hợp trên một cơ sở dữ liệu thống nhất trong
toàn bộ hệ thống, từ đó nhà quản trị có được những báo cáo quản trị đầy đủ chi tiết
và tính chất dữ liệu thời gian thật. Ứng dụng giải pháp ERP có ý nghĩa to lớn đối
với doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực, và phục vụ cho nhiều mục đích sử dụng.
Trong đó phân hệ quản lý và lập kế hoạch nguyên vật liệu (Material Resource
Planning MRP) là phân hệ trọng tâm của toàn bộ hệ thống, đây cũng là phân hệ tiền
đề cho sự hình thành và phát triển của các hệ thống ERP hiện đại.
1.2. Hệ thống hoạch định nguồn nguyên liệu (MRP - Material Resource
Planning)
Khái niệm về hệ thống hoạch định nguồn nguyên liệu (Material Resource
Planing) hay hệ thống hoạch định yêu cầu nguyên liệu (Material Requirement
Planning) lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới vào năm 1964 trong chương trình quản
lý sản xuất của công ty TOYOTA. Những chức năng cơ bản của một hệ thống MRP
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 6 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
bao gồm quản lý kho, xây dựng BOM (Bill of material) và lập kế hoạch sản xuất.
Hệ thống MRP giúp cho các nhà máy sản xuất tổ chức và đảm bảo hiệu quả lượng
nguyên vật liệu trong kho đạt ngưỡng an toàn và đảm bảo giao hàng thành phẩm
đúng tiến độ bằng việc lập kế hoạch sản xuất, lập kế hoạch đặt nguyên vật liệu và kế
hoạch giao hàng thành phẩm. Cụ thể như, nếu một công ty sản xuất đặt hàng
nguyên vật liệu chậm, không đúng chủng loại hay không kịp tiến độ để phục vụ đầu
vào cho sản xuất thì công ty đó không có khả năng giao hàng thành phẩm theo tiến
độ trong hợp đồng với khách hàng. Trong một trường hợp khác, khi lượng nguyên
vật liệu tồn kho quá nhiều, việc quản lý và sử dụng kho không hiệu quả sẽ ảnh
hưởng không tốt đến chi phí hay tài chính của cả công ty. Liên quan đến kế hoạch
sản xuất, ngay cả khi nguồn nguyên liệu đã sẵn sàng nhưng khi lệnh sản xuất được
ban hành không đúng thời điểm cũng dẫn đến việc chậm sản xuất và dẫn đến sản
xuất không theo kịp tiến độ giao hàng. Hệ thống MRP chính là công cụ để giải
quyết các vấn đề mà các công ty sản xuất thường xuyên phải đối mặt như đã nêu
trên đây. Hệ thống MRP cho phép giải quyết ba câu hỏi cơ bản trong hoạt động sản
xuất của bất kỳ công ty sản xuất nào, đó là cần những thành phần nguyên vật liệu
nào, cần bao nhiêu và khi nào cần (What, When, and How Many). Các hệ thống
MRP không những xử lý và đưa ra được kế hoạch đặt hàng nguyên vật liệu đầu vào
và thành phẩm đầu ra mà còn lập kế hoạch sản xuất cho các bán thành phẩm, là
thành phần trung gian trong quá trình sản xuất từ nguyên vật liệu đến thành phẩm
trong các công ty sản xuất các sản phẩm có cấu tạo phức tạp.
Cũng giống như bất kỳ hệ thống máy tính nào, hệ thống MRP cần có các
thông tin đầu vào cụ thể như: định mức nguyên vật liệu (hay BOM) từ nguyên vật
liệu, bán thành phẩm đến thành phẩm, số lượng thành phẩm cần giao và tiến độ giao
hàng, các số liệu ban đầu tại kho và sẽ về kho, bên cạnh đó là các thông số về sản
xuất như tiêu chuẩn máy móc, năng lực sản xuất dựa trên năng lực của máy móc và
nguồn nhân lực, số lượng sản xuất theo lô, ước tính tỷ lệ lỗi hỏng và các thông số
khác. Sau quá trình xử lý các thông tin đầu vào, hệ thống MRP sẽ tự động cho ra hai
gợi ý chính, đó là bảng kế hoạch sản xuất và bảng kế hoạch đặt hàng. Trong bảng kế
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 7 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
hoạch sản xuất sẽ bao gồm các thông tin cụ thể về lịch trình sản xuất cụ thể cho
từng mặt hàng, số lượng sản xuất và chỉ thị sản xuất từ bán thành phẩm đến thành
phẩm. Bảng kế hoạch đặt hàng sẽ bao gồm các thông tin cụ thể về ngày cần đặt
nguyên vật liệu, ngày dự kiến nguyên vật liệu về kho (dựa theo kế hoạch giao hàng
của nhà cung cấp). Với các công ty sản xuất đơn giản, sản xuất ít mặt hàng và các
thành phẩm có cấu tạo đơn giản, yêu cầu ít loại nguyên vật liệu thì việc lập kế
hoạch sản xuất và kế hoạch đặt hàng không quá phức tạp, tuy nhiên trong các ngành
công nghiệp phức tạp như ô tô, hay ngành điện tử với hàng trăm chủng loại mặt
hàng và hàng ngàn nguyên vật liệu đầu vào thì hai bảng gợi ý lập kế hoạch sản xuất
và bảng lập kế hoạch đặt hàng có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý trong
việc điều hành và tổ chức sản xuất.
1.3. Mô hình hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP hiện đại
(Enterprise Resource Planning)
Kể từ khi ra đời, hệ thống MRP đã được phát triển và ứng dụng tại hàng
trăm công ty trên thế giới, tuy nhiên cùng với thời gian hệ thống MRP đã phát sinh
nhiều bất cập trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất và kế hoạch đặt hàng do chưa
tính đến các tham số quan trọng khác trong sản xuất như thời gian sản xuất một
thành phẩm (mặc định là nguyên vật liệu luôn sẵn sàng), hệ thống mặc định là thời
gian sản xuất sẽ luôn như nhau cho mỗi đợt sản xuất mà không tính đến số lượng
sản xuất hay tình trạng của nhà máy. Bên cạnh đó, khi các công ty có nhiều nhà
máy sản xuất và các kho chứa nguyên vật liệu tại nhiều địa điểm khác nhau, hệ
thống MRP không phân biệt được sự khác biệt về vị trí địa lý của các kho nguyên
vật liệu mà chỉ mặc định xây dựng kế hoạch đặt hàng dựa trên tổng lượng nguyên
vật liệu tại thời điểm lập kế hoạch, do đó sẽ phát sinh các trường hợp nhà máy tại
địa điểm A cần nguyên vật liệu để sản xuất nhưng do kho nguyên vật liệu tại điểm
B cách địa điểm A hàng trăm, hàng nghìn km còn rất nhiều nguyên vật liệu chưa sử
dụng đến nên hệ thống MRP không có kế hoạch đặt hàng nguyên vật liệu cho nhà
máy tại điểm A. Từ những bất cập trên đây của hệ thống MRP và yêu cầu càng
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 8 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
ngày càng cao hơn của nhà quản lý xuất phát từ nhu cầu quản lý đồng nhất trong
toàn bộ doanh nghiệp, hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise
Resource Planning) đã ra đời để giải quyết những vấn đề mà hệ thống MRP cổ điển
chưa làm được.
Đầu những năm 1990, công ty Gartner là một trong những công ty đầu tiên
triển khai hệ thống ERP, được coi như là hệ thống mở rộng dựa trên cơ sở của
MRP. Hệ thống ERP giới thiệu những chức năng rộng hơn, bao trùm hầu hết các
hoạt động của một doanh nghiệp với nhiều nhà máy. Một hệ thống ERP điển hình là
hệ thống tích hợp dữ liệu hoạt động của toàn bộ doanh nghiệp ví dụ như dữ liệu kế
toán, dữ liệu sản xuất, bán hàng, dịch vụ…Những dữ liệu này không đứng độc lập
và xử lý riêng lẻ tại từng phân hệ chức năng độc lập mà xử lý tích hợp như một
luồng thông tin thông suốt trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Các phân hệ
chức năng như phân hệ kế toán, phân hệ bán hàng, phân hệ dịch vụ, phân hệ đặt
hàng liên kết và ảnh hưởng đến hoạt động của nhau trên cơ sở một cơ sở dữ liệu
đồng nhất của toàn bộ công ty. Khi hệ thống đã có sự thông suốt về thông tin và liên
kết về mặt hoạt động, hệ thống cho phép chiết xuất các báo cáo tổng hợp liên quan
đến nhiều bộ phận, nhiều hoạt động chung trong toàn công ty, từ đó giúp nhà quản
lý xây dựng các báo cáo chi tiết để phục vụ mục đích quản lý điều hành công ty.
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, hệ thống ERP đã được xây
dựng và phát triển trên nền web, nhờ đó hoạt động của hệ thống ERP đã vượt ra
khỏi sự giới hạn trong nội bộ một doanh nghiệp mà cho phép tương tác với các đối
tác, bạn hàng, khách hàng thông qua các phân hệ như phân hệ quan hệ khách hàng
CRM (Customer Relationship Management), phân hệquan hệ với nhà cung cấp
SRM (Supplier Relationship Management)…Mô hình dưới đây giới thiệu các phân
hệ cơ bản của một hệ thống ERP và luồng thông tin trao đổi giữa các phân hệ xuyên
suốt trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 9 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Hình 1.1: Mô hình hoạt động của hệ thống ERP
Trong mô hình hoạt động của hệ thống ERP cho thấy, các phân hệ hoạt động
độc lập và có sự trao đổi thông tin hai chiều, được cập nhật theo hoạt động của
doanh nghiệp. Về cơ bản, các hệ thống ERP điển hình gồm các phân hệ như phần
giới thiệu dưới đây.
Phân hệ Kế toán tài chính - Financials : cung cấp cho doanh nghiệp bức tranh
về tình hình tài chính, cho phép kiểm soát toàn bộ các giao dịch nghiệp vụ kế toán,
kiểm soát nội bộ, ngân quỹ, giúp tăng tốc độ khai thác thông tin và tính minh bạch
trong các báo cáo tài chính từ đó tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, các
chức năng chính của phân hệ này là kế toán sổ cái, kế toán thu, chi, quản lý tài sản
cố định, quản lý ngân quỹ…Nhiều doanh nghiệp hiện nay đã sử dụng phần mềm kế
toán vào nghiệp vụ kế toán, tuy nhiên việc ứng dụng những phần mềm này về bản
chất là tin học hóa hệ thống kế toán thủ công trước kia. Triển khai ERP không phải
là tin học hóa những cái có sẵn của doanh nghiệp, việc tin học hóa những cái có sẵn
của doanh nghiệp là tư duy của người lập trình phần mềm theo yêu cầu. Doanh
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 10 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
nghiệp khi triển khai ERP là phải chấp nhận thay đổi theo những quy trình, hệ thống
mới ưu việt hơn. Ngay kể cả các thao tác bình thường như việc định khoản, với hệ
thống ERP, công việc định khoản được thực hiện tự động và số liệu cũng được
chuyển từ các phân hệ chức năng khác sang phân hệ kế toán khi phát sinh các
nghiệp vụ trong doanh nghiệp chứ không phải nhập bằng tay vào hệ thống kế toán
như thông thường, như vậy công việc của nhân viên kế toán đã chuyển từ thao tác
nhập dữ liệu sang việc kiểm soát đối chiếu số liệu. Bảng dữ liệu dưới đây cho thấy
một số vấn đề chính của nghiệp vụ tài chính kế toán được phân hệ tài chính kế toán
trong hệ thống ERP xử lý.
STT Một số vấn đề chính Hệ thống ERP
Hình thức kế toán Phù hợp nhiều hơn với hình thức Nhật Ký Chung 1
và Chứng từ Ghi sổ
Hệ thống tài khoản Cấu trúc tài khoản gồm nhiều phân đoạn để tổng 2
hợp, phân tích số liệu, không đơn giản chỉ là các
TK do Nhà nước quy định và mở các tiểu khoản
Việc hạch toán được thực hiện tự động.
Sử dụng sổ phụ và tài khoản trung gian để đảm
Hạch toán 3
Các đơn vị hạch toán phụ thuộc được coi như
bảo tính liên thông giữa các phân hệ trong ERP.
hạch toán độc lập bằng việc mở phân đoạn quản lý
các chi nhánh
4 Báo cáo, biểu mẫu Bên cạnh những báo cáo, biểu mẫu bắt buộc của
Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính, các báo cáo, biểu
mẫu nên được xây dựng lại theo hình thức quản lý
mới, không nhất thiết phải theo các biểu mẫu của
hình thức hạch toán thủ công trước kia.
Bảng 1.1: Bảng tóm tắt một số vấn đề về kế toán tài chính khi triển khai ERP
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 11 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Phân hệ Quản lí đặt hàng – Procurement hay Purchasing gồm các chức năng
được ứng dụng nhằm quản lí hiệu quả việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ đa dạng và
phức tạp. Phân hệ quản lí mua hàng cho phép doanh nghiệp quản lí các yêu cầu mua
hàng của toàn doanh nghiệp, công tác mua hàng (bao gồm mua nguyên vật liệu,
mua tài sản cố định, mua máy móc thiết bị…), quản lí và lựa chọn nhà cung cấp,
quản lý công nợ, và các quy trình xác nhận đặt hàng …nghiệp vụ của bộ phận đặt
hàng không quá phức tạp tuy nhiên thực tế tại doanh nghiệp phát sinh rất nhiều
trường hợp đòi hỏi hệ thống phải được thiết kế để về cơ bản xử lý được tất cả các
giao dịch mua hàng của doanh nghiệp.
Cụ thể trong hệ thống ERP, khái niệm đặt hàng hay mua hàng bao hàm tất
cả các hạng mục phải mua, phải thuê của doanh nghiệp từ mua nguyên vật liệu đầu
vào, mua tài sản công, công cụ lao động, dụng cụ lao động, cũng như việc
thuê/mua, vận chuyển, kho bãi dịch vụ đều nằm ở bộ phận đặt hàng. Các DN triển
khai ERP thường mong muốn phân hệ quản lý mua hàng sẽ giúp giảm bớt những
sai sót trong việc đặt hàng, đồng thời thực hiện được đúng mục tiêu của quản lý
mua hàng là mua đúng, mua đủ và giá cả hợp lý. Nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm của
nhân viên phòng mua hàng để tính toán và dự trù sẽ khiến doanh nghiệp không
kiểm soát được nhu cầu phát sinh thực tế của doanh nghiệp, bên cạnh đó việc không
kiểm soát được số lượng hàng đặt mua sẽ ảnh hưởng lớn đến chi phí của doanh
nghiệp. Tuy nhiên để biết được chính xác số lượng hàng cần mua và thời điểm cần
mua cần kết hợp thông tin của rất nhiều bộ phận từ bán hàng, sản xuất đến
marketing bán hàng, quản lý kho…, dữ liệu của các bộ phận này cũng rất dễ bị
trùng lặp do có chỉ có một thông tin nhưng có quá nhiều bộ phận tham gia xử lý. Vì
vậy mục tiêu của phân hệ quản lý mua sắm trong ERP là đáp ứng được mục tiêu
quản lý mua sắm của doanh nghiệp dựa theo bốn nguyên tắc. Thứ nhất là đặt hàng
đúng mặt hàng cần mua, đây là yêu cầu cơ bản của việc mua sắm hàng hóa, nguyên
vật liệu, vì sẽ đáp ứng đúng yêu cầu của bộ phận sản xuất hoặc của các bộ phận
khác. Đúng số lượng là tiêu chí thứ hai, đúng số lượng đồng nghĩa với việc không
mua thừa và giảm lượng hàng hóa tồn kho xuống ngưỡng an toàn để không gây
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 12 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
đọng vốn và tốn chi phí. Tiêu chí giá và chất lượng là tiêu chí thứ ba được quan tâm
nhằm giảm giá thành và tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp, để làm được điều đó
doanh nghiệp cần nắm được thông tin của các nhà cung cấp và đánh giá được các
nhà cung cấp về năng lực cung cấp tùy thuộc vào khối lượng và chủng loại hàng cần
mua. Đúng thời gian là tiêu chí thứ tư trong việc đặt hang nhằm phục vụ sản xuất
và giao hang đúng hạn, việc nhập hàng hóa nguyên vật liệu đúng thời gian sẽ giảm
được lượng hàng tồn kho nhưng vẫn đáp ứng được tiến độ sản xuất, giao hàng. Khi
ứng dụng phân hệ mua hàng của ERP, việc quản lý thông tin về đặt hàng, nhận
hàng, thanh toán… được quản lý tự động, tránh sự trùng lặp thông tin. Trong đó,
tiêu chí về quản lý giá mua phải hết sức chặt chẽ.
Ngoài bốn tiêu chí vừa nêu trên được đặt ra cho bộ phận mua hàng nói riêng
thì nói chung quá trình mua hàng của một doanh nghiệp phải là quá trình xuyên
suốt từ khi lập yêu cầu đặt hàng cho đến lúc hàng về và thanh toán cho đơn đặt hàng
đó, liên quan đến rất nhiều bộ phận.
Một quy trình mua sắm chuẩn sẽ bắt đầu khi có yêu cầu mua sắm, có thể từ
bộ phận sản xuất đang thiếu nguyên vật liệu hoặc từ bộ phận bán hàng, hay có khi
từ yêu cầu nâng mức dự trữ của kho hàng, những yêu cầu này được nhập vào hệ
thống dưới dạng đề xuất mua hang, sau khi được phê duyệt trong nội bộ bộ phận sẽ
chuyển trạng thái thành đề xuất mua hàng đã được duyệt, lúc này dữ liệu mới được
bộ phận mua hàng xử lý. Trước hết bộ phận mua hàng căn cứ vào nội dung đề xuất
mua hàng để lập các bảng hỏi báo giá, khâu lập các bảng hỏi giá được tạo ra tự
động từ hệ thống và chuyển đến các nhà cung cấp thuộc nhóm ngành hàng cần mua.
Sau khi nhà cung cấp phản hồi về giá cả và các điều khoản khác, thông tin về giá sẽ
được bộ phận mua hàng cập nhật vào bảng giá trên hệ thống. Trên cơ sở quản lý
được bảng giá của các nhà cung cấp cộng thêm sự phân tích về thời gian giao hàng,
điều khoản thanh toán, bộ phận mua hàng có thể lựa chọn được nhà cung cấp có
điều kiện tốt nhất. Hệ thống linh động cho phép bộ phận mua hàng thiết lập các bộ
thứ tự ưu tiên các tiêu chí để đánh giá nhà cung cấp ví dụ như nhà cung cấp có giá
tốt nhất, nhà cung cấp có điều khoản thanh toán tốt nhất…Do giá cả của tất cả các
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 13 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
mặt hàng từ rất nhiều nhà cung cấp được quản lý bằng hệ thống, và mỗi đơn hàng
đều được hệ thống lưu trữ nên các đơn hàng sau dễ dàng có được các thông tin tham
chiếu.
Phân hệ mua hàng còn cho phép doanh nghiệp và bộ phận mua hàng phân
cấp trong quản lý về việc phê duyệt các đơn đặt hàng trước khi chuyển đến nhà
cung cấp tùy theo các quy định của doanh nghiệp. Tất nhiên việc phân cấp phê
duyệt cũng được thực hiện trên hệ thống. Hơn thế nữa hệ thống còn có khả năng
đáp ứng rất linh động về quá trình phê duyệt như cho phép thiết lập nhiều cấp phê
duyệt hay ủy quyền cho người khác trong trường hợp người phê duyệt không thể
trực tiếp tiến hành. Dữ liệu trong hệ thống ERP là dữ liệu đồng nhất trong toàn bộ
doanh nghiệp và xuyên suốt tất cả các bộ phận, do đó khi các đơn hàng đã được phê
duyệt và chuyển sang nhà cung cấp, các bộ phận có liên quan như bộ phận kho sẽ
có thông tin về thời gian hàng về kho, tiến độ hàng sẽ về kho theo lô hay theo đợt,
bộ phận kế toán sẽ có thông tin về dự kiến thời điểm thanh toán để thu xếp luồng
tiền. Ngay khi hàng về kho, thông tin sẽ được bộ phận kho đối chiếu và cập nhật
trên hệ thống. Về việc đánh giá được chất lượng hàng hóa, bộ phận kho có thể kiểm
soát được chất lượng hàng, từ đó cập nhật tỷ lệ hàng lỗi hỏng trên hệ thống, bộ phận
đặt hàng dựa trên thông tin này để đánh giá nhà cung cấp cho các đơn hàng sau.
Hệ thống cho phép kiểm tra chéo giữa các bộ phận, do thông tin xuyên suốt
từ bộ phận bán hàng đến bộ phận kế toán, kho bãi, đảm bảo mỗi đơn đặt hàng đều
được kiểm tra theo dõi xuyên suốt bắt đầu từ khâu yêu cầu mua hàng cho đến khâu
thanh toán. Bên cạnh đó, hệ thống còn cho phép lập các lịch hàng về kho của nhiều
đơn hàng cho nhiều mục đích và các mốc thời gian để theo dõi tiến độ hàng về và
điều tiết lượng hàng nhập và xuất kho. Một chức năng quản lý khác của bộ phận đặt
hàng là việc quản lý chi tiêu theo ngân sách, doanh nghiệp không cho phép các bộ
phận tùy tiện đưa ra các yêu cầu đặt hàng mà không bị kiểm soát về mặt ngân sách
cũng như mục đích sử dụng. Hệ thống cho phép thiết lập ngân sách cho từng bộ
phận, từng dự án theo từng tháng từng quý và từng năm hoặc linh động theo yêu
cầu, khi các khoản mục đặt hàng vượt quá ngân sách đã được ấn định thì hệ thống
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 14 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
sẽ đưa ra các thông báo hoặc từ chối cập nhật các giao dịch này cho đến khi các hạn
mức chi ngân sách được điều chỉnh. Về việc thanh toán, tuy không nằm trong chức
năng của phòng mua hàng nhưng ngay khi việc mua hàng được tiến hành trên hệ
thống, phân hệ kế toán tài chính sẽ tạo ra các bút toán dự chi tự động để dự báo các
khoản phải chi trong tương lai để doanh nghiệp chủ động về luồng tiền, khi hàng đã
nhập kho, hệ thống cũng tạo ra các bút toán tự động để ghi có tài sản và ghi nợ
nguồn vốn.
Với các tập đoàn lớn có nhiều chi nhánh, hệ thống ERP hỗ trợ nhiều loại
hình giao dịch như hợp đồng khung, hợp đồng ký kết nhiều lần, hỗ trợ quản lý
nhiều nhà cung cấp và đa tiền tệ trong giao dịch.
Hình 1. 2: Ví dụ về quy trình mua hàng của một doanh nghiệp
Phân hệ Cung ứng hay kho vận - Logistic sẽ hỗ trợ quản lí toàn bộ quy trình
cung ứng từ quản lí kho (bao gồm các tác nghiệp nhập kho, xuất kho, chuyển kho,
quản lý các loại hình kho) đến quản lý các công đoạn trong đóng gói, vận chuyển
đến nơi nhận và trả lại hàng về nơi gửi, đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu,
bộ phận kho vận cũng sẽ chịu trách nhiệm về các thủ tục xuất nhập khẩu.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 15 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Phân hệ quản lí nhận đơn đặt hàng hay bán hàng – Sales hay Order
Fulfillment sẽ cho phép doanh nghiệp quản lí các quy trình bán hàng theo các quy
trình mềm dẻo, cung cấp số liệu kịp thời, góp phần tăng khả năng thực hiện đúng
hạn các đơn hàng của khách hàng, tự động hóa quy trình từ bán hàng đến thu tiền.
Các chức năng chính của Quản lí bán hàng gồm dựng báo giá, gửi báo giá, nhận
đơn hàng, quản lý các bảng giá, xác nhận công nợ, theo dõi tiến trình làm đầy đơn
hàng đến xác nhận bàn giao cho khách theo từng phần hoặc theo lô, theo kỳ…Cụ
thể tại phân hệ quản lý bán hàng có liên quan trực tiếp đến doanh số của doanh
nghiệp, đặc biệt với các doanh nghiệp phân phối hay bán lẻ như siêu thị thì phân hệ
quản lý bán hàng càng đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp chỉ đơn
thuần quan niệm hệ thống bán hàng là hệ thống cho phép nhập yêu cầu của khách
hàng, tính tiền…thì không thể coi đây là một phân hệ của hệ thống ERP mà chỉ đơn
thuần là một công cụ thống kê.
Hình 1.3 : Ví dụ về quy trình bán hàng
Một quy trình bán hàng chuẩn thường bắt đầu từ khi có đơn đặt hàng hoặc
hợp đồng cho đến quá trình xuất kho, giao hàng, thu tiền của khách hàng, đây chỉ là
những chức năng chính của việc bán hàng.
Chức năng đầu tiên của phân hệ bán hàng là chức năng quản lý quá trình
thương thảo hợp đồng và dự kiến giao hàng, chức năng này giúp doanh nghiệp nâng
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 16 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
cao được uy tín với khách hàng khi luôn cập nhật được giá bán tốt nhất và thời gian
giao hàng nhanh nhất. Điểm khác biệt của phân hệ bán hàng so với các phần mềm
quản lý bán hàng đơn lẻ khác là khi ứng dụng chương trình bán hàng đơn lẻ, doanh
nghiệp thường bắt đầu nhập liệu khi đã nhận được đơn hàng của khách hàng chứ
không quản lý được giai đoạn tiếp cận khách hàng khi chào giá và thương thảo…
Cụ thể, hệ thống cho phép tạo ra các báo giá theo yêu cầu của khách hàng,
đồng thời hệ thống cho phép ghi nhận được diễn biến của giai đoạn đàm phán về giá
cả với khách hàng. Về phía nội bộ doanh nghiệp, do phân hệ bán hàng kết nối dữ
liệu đến các bộ phận khác nên lãnh đạo doanh nghiệp có thể tính toán được lãi lỗ
cho đơn hàng này để đưa ra quyết định cuối cùng đồng thời đánh giá được nguyên
nhân thành công hay thất bại của quá trình đàm phán. Về thời gian giao hàng, bộ
phận bán hàng có thể nắm được số lượng hàng tồn kho và tiến độ sản xuất để đưa ra
dự kiến lịch giao hàng cho từng mặt hàng.
Trong các trường hợp đặc biệt có tính chiến lược, bộ phận bán hàng cũng có
thể đưa ra các thứ tự ưu tiên sản xuất và xuất kho cho các đơn hàng để tính được
ngày giao hàng dự kiến cho từng báo giá. Khi số lượng, giá, ngày giao hàng và các
điều kiện khác được phía khách hàng chấp nhận, hệ thống sẽ ghi nhận báo giá thành
hợp đồng bán hàng chính thức. Trong phân hệ quản lý bán hàng, việc quản lý giá
bán được doanh nghiệp đặc biệt chú ý và được giữ bí mật cũng như quyết định bởi
lãnh đạo doanh nghiệp, khi đưa hệ thống vào vận hành, giá bán phải được định
nghĩa trước thành các bảng giá dựa vào loại khách hàng, nơi giao hàng, mặt hàng,
số lượng hàng…Bảng giá này trên hệ thống chỉ được cập nhật hay thay đổi bởi
những người dùng hệ thống đã được cấp quyền. Bên cạnh các bảng giá cố định cho
từng loại đối tượng, hệ thống còn cho phép quản lý đa dạng hóa các hình thức bán
hàng như khuyến mại chiết khấu, chính sách giảm giá theo thời gian, theo số
lượng…Hệ thống còn cho phép đánh giá được hiệu quả của các chính sách khuyến
mại dựa trên doanh thu bán ra, và lãi lỗ cho các chính sách khuyến mại này. Phân
hệ quản lý bán hàng còn cho phép kiểm soát chặt chẽ và khống chế số nợ tối đa của
mỗi khách hàng, nhằm hạn chế các rủi ro về tài chính đối với doanh nghiệp. Thông
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 17 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
thường khi nhận đơn đặt hàng, phòng kinh doanh phải kiểm tra đối chiếu công nợ
với phòng kế toán rồi mới chấp nhận đơn đặt hàng, thủ tục này đôi khi rất mất thời
gian khi khách hàng có nhiều chi nhánh, nhiều loại công nợ...Khi sử dụng hệ thống
ERP, hệ thống tự động đưa ra các thông báo về số dư nợ của khách hàng khi phòng
kinh doanh nhập các đơn hàng vào hệ thống. Hệ thống cho phép thiết lập linh hoạt
công nợ của khách hàng theo từng chi nhánh, hoặc tính gộp hạn mức tín dụng của
một khách hàng có nhiều chi nhánh, trong trường hợp đơn hàng vượt hạn mức tín
dụng vẫn có thể được chấp nhận tùy theo chính sách của công ty hay khi có sự phê
duyệt của ban lãnh đạo doanh nghiệp.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có các đơn hàng
giá trị lớn, dài hạn, bàn giao nhiều đợt hay đơn hàng xuất khẩu, việc theo dõi tiến độ
thực hiện hợp đồng nếu thực hiện theo quy trình thủ công rất mất thời gian do cần
tổng hợp thông tin từ nhiều bộ phận, khi ứng dụng hệ thống ERP vào nghiệp vụ này
cho phép theo dõi tiến độ sản xuất và bàn giao hàng hóa tại bất kỳ thời điểm nào
một cách dễ dàng. Việc theo dõi được tình trạng của các đơn hàng giúp lãnh đạo
doanh nghiệp chủ động được việc đôn đốc tiến độ và phản hồi một cách chính xác
nhất về tiến độ với khách hàng. Bên cạnh đó, trong thực tế một doanh nghiệp có rất
nhiều hình thức bán hàng khác nhau, biến đổi và phát sinh liên tục như bán hàng
giao thẳng từ nhà cung cấp đến khách hàng không qua nhập kho, bán hàng nội bộ
giữa các chi nhánh của doanh nghiệp, bán hàng dịch vụ không có thông tin xuất
kho..., do đó hệ thống ERP cần quản lý linh hoạt để đáp ứng được đầy đủ toàn bộ
các hình thức bán hàng có thể phát sinh của doanh nghiệp.
Tiêu chí quan trọng nhất khi triển khai phân hệ bán hàng của hệ thống ERP là
khâu kiểm tra đối chiếu số liệu. Bộ phận bán hàng cần kiểm tra đối chiếu số liệu
thường xuyên với bộ phận kế toán, bộ phận kho...nhằm đảm bảo tính chính xác của
dữ liệu trong các báo cáo nội bộ và báo cáo khác. Bộ phận bán hàng cũng là bộ
phận làm việc trực tiếp với khách hàng, liên quan đến sự sống còn của doanh
nghiệp, do đó việc báo cáo và đối chiếu các số liệu phải chính xác và liên tục nhằm
đạt đến sự hài lòng tối đa cho khách hàng. Hiện nay, do yêu cầu của rất nhiều doanh
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 18 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có nhiều chi nhánh hay doanh nghiệp thương
mại, việc sử dụng phân hệ bán hàng là thường xuyên và không cố định tại một nơi,
do đó hệ thống ERP đã được thiết kế trên nền web nhằm hỗ trợ các nhân viên kinh
doanh có khả năng tiếp cận hệ thống mọi nơi mọi lúc để phục vụ khách hàng trong
thời gian nhanh chóng và thuận tiện nhất.
Phân hệ quản lí sản xuất – Manufacturing sẽ giúp tối ưu hóa năng lực sản xuất,
từ khâu nguyên vật liệu đến thành phẩm cuối cùng, chức năng quan trọng nhất của
phân hệ quản lý sản xuất là chức năng lên kế hoạch nguyên vật liệu và quản lý sản xuất
MRP. Đây là chức năng lên kế hoạch đặt hàng cho nguyên vật liệu, các vật liệu phụ
trợ, lên kế hoạch sử dụng nguồn nhân lực và vật lực của doanh nghiệp, dựa trên các
yếu tố đầu vào là dữ liệu kho, dữ liệu đơn đặt hàng đã nhận được, thời gian giao hàng,
thời gian thực hiện,….Dữ liệu đầu ra là kết quả của MRP được điều chuyển tự động
sang các phân hệ khác như đặt hàng, bán hàng…Với thiết kế mở rộng của các hãng
phần mềm, MRP có thể hỗ trợ cả môi trường sản xuất lắp ráp giản đơn (Discrete
Manufacturing) và cả môi trường sản xuất chế biến phức tạp (Process Manufacturing).
Phân hệ sản xuất sẽ giúp cải tiến và kiểm soát quy trình sản xuất tốt hơn.
Ngoài chức năng MRP, các chức năng khác của module quản lý sản xuất là
quản trị giá thành sản xuất (Costing), quản lý định mức nguyên vật liệu (Bill of
Material – BOM). Đánh giá chung của doanh nghiệp trong quá trình triển khai ERP
cho thấy, phân hệ sản xuất (Manufacturing) được xem là phân hệ khó, phức tạp và
tốn nhiều thời gian nhất khi đưa vào ứng dụng. Trên thực tế mỗi đơn vị sản xuất đều
có một quy trình riêng biệt, chính vì vậy phân hệ quản lý sản xuất được chia thành
các nhóm khác nhau như: Sản xuất liên tục hay sản xuất phức hợp, sản xuất rời rạc
hay sản xuất đơn, sản xuất theo dự án. Do đó tùy thuộc vào lựa chọn của doanh
nghiệp về hệ thống ERP, phân hệ quản lý sản xuất của hệ thống ERP cũng có những
khác biệt theo đặc thù của lĩnh vực sản xuất. Các đơn vị đã ứng dụng ERP vào sản
xuất tại Việt Nam cho thấy do mỗi đơn vị sản xuất đều có đặc thù riêng nên việc
đầu tiên mà hệ thống cần đáp ứng là phần khai báo linh hoạt với bộ tham số tiện
dụng để ứng dụng trong các đặc thù sản xuất đó.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 19 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Lĩnh vực quản lý sản xuất đòi hỏi hệ thống phải xác định được việc lập kế hoạch
sản xuất, tính toán thời gian sản xuất, hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu, tính giá
thành kế hoạch…Để làm được điều này, phân hệ sản xuất trong hệ thống ERP yêu
cầu người sử dụng khai báo định mức nguyên vật liệu (BOM) và quy trình sản xuất
(Routing), đồng thời phải khai báo được lịch sản xuất, năng lực sản xuất bao gồm
các nguồn lực như nhân công, máy móc, công cụ sản xuất, thời gian, chi phí…Vì
chính các yếu tố được khai báo ở đây là cơ sở để tính toán các chỉ tiêu lập kế hoạch
sản xuất nói trên. Đối với những đơn vị sản xuất có hệ thống định mức nguyên vật
liệu phức tạp, ví dụ sản xuất theo đơn đặt hàng, mỗi đơn hàng cần khai báo một
BOM khác nhau, thì rất cần sự tư vấn của các đơn vị tư vấn triển khai có kinh
nghiệm để không biến việc nhập số liệu trở thành sự cản trở của mặt thời gian đối
với sản xuất. Để kế hoạch sản xuất được tối ưu, kế hoạch này cần phải tính toán
được ngày bắt đầu sản xuất, đáp ứng được các yêu cầu về giao hàng, và năng lực
sản xuất. Riêng các doanh nghiệp có nhiều chi nhánh hoặc nhà máy cách xa nhau,
hệ thống ERP cần lập kế hoạch sản xuất ở mức tổng thể để có được kế hoạch điều
hành, tận dụng các nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả nhất.
Sau khi đã xây dựng được kế hoạch sản xuất, hệ thống cần xác định được nhu
cầu nguyên vật liệu để đáp ứng được kế hoạch sản xuất đó, vì vậy hệ thống phải có
khả năng tổng hợp được thông tin từ nhiều nguồn khác như định mức nguyên vật
liệu, các đơn đặt hàng cho nhà cung cấp đang trên đường về kho, các lệnh sản xuất
đang dang dở, số liệu tồn kho nguyên vật liệu, thời gian cung ứng vật tư…để tính ra
được số lượng nguyên vật liệu cần mua thêm. Việc xây dựng kế hoạch sản xuất và
kế hoạch đặt hàng là kết quả của chức năng MRP trong phân hệ quản lý sản xuất
của hệ thống ERP.
Đối với việc quản lý quá trình sản xuất sau khi đã xây dựng được kế hoạch sản
xuất, hệ thống ERP cần đáp ứng được các chức năng như theo dõi tiến độ sản xuất
của từng lệnh sản xuất, của từng lô sản xuất, thống kê và ghi nhận tiêu hao nguyên
vật liệu, thời gian, chi phí, nhân công, ghi nhận lượng bán thành phẩm và thành
phẩm tại từng công đoạn cho từng lệnh sản xuất, từng đơn hàng. Đây cũng là cơ sở
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 20 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
cho việc tính giá thành sản xuất, và phân tích lượng nguyên vật liệu tiêu hao để tính
toán hiệu quả sản xuất. Hiện nay đa phần các doanh nghiệp ứng dụng phương pháp
tính giá thành bình quân cuối kỳ, do đó phân hệ quản lý sản xuất cần cho phép
doanh nghiệp khai báo và tính giá thành sản xuất theo kế hoạch thông qua các định
mức nguyên vật liệu trước khi sản xuất. Trong quá trình sản xuất phân hệ quản lý
sản xuất cần cho doanh nghiệp biết tương đối chính xác giá thành sản xuất tại bất kỳ
thời điểm nhập kho nào, đến cuối kỳ hệ thống sẽ hỗ trợ doanh nghiệp tính lại giá
thành thực tế trong kỳ cho từng đơn hàng hay tổng thể cả kỳ. Bên cạnh đó hệ thống
cũng cần mở rộng quản lý đến một số khả năng khác như: quản lý chất lượng, hỗ
trợ việc nghiên cứu phát triển sản phẩm mới thông qua các quá trình sản xuất thử.
Hình 1.4: Ví dụ về quy trình sản xuất
Phân hệ Quản trị nhân sự –Human Resources giúp doanh nghiệp quản lí
hiệu quả nguồn nhân lực của mình. Các hệ thống ERP cung cấp các công cụ để gắn
người lao động với các mục tiêu của tổ chức, hỗ trợ tất cả các nghiệp vụ quản lí
nhân viên, tuyển dụng, đào tạo, lương… Các chức năng chính là chấm công tính
lương (Time attendance and Payroll), đào tạo (Training), hợp đồng (Contract),
tuyển dụng (Recruirement) …
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 21 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Trên đây là các phần giới thiệu các phân hệ chính của một hệ thống ERP và
cơ chế hoạt động của các phân hệ đó, cần nhấn mạng rằng, tất cả các phân hệ trên
không phải là các phần mềm chức năng riêng lẻ mà là các phân hệ của một hệ thống
ERP hoàn chỉnh, và chỉ khai thác được hết các tính năng ưu việt của hệ thống khi
được triển khai tất cả các phân hệ quan trọng do là dữ liệu từ các phân hệ được kết
nối xuyên suốt. Tuy nhiên, mỗi phân hệ đều đảm nhận các chức năng riêng, do đó
doanh nghiệp có thể lựa chọn triển khai từng phân hệ của hệ thống ERP cho phù
hợp với quy mô và khả năng của doanh nghiệp. Ngoài các phân hệ ERP ở trên, các
hệ thống ERP hiện đại đều có thể mở rộng triển khai cùng với các hệ thống khác
như Quản lý quan hệ khách hàng (CRM) và Quản lí dây chuyền cung ứng (SCM).
1.4. Ưu điểm, nhược điểm và phạm vi ứng dụng của hệ thống ERP
Hiện nay tại các doanh nghiệp tại Việt Nam tồn tại rất nhiều phương thức
quản lý doanh nghiệp khác nhau tùy thuộc vào quy mô và lĩnh vực hoạt đông. Đa
số các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và sản xuất nhỏ lẻ thường chỉ sử dụng phần
mềm kế toán dạng đơn giản để xử lý các công tác có liên quan đến lĩnh vực kế toán,
các nghiệp vụ khác như kinh doanh hay quản lý sản xuất chỉ được bằng các file
bảng tính (excel). Tại các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn, ngoài phần mềm kế
toán là phần mềm phổ biến nhất nhằm đáp ứng các yêu cầu về kế toán và thuế
theo quy định của nhà nhà nước, các doanh nghiệp tầm cỡ này đã đầu tư xây dựng
các phần mềm quản lý hoạt động mua bán, quản lý sản xuất hay quản lý kho. Tuy
nhiên các phần mềm chức năng này lại hoạt động độc lập với các cơ chế xử lý dữ
liệu riêng biệt. Do đó, việc khớp nối dữ liệu và đối chiếu, kiểm tra chéo kết quả xử
lý của các phần mềm này không được tự động hóa mà cần các thao tác thủ công.
Đồng thời với việc sử dụng các bảng tính và phần mềm chức năng đơn thuần, việc
bảo mật dữ liệu hầu như không được các doanh nghiệp tại Việt nam hiện nay quan
tâm đến.
Tại các doanh nghiệp có quy mô lớn và nhiều chi nhánh, các phần mềm chức
năng này lại được cài đặt tại từng chi nhánh, như vậy lượng thông tin cũng như quá
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 22 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
trình cập nhật dữ liệu đã bị nhân lên rất nhiều. Đồng thời với việc sử dụng các phần
mềm độc lập, các doanh nghiệp còn phải đầu tư hạ tầng CNTT riêng biệt để phục
vụ cho các phần mềm này. Chưa tính đến những khó khăn trong quá trình bảo trì
bảo dưỡng hệ thống và sử dụng nhiều phần mềm cùng lúc, việc tổng hợp thông tin
từ nhiều phần mềm độc lập để xây dựng báo cáo tổng hợp cho toàn bộ doanh nghiệp
mất nhiều thời gian, do đó ban lãnh đạo doanh nghiệp khó có đủ thông tin để đưa ra
các quyết định tức thời.
Như đã trình bày trong phần cơ sở lý thuyết, một hệ thống ERP điển hình là
một hệ thống tích hợp đa phân hệ, bao trùm toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.
Kể cả đối với các doanh nghiệp lớn có nhiều chi nhánh, toàn bộ cơ sở dữ liệu của hệ
thống ERP đều được tích hợp trên một cơ sở dữ liệu thống nhất. Như vậy so với các
phương thức quản lý cũ, hệ thống ERP đã khắc phục được những nhược điểm như
dữ liệu phân tán hay các khó khăn trong việc xây dựng các báo cáo tổng hợp. Hệ
thống ERP giúp các nhà quản lý dễ dàng tiếp cận các thông tin quản trị để có thể
đưa ra các quyết định dựa trên cơ sở có đầy đủ thông tin hỗ trợ ra quyết định. Nếu
không có hệ thống ERP, một cán bộ quản lý cấp cao phải dựa vào nhiều phần mềm
độc lập hoặc tổng hợp từ nhiều báo cáo độc lập để có được thông tin cần thiết dùng
cho việc phân tích tình hình tài chính và hoạt động của công ty. Ngoài ra, hệ thống
ERP tập trung các dữ liệu từ mỗi phân hệ vào một cơ sở quản lý dữ liệu chung giúp
cho các phân hệ riêng biệt có thể chia sẻ thông tin với nhau một cách dễ dàng. Hơn
nữa, hệ thống ERP không chỉ thu thập và xử lý khối lượng lớn các giao dịch hàng
ngày, mà còn nhanh chóng lập ra các phân tích phức tạp và các báo cáo đa dạng.
Phần mềm kế toán hay phân hệ kế toán của hệ thống ERP giúp các công ty giảm bớt
những sai sót mà nhân viên thường mắc phải trong cách hạch toán do các bút toán
đã được thiết lập tự động ngay khi phát sinh các giao dịch tại các phân hệ khác thay
vì nhập bằng tay vào phần mềm kế toán độc lập thông qua các giấy tờ. Phân hệ kế
toán cũng giúp các nhân viên kiểm toán nội bộ và các cán bộ quản lý cao cấp kiểm
tra tính chính xác của các tài khoản. Việc kết nối dữ liệu giữa các phân hệ mua
hàng, bán hàng, quản lý kho giúp việc lên kế hoạch mua hàng hay bán hàng được
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 23 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
thực hiện một cách dễ dàng, hồi đáp được ngay các yêu cầu của khách hàng. Phân
hệ hoạch định và quản lý sản xuất của hệ thống ERP giúp các công ty tối ưu được
các nguồn lực phục vụ sản xuất kinh doanh thông qua việc lập kế hoạch nguyên vật
liệu và kế hoạch sản xuất một cách hiệu quả và tối ưu về chi phí.
Đồng thời với việc sử dụng hệ thống ERP, các quy trình sản xuất kinh doanh
và các quy trình nội bộ cũng được minh bạch hóa và phân chia trách nhiệm rõ ràng
cho các tác nghiệp hàng ngày tại doanh nghiệp. Các hệ thống ERP hiện nay đều cho
phép ghi nhận các truy cập và thao tác của từng người sử dụng trên hệ thống, cũng
như phân quyền sử dụng cho từng người dùng, cho phép đảm bảo an toàn dữ liệu
cho doanh nghiệp.
Những lợi ích mà hệ thống ERP mang lại cho doanh nghiệp đã được khẳng
định, tuy nhiên đầu tư cho một hệ thống ERP rất tốn kém cả về hệ thống và cơ sở hạ
tầng công nghệ thông tin như máy chủ, máy tính, mạng dữ liệu so với việc đầu tư
các phần mềm riêng lẻ. Do đó, đa phần các doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn ứng
dụng các phương thức quản lý cũ, thủ công nhằm tiết kiệm chi phí chứ không đầu
tư triển khai hệ thống ERP bài bản ngay từ ban đầu. Chỉ đến khi các phương thức
quản lý cũ không thể đáp ứng được với nhu cầu quản lý và hoạt động của doanh
nghiệp, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp mới tính đến việc chuyển đổi phương thức
quản lý và ứng dụng ERP tại doanh nghiệp.
Bên cạnh bài toán chi phí đầu tư, hệ thống ERP cũng bộc lộ nhiều khiếm
khuyết và không thể áp dụng một cách tùy tiện vào mọi loại hình doanh nghiệp.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế biến chuyển liên tục, các doanh nghiệp sản
xuất cũng vấp phải nhiều khó khăn như thiếu nguyên vật liệu đầu vào, hàng tồn kho
nhiều, không kiểm soát và dự báo được giá cả. Phân hệ quản lý sản xuất, lập kế
hoạch sản xuất của hệ thống ERP dựa trên bộ các thông số đầu vào cố định để lên
kế hoạch sản xuất từ ngắn hạn đến dài hạn cho doanh nghiệp. Kết quả của việc lập
kế hoạch dựa trên ERP là các gợi ý có tính tương đối chính xác với điều kiện bộ
tham số đầu vào có tính ổn định. Tuy nhiên, các tham số đầu vào như giá mua
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 24 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
nguyên vật liệu, thời gian giao hàng nguyên vật liệu, hay số lượng đơn đặt hàng dự
kiến là những tham số mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được và có tính biến
đổi liên tục, do đó nếu doanh nghiệp dựa hoàn toàn vào kết quả lập kế hoạch của hệ
thống ERP sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, bộ các thông số trong phân hệ quản lý sản xuất của hệ thống ERP không
linh hoạt để phù hợp với những phát sinh thực tế trong sản xuất.
Như vậy, hệ thống ERP có thể phát huy hiệu quả cao khi được vận hành
trong môi trường hoạt động ổn định, các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào môi
trường kinh doanh bên ngoài cần cân nhắc và vận dụng linh hoạt khi ứng dụng hệ
thống ERP.
1. 5. Giới thiệu các hệ thống ERP đang triển khai và ứng dụng tại Việt Nam
Như đã giới thiệu tại phần trên, thị trường triển khai ERP trên thế giới có sự
góp mặt của rất nhiều tên tuổi lớn trong ngành công nghệ phần mềm như SAP,
Oracle, Microsoft...Việt Nam là một trong những nền kinh tế mới nổi ở Châu Á, thu
hút được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư nước ngoài cùng với sự phát triển lớn
mạnh của các doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp đã và đang chú trọng đầu
tư vào CNTT và các hệ thống thông tin quản lý, chính vì vậy Việt Nam là một thị
trường tiềm năng đối với các công ty chuyên cung cấp các giải pháp ERP trên thế
giới. Bên cạnh đó, các hãng phần mềm trong nước cũng đã nghiên cứu và thiết kế
các giải pháp ERP nội địa, càng làm phong phú thêm thị trường các giải pháp ERP
tại Việt Nam.
1.5.1. Ưu và nhược điểm của các hệ thống ERP nước ngoài
Trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay có rất nhiều giải pháp ERP nổi tiếng
và được ứng dụng rộng rãi tại nhiều doanh nghiệp. Ngoài các phần mềm chuyên
dụng cho các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh đặc thù, các phần mềm ERP
được chia thành nhiều phân khúc theo quy mô doanh nghiệp, doanh thu hay số
lượng nhân viên. Theo nghiên cứu của Gartner về thị trường ERP trên thế giới trong
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 25 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
năm 2009, hãng SAP đang chiếm thị phần lớn nhất trong cả hai phân khúc triển
khai ERP tại các doanh nghiệp lớn, và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp đến là
phần mềm ERP của các hãng Oracle và Microsoft, và tại mỗi phân khúc thị trường,
các hãng đều có những phải pháp tương ứng với quy mô doanh nghiệp.
Hình 1.5: Thị phần của các hãng cung cấp giải pháp ERP trên thế giới
Cụ thể, tại Việt Nam các giải pháp của hãng SAP về ERP được biết đến với
ba giải pháp SAP Business One (SAP B1), SAP Business All in One và SAP R/3.
SAP B1 là giải pháp được thiết kế dành riêng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(small and medium sizes enterprise – SMEs) , hệ thống được thiết kế gồm 15 phân
hệ chức năng phục vụ cho các nhu cầu quản lý và vận hành của bất cứ doanh nghiệp
nào như: bán hàng, mua hàng, kho bãi, sản xuất, tài chính, dịch vụ, …
SAP Business All in One cũng là một giải pháp dành cho các doanh nghiệp
SMEs, ngoài việc bao gồm đầy đủ các chức năng phục vụ mục đích quản lý và vận
hành của doanh nghiệp, hệ thống còn được tích hợp các hoạt động quan trọng khác
của doanh nghiệp trong một giải pháp tổng thể đó là quản trị quan hệ khách hàng
(Customer Relationship – CRM), quản trị quan hệ với nhà cung cấp (Supplier
Relationship Management – SRM)…
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 26 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
SAP R/3 là giải pháp dành cho các doanh nghiệp cỡ lớn, hệ thống được thiết
kế nhằm định hướng toàn bộ các nguồn lực, thông tin cũng như hoạt động của
doanh nghiệp để phục vụ hoạt động của doanh nghiệp với nhiều chi nhánh, sử dụng
nhiều loại ngoại tệ và đa ngôn ngữ. SAP R/3 cũng được thiết kế dưới dạng các phân
hệ chức năng như Tài chính, kiểm soát (Financials and Controlling – FICO), Quản
lý nhân sự (Human Resource Management), Quản lý nguyên liệu (Material
Management) và lập kế hoạch sản xuất (Production Planning).
Giải pháp của hãng Oracle chú trọng đến các quan hệ dữ liệu liên kết giữa
các phân hệ dựa trên nền tảng cơ sở dữ liệu thống nhất vì vậy các giải pháp của
hãng Oracle thường được ứng dụng tại các doanh nghiệp có quy mô lớn, triển khai
đồng bộ nhiều phân hệ chức năng và có tính tương thích cao với các phần mềm
chức năng riêng lẻ trên nền cơ sở dữ liệu của Oracle có sẵn của doanh nghiệp.
Tương ứng với quy mô doanh nghiệp, Oracle cũng có các giải pháp phù hợp như
giải pháp Oracle E- Business, Oracle E-Business Suite. Trong đó Oracle E-Business
bao gồm các phân hệ tài chính (Oracle Financials), Sản xuất (Oracle
Manufacturing), Nhân sự (Oracle HR)…Khi được triển khai tại doanh nghiệp, các
phân hệ này có thể được triển khai trên nền web, vì vậy hỗ trợ rất lớn cho người
dùng truy cập qua mạng Internet hay mạng nội bộ của doanh nghiệp. Ngoài ra,
Oracle còn có giải pháp Oracle E-Business Suite, là giải pháp kết hợp các tính năng
sẵn có và các tính năng được phát triển nhờ việc mua bán sát nhập của Oracle với
các hãng phần mềm khác, bên cạnh đó Oracle cũng vẫn phát triển các các giải pháp
ERP chuyên dụng cho các ngành công nghiệp khác nhau do Oracle mua lại của các
hãng khác là People Soft, Siebel System…
Về các giải pháp ERP của hãng Microsoft, tuy phát triển sau các đối thủ cạnh
tranh trực tiếp khác như SAP hay Oracle, nhưng giải pháp ERP Microsoft Dynamic
đã nhanh chóng được giới thiệu và biết đến trên thị trường giải pháp ERP nhờ tính
thân thiện và gần gũi, dễ dàng tương thích với các nhóm phần mềm văn phòng của
Microsoft. Giải pháp ERP của Microsoft bao gồm hai nhánh phần mềm chính là
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 27 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Microsoft Dynamic ERP và Microsoft Dynamics CRM. Trong đó, Microsoft
Dynamic ERP là hệ thống giải pháp được thiết kế dành cho các doanh nghiệp cỡ
vừa hay các chi nhánh, phòng ban của các tập đoàn lớn. Đây là một giải pháp rất
phong phú, được ứng dụng trên nhiều lĩnh vực chuyên biệt cho xây dựng, phân
phối, giáo dục, dịch vụ tài chính, chính phủ, chăm sóc sức khỏe, sản xuất, dịch vụ
vận tải đường bộ, dịch vụ vận tải tàu biển, bán lẻ….
Hiện nay các giải pháp ERP nổi tiếng thế giới như SAP, Oracle…đều đã có
mặt tại Việt Nam dưới sự tư vấn và triển khai của các đối tác tại Việt Nam. Ngoài
chi phí bản quyền phần mềm rất cao, chi phí cho nhà tư vấn triển khai hệ thống,
doanh nghiệp còn phải đầu tư để thích ứng với các hệ thống ERP của nước ngoài,
được thiết kế và xây dựng theo các tiêu chuẩn quốc tế.
Bảng dưới đây là so sánh của hãng tư vấn Panorama (Mỹ) với hơn 1300
doanh nghiệp đã triển khai ERP trên toàn cầu trong các năm từ 2006 đến 2010 về
chi phí của doanh nghiệp khi triển khai ERP tại các doanh nghiệp cỡ vừa và lớn.
Bảng 1.2 : Bảng so sánh chi phí triển khai các hệ thống ERP nước ngoài
1.5.2. Ưu và nhược điểm của các giải pháp ERP do Việt Nam xây dựng
Cùng với sự phát triển của ngành công nghệ phân mềm trong nước, nhiều
doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đã thiết kế và xây dựng các giải pháp ERP nội
địa phục vụ nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp Việt Nam. Các giải pháp này với
có ưu điểm như phù hợp với chuẩn mực kế toán và ngôn ngữ giao tiếp tiếng Việt.
Đồng thời, các giải pháp này có đặc điểm thiết kế thân thiện và giao diện tiếng Việt
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 28 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
dễ dàng áp dụng với các doanh nghiệp Việt Nam. Các phần mềm ERP do doanh
nghiệp Việt Nam thiết kế và phát triển cũng đang từng bước hoàn thiện, như Hệ
thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp Effect ERP, Hệ thống thông tin quản lý
doanh nghiệp PERP, Giải pháp tổng thể quản trị doanh nghiệp Fast Business, Hệ
thống phần mềm quản trị doanh nghiệp tổng thể 3S ERP.
Điểm khác biệt lớn nhất của các hệ thống ERP do Việt Nam phát triển là
xuất phát hệ thống là thường được xây dựng và phát triển từ nền tảng phần mềm kế
toán, tuân theo bộ quy tắc kế toán Việt Nam (Vietnam Accounting Standard- VAS),
từ đó phát triển các phân hệ đặc thù khác như phân hệ mua hàng, bán hàng… Đây là
hướng tiếp cận giải pháp ERP phù hợp với các doanh nghiệp thương mại vừa và
nhỏ, tuy nhiên khi ứng dụng tại các doanh nghiệp có yêu cầu cao về quản lý sản
xuất thì việc ứng dụng các giải pháp do Việt Nam phát triển chưa thực sự đáp ứng
được yêu cầu của doanh nghiệp.
Đứng trên quan điểm chi phí, các giải pháp trong nước có ưu điểm là chi phí
bản quyền và chi phí tư vấn triển khai rất rẻ so với các giải pháp nước ngoài cùng
quy mô, đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ với chi phí đầu tư ít.
Một thuận lợi nữa của các doanh nghiệp khi lựa chọn các giải pháp ERP trong nước
là khả năng tùy biến rất cao, có khả năng mở rộng thêm các chức năng nằm ngoài
cấu hình chuẩn của hệ thống, thêm bớt các trường dữ liệu hay thay đổi quy trình của
hệ thống cho phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp, từ đó tiết kiệm thời gian và
công sức cho doanh nghiệp khi đưa hệ thống vào vận hành thực tế.
1.6. Quy trình triển khai hệ thống ERP tại các doanh nghiệp
Hiện nay, hầu như tất cả các gói giải pháp ERP trong và ngoài nước đều
được nhà xây dựng giải pháp đi kèm cùng với bộ hướng dẫn quy trình triển khai chi
tiết từ khâu lấy yêu cầu của khách hàng đến khâu hỗ trợ sau triển khai. Tuy nhiên,
để tiết kiệm chi phí và thời gian, nhiều đơn vị tư vấn đã bỏ bớt các công đoạn trong
bộ quy trình triển khai dẫn đến những khó khăn khi ứng dụng hệ thống và ảnh
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 29 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
hưởng đến kết quả của toàn bộ hệ thống. Vì vậy, các doanh nghiệp và đơn vị tư vấn
triển khai cần đảm bảo thực hiện từng bước như trong bộ tài liệu hướng dẫn của các
hãng giải pháp. Nhìn chung, quy trình triển khai hệ thống ERP tại doanh nghiệp có
thể được tóm tắt thành các bước như được trình bày tại phần dưới đây.
1.6.1. Tư vấn tiền giải pháp
Hoạt động tư vấn tiền giải pháp là hoạt động rất quan trọng, quyết định sự
thành bại của một dự án, tại Việt Nam cũng chưa có các đơn vị chuyên làm công tác
tư vấn tiền giải pháp. Hiện nay, các giải pháp ERP vô cùng phong phú về quy mô,
và chủng loại. Doanh nghiệp không đủ chuyên môn để đánh giá được giải pháp nào
phù hợp với quy mô và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, dịch vụ tư vấn tiền giải
pháp chính là dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp lựa chọn được giải pháp hoặc
một nhóm các giải pháp tương đối phù hợp với loại hình kinh doanh, quy mô và và
các khả năng đầu tư của doanh nghiệp.
Tuy rất đa dạng, nhưng các hệ thống ERP nói chung được chia thành 2 phân
khúc: giải pháp cho các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp cỡ lớn và giải pháp
dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong mỗi phân khúc này lại có các nhóm
nhỏ hơn như nhóm giải pháp cho các công ty thương mại, nhóm các giải pháp cho
các công ty sản xuất. Bên cạnh việc phân chia các giải pháp ERP theo quy mô và
loại hình kinh doanh, các giải pháp ERP còn được phân chia theo nhóm ngành nghề
như các giải pháp cho ngành công nghiệp ô tô, nhóm giải pháp cho ngành công
nghiệp dệt may hay lắp ráp điện tử. Các đơn vị tư vấn tiền giải pháp sẽ tư vấn và
giúp định hình nhóm giải pháp phù hợp với doanh nghiệp, việc tư vấn tiền giải pháp
còn giúp bản thân doanh nghiệp đánh giá lại được kỳ vọng và nhu cầu thực tế của
doanh nghiệp khi ứng dụng ERP. Trên thế giới, việc tư vấn tiền giải pháp là một
bước quan trọng trong toàn bộ dự án, vì vậy doanh nghiệp thường lựa chọn các đơn
vị tư vấn tiền giải pháp độc lập với các đơn vị tư vấn triển khai thực hiện, do đó kết
quả tư vấn tiền giải pháp sẽ độc lập, có tính khách quan và có hiệu quả cao nhất.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 30 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Tại Việt Nam, các đơn vị tư vấn triển khai thường kiêm luôn công tác tư vấn
tiền giải pháp, tuy nhiên các đơn vị tư vấn triển khai chỉ chuyên triển khai một
nhóm các giải pháp của một hãng như của hãng Oracle, hay SAP do đó không có
thông tin đầy đủ về các giải pháp khác, không thể giới thiệu được những lựa chọn
khác cho khách hàng ngoài những giải pháp của các hãng đó. Quá trình tư vấn tiền
giải pháp thường do các lãnh đạo của doanh nghiệp làm việc trực tiếp với đơn vị tư
vấn dựa trên các thông tin cơ bản về quy mô đầu tư, năng lực tài chính của doanh
nghiệp và các chức năng cần thiết của hệ thống.
1.6.2. Tư vấn triển khai giải pháp
Sau bước tư vấn tiền giải pháp, doanh nghiệp đã có hình dung và lựa chọn
về giải pháp với các phân hệ chức năng cụ thể MRP, kế toán…Bước tiếp theo của
dự án là bước tư vấn triển khai giải pháp. Doanh nghiệp sẽ cùng ngồi làm việc với
đơn vị tư vấn triển khai để làm rõ quy trình vận hành sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và lấy yêu cầu của đội ngũ lãnh đạo đối với các quy trình này. Điểm thuận
lợi của đơn vị tư vấn là tại bước tư vấn này, tất cả các hãng giải pháp lớn trên thế
giới đều đã có bộ quy trình lấy yêu cầu của khách hàng theo chuẩn của hãng giải
pháp, do đó quá trình lấy yêu cầu của doanh nghiệp được tập trung, khai thác dữ
liệu và quy trình hoạt động của doanh nghiệp theo các hướng xác định mà nhà cung
cấp giải pháp cần khi triển khai. Quá trình tư vấn giải pháp đã có các bộ tài liệu
hướng dẫn từ hãng cung cấp, tuy nhiên hiệu quả của quá trình tư vấn này còn phụ
thuộc vào trình độ của tư vấn viên, những người trực tiếp làm việc với nhân viên
thuộc các bộ phận khác nhau của một doanh nghiệp.
Trước hết, tư vấn viên phải là người hiểu biết sâu sắc về giải pháp mà mình
tư vấn, thứ hai tư vấn viên phải là người có hiểu biết rộng về các loại hình sản xuất
và kinh doanh của khách hàng, bên cạnh đó, với các chức năng có tính chuyên biệt
như kế toán, tư vấn viên còn phải có hiểu biết về các quy định kế toán thuế theo tiêu
chuẩn Việt Nam. Tư vấn viên có kinh nghiệm sẽ dễ dàng nhận định được những
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 31 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
điểm khác biệt giữa quy trình của khách hàng với quy trình vận hành của giải pháp,
từ đó dung hòa được giữa yêu cầu của khách hàng và khả năng đáp ứng của hệ
thống. Tuy nhiên như đã giới thiệu ở các phần trên, với giải pháp dạng đóng gói rất
khó để can thiệp vào hoạt động của hệ thống, hơn nữa ERP không phải là giải pháp
được xây dựng theo yêu cầu của từng doanh nghiệp, do đó tư vấn viên cần làm rõ
các điểm doanh nghiệp phải thay đổi cho phù hợp với hệ thống. Để thuyết phục
được khách hàng, tư vấn viên cũng phải nêu rõ những điểm ưu việt trong quy trình
của hệ thống để bản thân doanh nghiệp ý thức được sự thay đổi sẽ mang đến cho
doanh nghiệp những lợi ích thiết thực trong quản lý và vận hành.
Quá trình tư vấn giải pháp là quá trình phức tạp và đòi hỏi sự hợp tác cao của
bên tư vấn và doanh nghiệp. Về phía doanh nghiệp, tất cả các phòng ban có liên
quan đến hệ thống đều phải tham gia trong quá trình này. Cụ thể những nhân viên
đang trực tiếp tham gia sản xuất kinh doanh hay những nhân viên sẽ trực tiếp sử
dụng hệ thống là những người cần hiểu rõ hơn ai hết về việc sử dụng hệ thống, là
người trực tiếp trao đổi với tư vấn viên và nêu ra những khó khăn khúc mắc mà quy
trình hiện hành đang gặp phải. Thành bại của một dự án ERP được quyết định tại
bước tư vấn triển khai giải pháp, nếu không tìm được điểm chung và dung hòa yêu
cầu của doanh nghiệp và khả năng của giải pháp, chắc chắn dự án sẽ không thành
công, gây lãng phí thời gian công sức của doanh nghiệp.
1.6.3. Triển khai hệ thống
Sau bước tư vấn tiền giải pháp và tư vấn giải pháp, về cơ bản đội ngũ lãnh
đạo doanh nghiệp và nhân viên đã có những hiểu biết về hệ thống về mặt nguyên lý
vận hành. Bước triển khai hệ thống sẽ hiện thực hóa những nguyên lý vận hành đó
vào thực tế doanh nghiệp về mặt kỹ thuật. Trước hết, dựa trên những kết quả thu
thập được từ quá trình tư vấn giải pháp, đơn vị tư vấn và tư vấn viên phải có sự
chuẩn bị về mặt kỹ thuật như xây dựng cơ sở dữ liệu gồm các trường dữ liệu cần
thiết (data preparation), đưa vào hệ thống các tùy biến (customization), hệ thống tài
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 32 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
khoản kế toán (account chart) các báo cáo (customized report) theo yêu cầu của
doanh nghiệp và kiểm thử hoạt động của hệ thống (system testing). Về phía doanh
nghiệp, để chuẩn bị triển khai hệ thống cần chuẩn bị hạ tầng công nghệ thông tin
như thiết lập mạng nội bộ (LAN Local area network), chuẩn bị máy chủ hệ thống
(ERP application server), bộ lưu trữ dữ liệu (Data Storage), bộ sao lưu dữ liệu (data
backup machine), máy trạm vận hành (ERP application workstation), máy in hay
máy in mạng (network printer), với các doanh nghiệp có nhiều cơ sở nhiều nhà máy
tại nhiều điểm cần chuẩn bị kết nối qua mạng riêng ảo (VPN virtual private
network). Về quan điểm đầu tư, doanh nghiệp khi đầu tư xây dựng hệ thống ERP
không hỉ đầu tư vào bản thân hệ thống, mà doanh nghiệp cần quan tâm đầu tư về hạ
tầng công nghệ thông tin làm nền tảng cho hệ thống vận hành an toàn, thông suốt.
Khi sự chuẩn bị từ hai phía hoàn tất, đơn vị triển khai sẽ cử kỹ thuật viên đến
doanh nghiệp cài đặt hệ thống lên cơ sở phần cứng của doanh nghiệp, đây đơn
thuần là công tác kỹ thuật trong quá trình triển khai. Để đưa hệ thống vào vận hành
thực tế, đơn vị tư vấn và doanh nghiệp cần chuẩn bị dữ liệu đưa vào hệ thống, đây
là bộ thông số ban đầu của hệ thống như thông số về kho, thông số về đơn đặt hàng
hiện tại, thông số về sản xuất như đang sản xuất cái gì, sản xuất được bao nhiêu,
trên hiện trường sản xuất đang có những vật liệu nào…các thông số về kế toán như
số dư tài khoản, tiền mặt….tại thời điểm hiện tại. Bộ thông số ban đầu (initial data)
cũng được đơn vị triển khai khai thác từ doanh nghiệp theo các bộ mẫu lấy dữ liệu
có sẵn để quá trình này tiết kiệm thời gian và hiệu quả. Đến đây có thể nói là quá
trình chuẩn bị đã hoàn tất, doanh nghiệp cũng đã sẵn sàng đưa hệ thống vào vận
hành thực tế.
Bước tiếp theo của quá trình triển khai là giai đoạn đào tạo, đơn vị triển khai
sẽ cung cấp các khóa đào tạo ngắn hạn và đào tạo kết hợp thực tế cho nhân viên hay
còn gọi là chuyển giao công nghệ. Mục đích chính của các khóa đào tạo này là giới
thiệu thực tế các quy trình cũ của doanh nghiệp sẽ tương ứng với các chức năng của
hệ thống như thế nào, và cách thức vận hành hệ thống trên máy tính. Thời điểm
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 33 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
chính thức vận hành hệ thống là thời điểm tất cả các bộ phận có liên quan đến hệ
thống chính thức chuyển đổi quy trình hiện tại sang sử dụng hệ thống. Dữ liệu ban
đầu được thiết lập trong hệ thống là dữ liệu của tất cả các phòng ban chức năng tại
thời điểm chuyển tiếp từ quy trình hiện tại sang hệ thống, do đó khi phát sinh bất cứ
nghiệp vụ gì mới tại thời điểm sau khi chuyển tiếp, các bộ phận phòng ban chức
năng phải cập nhật đầy đủ vào hệ thống để đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu xét
trên quy mô toàn doanh nghiệp. Điểm cần lưu ý nhất trong quá trình vận hành hệ
thống là hệ thống ERP là hệ thống tích hợp nhiều chức năng có sự trao đổi thông tin
tự động giữa các chức năng, do đó một chức năng bị cập nhật dữ liệu sai sẽ dẫn đến
sự sai sót của toàn bộ hệ thống. Ví dụ, dữ liệu về lượng nguyên vật liệu tồn kho tại
thời điểm ban đầu sai dẫn đến việc kết quả chạy MRP sai, kết quả của MRP sai dẫn
đến các gợi ý đặt hàng sai số lượng hoặc thời điểm, kết quả cuối cùng là nguyên vật
liệu không đủ hoặc không khớp thời điểm để đưa vào sản xuất thực tế. Tất cả các
phòng ban chức năng có liên quan của doanh nghiệp phải ý thức được tầm quan
trọng của sự vận hành hệ thống tại phân hệ chức năng của mình sẽ ảnh hưởng đến
kết quả của toàn bộ hệ thống ERP, tức là ảnh hưởng đến hoạt động của các phòng
ban chức năng khác, và xa hơn nữa là toàn bộ doanh nghiệp.
Trong quá trình triển khai hệ thống, có thể sẽ phát sinh những yêu cầu mới từ
phía nhân viên sử dụng hệ thống. Theo kinh nghiệm của các đơn vị triển khai, yêu
cầu xây dựng các báo cáo chuyên môn và báo cáo tổng thể theo các form mẫu có
sẵn hoặc theo yêu cầu là nhiều nhất. Ưu việt của hệ thống ERP là dữ liệu là một thể
thống nhất xuyên suốt toàn bộ hệ thống, do đó việc chiết xuất dữ liệu để cho ra các
báo cáo rất dễ dàng và thuận lợi. Việc thiết kế các báo cáo theo các khuôn mẫu có
sẵn cũng rất dễ dàng được thực hiện nhờ các công cụ tạo báo cáo chuyên dụng. Với
các báo cáo kế toán theo tiêu chuẩn kế toán của Việt Nam, các giải pháp ERP nước
ngoài không có sẵn các hệ thống báo cáo này mà các đơn vị tư vấn triển khai sẽ xây
dựng các báo cáo tích hợp với hệ thống ERP và cung cấp cho doanh nghiệp trong
quá trình triển khai.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 34 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
1.6.4. Hỗ trợ và bảo trì hệ thống sau triển khai
Hệ thống sau khi đưa vào vận hành chính thức tại doanh nghiệp, tuy nhiên
đối với đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp không tránh khỏi những khó khăn bỡ
ngỡ ban đầu do mới chuyển đổi từ quy trình cũ sang vận hành hệ thống ERP. Thông
thường, các doanh nghiệp ERP sẽ có một nhân viên hoặc một đội nhân viên chuyên
trách hỗ trợ hệ thống tin học, bao gồm hệ thống ERP. Bên cạnh đó, doanh nghiệp
cần ký các hợp đồng hỗ trợ và bảo trì hệ thống với các đơn vị triển khai để đảm bảo
hệ thống được vận hành tốt nhất sau khi triển khai.
Đối với nhiều doanh nghiệp, sau khi đưa hệ thống ERP vào vận hành
thuận lợi đã bỏ qua công tác bảo trì hệ thống sau triển khai nhằm tiết kiệm chi
phí mặc dù chi phí bảo trì hệ thống không lớn so với chi phí đầu tư toàn bộ hệ
thống. Đây là một quan điểm sai lầm rất dễ dẫn đến những sự cố không lường
trước gây ảnh hưởng đến hệ thống. Doanh nghiệp có thể chủ động xây dựng các
đội hỗ trợ sử dụng phần mềm, tuy nhiên doanh nghiệp không thể tự bảo trì được
hệ thống trong việc cập nhật các bản vá lỗi. Trong ngành công nghiệp phần
mềm, việc cung cấp các bản vá lỗi là rất cần thiết nhằm khắc phục các lỗi hệ
thống và bảo mật trong phiên bản phần mềm hiện hành. Trong các hệ thống ERP
dựa trên nền tảng web, nếu không tăng cường tính bảo mật của hệ thống rất dễ
dẫn đến sự rò rỉ các dữ liệu quan trọng của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến các cơ
hội kinh doanh của doanh nghiệp.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 35 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
CHƯƠNG 2
NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC ỨNG DỤNG HỆ THỐNG QUẢN TRỊ
NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP (ERP) TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
2.1. Tổng quan về việc ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam
Hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp hay ERP đã phát triển và được
đưa vào ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới từ những thập kỷ cuối của thế kỷ thứ
20. Đối với bản thân doanh nghiệp, ứng dụng ERP giúp doanh nghiệp chuẩn hóa
quy trình quản lý doanh nghiệp, đưa các quy trình quản lý hiện đại vào sản xuất
kinh doanh nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Song song với các
quy trình làm việc hiện đại, hệ thống ERP còn cung cấp các báo cáo phục vụ mục
đích quản lý kịp thời, hiệu quả trong việc cập nhật tình hình hoạt động và các quyết
định quản trị doanh nghiệp, xóa bỏ khoảng cách địa lý giữa các văn phòng, chi
nhánh, nhà máy của doanh nghiệp tại nhiều địa điểm khác nhau với sự hỗ trợ của hạ
tầng CNTT. Ứng dụng thành công hệ thống ERP còn giúp doanh nghiệp nâng cao
hình ảnh trong con mắt các đối tác kinh doanh và minh bạch hoạt động với các nhà
đầu tư. Bên cạnh đó, việc ứng dụng các giải pháp ERP theo quy chuẩn cũng giúp
cung cấp các thông tin tài chính rõ ràng, tạo niềm tin cho các đối tác trong ngoài
nước trong việc hợp tác kinh doanh.
Lợi ích đối với doanh nghiệp khi ứng dụng hệ thống ERP là rất rõ ràng, đối
với nhà quản lý, khi sử dụng ERP có thể tăng cường khả năng quản lý, giám sát,
điều hành doanh nghiệp kịp thời và thời gian thực, việc sử dụng các công cụ hiện
đại sẽ mở rộng khả năng truy cập thông tin giúp cho các nhà quản lý thực hiện công
việc của mình một cách nhanh chóng, thuận tiện và dễ dàng. Nhà quản lý nắm bắt
kịp thời chính xác tình trạng của doanh nghiệp có thể nâng cao được hiệu quả sản
xuất, kinh doanh, từ đó giảm được giá thành của sản phẩm. Việc ứng dụng hệ thống
ERP giúp nhà quản lý tối ưu được nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nhân lực,
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 36 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
vật lực, tài lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời tăng hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp với chi phí hợp lý và khối lượng công việc phải thực hiện
được giảm tải.
Đối với các nhà quản lý cấp trung, những người trực tiếp vận hành hệ thống,
việc ứng dụng ERP trong doanh nghiệp mang lại tác phong làm việc theo quy trình
công nghiệp, ít sai sót nhầm lẫn, đồng thời giảm thiểu được khối lượng công việc
trên giấy tờ làm tăng năng suất lao động. Đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp được
tăng cường khả năng làm việc nhóm, ý thức được trách nhiệm của mỗi cá nhân
trong một quy trình công việc của cả doanh nghiệp, đồng thời hệ thống cũng yêu
cầu sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cá nhân trong một tập thể để có được kết quả
hoạt động tốt nhất.
Chính vì những lợi ích mà hệ thống ERP mang lại trong quản lý doanh
nghiệp, rất nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam đã đầu tư triển khai ERP theo nhiều
quy mô và mức độ khác nhau. Tuy nhiên các doanh nghiệp không công bố thông
tin, cũng như chưa các cuộc khảo sát chính thức về việc triển khai ERP do đó chỉ có
rất ít các dữ liệu thống kê về tình hình triển khai ERP tại các doanh nghiệp tại Việt
Nam. Đa phần thông tin về các doanh nghiệp đã triển khai ERP tại Việt Nam đều do
các đơn vị tư vấn triển khai ERP công bố dưới dạng danh sách khách hàng mà
không có thông tin chi tiết như thời gian triển khai hay các phân hệ được lựa chọn
triển khai.Đây là một khó khăn rất lớn đối với các doanh nghiệp khi không có thông
tin tham khảo hoặc định hướng khi có nhu cầu tìm hiểu về các giải pháp phù hợp
với doanh nghiệp cũng như cân nhắc việc quyết định triển khai hệ thống ERP.
2.1.1. Khảo sát về việc ứng dụng hệ thống quản trị doanh nghiệp tại các doanh
nghiệp tại Việt Nam về quy mô và thời gian triển khai dự kiến
Nhằm nghiên cứu về tình hình ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp
tại Việt Nam, trong phạm vi của đề tài, tác giả đã thực hiện khảo sát thông qua các
chuyên gia về việc triển khai hệ thống ERP tại bốn mươi nhăm (45) doanh nghiệp
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 37 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
trong nhiều ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh đã và đang triển khai hệ thống ERP
tại Việt Nam. Như đã trình bày, do hạn chế về việc tiếp cận trực tiếp với doanh
nghiệp để thu thập thông tin do các doanh nghiệp từ chối cung cấp, việc thực hiện
khảo sát gặp rất nhiều khó khăn. Đặc biệt nhiều doanh nghiệp không công bố doanh
nghiệp đã thất bại khi ứng dụng hệ thống ERP tuy nhiên nhằm giữ gìn hình ảnh
doanh nghiệp. Khảo sát chủ yếu đề cập và nghiên cứu về các thông tin cơ bản khi
triển khai hệ thống ERP đó là quy mô của dự án, thời gian triển khai dự án và các
chức năng được lựa chọn triển khai.
Bảng câu hỏi, danh sách cá nhân, tổ chức cung cấp thông tin và kết quả của
cuộc khảo sát được trình bày trong phần phụ lục.
Xét về quy mô dự án, dự án ERP thường được các hãng giải pháp như
Oracle, SAP…và các đơn vị tư vấn triển khai chia thành các quy mô là dự án cỡ
lớn, dự án cỡ vừa và dự án cỡ nhỏ, từ đó có sự lựa chọn về giải pháp và lập kế
hoạch triển khai phù hợp theo từng quy mô của doanh nghiệp.
Dự án ERP cỡ lớn là các dự án triển khai ERP cho các doanh nghiệp có quy
mô lớn, triển khai nhiều phân hệ chức năng, gần như bao trùm toàn bộ hoạt động
của doanh nghiệp từ quản lý sản xuất, quản lý kho hàng đến các phân hệ mua hàng,
bán hàng…Các doanh nghiệp cỡ lớn khi triển khai hệ thống ERP thường triển khai
trong toàn bộ hệ thống, tại nhiều chi nhánh công ty thành viên để có sự quản lý nhất
quán và hiệu quả trong toàn bộ doanh nghiệp.
Dự án ERP cỡ vừa được xác định là dự án triển khai hệ thống ERP cho
doanh nghiệp cỡ vừa, bao gồm nhiều phân hệ chức năng, trong đó có các phân hệ
chức năng chủ chốt như sản xuất, tài chính, mua hàng, bán hàng. Một vài doanh
nghiệp tùy theo điều kiện và nhu cầu quản lý thực tế, không triển khai nhiều
phân hệ chức năng mà chọn lọc triển khai một vài phân hệ chức năng cho toàn
bộ doanh nghiệp với nhiều chi nhánh, các dự án ERP dạng này cũng được coi là
một dự án cỡ vừa.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 38 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Ngoài các dự án cỡ lớn và cỡ vừa được xác định theo quy mô triển khai nói
trên là các dự án cỡ nhỏ, các dự án cỡ nhỏ là các dự án ERP triển khai tại các công
ty có quy mô vừa và nhỏ, triển một hoặc một số phân hệ chức năng tại tùy theo yêu
cầu thực tế của doanh nghiệp.
Qua khảo sát tại 45 doanh nghiệp đã và đang triển khai ERP tại Việt Nam
cho thấy, chiếm 22% là các dự án ERP có quy mô lớn. Tiêu biểu cho các dự án cỡ
lớn này là dự án triển khai giải pháp SAP cho Tổng công ty xăng dầu Việt Nam
Petrolimex, Công ty cổ phần giấy Sài Gòn, Công ty may 10…Các đơn vị tư vấn
triển khai ERP cho các dự án cỡ lớn phải là các đơn vị tư vấn có năng lực và kinh
nghiệm phong phú, tại Việt Nam chỉ có một số ít đơn vị tư vấn mạnh như FPT ERP
và PYTHIS có đủ năng lực để tư vấn trong các dự án cỡ lớn. Các dự án ERP cỡ vừa
chiếm tới 62%, tỷ lệ này cũng phản ánh đúng cơ cấu doanh nghiệp tại Việt Nam với
số lượng lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi nền kinh tế phát triển, các doanh
nghiệp cỡ vừa cần nâng cao hiệu quả hoạt động và quản lý doanh nghiệp, từ đó phát
sinh nhu cầu ứng dụng các hệ thống quản lý hiện đại như hệ thống ERP.
Các dự án cỡ nhỏ chỉ chiếm 16%, các dự án ERP cỡ nhỏ được triển khai tại
các doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ, thông thường các doanh nghiêp cỡ vừa và nhỏ chỉ
chọn lọc một vài phân hệ chức năng quan trọng để triển khai nhằm khắc phục các
điểm cò yếu kém trong quản lý và hoạt động của doanh nghiệp như phân hệ kế toán,
phân hệ mua hàng, bán hàng…
Từ kết quả nghiên cứu cũngcho thấy, đa phần các doanh nghiệp đều là doanh
nghiệp lớn và vừa, có năng lực tài chính đầu tư các hệ thống ERP của nước ngoài.
Rất ít các doanh nghiệp lựa chọn các giải pháp ERP trong nước. Hơn nữa, đa số các
doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ của Việt Nam chưa có cơ hội triển khai hệ thống ERP
do chi phí đầu tư cho các giải pháp ERP của nước ngoài quá tốn kém.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 39 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện quy mô của các dự án ERP tại
các doanh nghiệp tại Việt Nam
Bên cạnh quy mô triển khai dự án thì thời gian triển khai dự án cũng là một
yếu tố quan trọng mà doanh nghiệp đặc biệt quan tâm khi triển khai ERP. Một dự
án ERP thường có nhiều giai đoạn bắt đầu từ giai đoạn tư vấn giải pháp đến triển
khai và chuyển giao hệ thống, do đó doanh nghiệp cũng cần phân bố thời gian hợp
lý để vừa đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh vừa bố trí được nhân sự tham gia
dự án. Một dự án ERP thường kéo dài nhiều tháng, những dự án cỡ vừa và lớn có
thể kéo dài từ 1 năm trở lên đến 2 năm, kết quả khảo sát cho thấy số lượng dự án
kéo dài từ 1 năm đến 2 năm chiếm đến 38%. Chính vì vậy các doanh nghiệp khi
nghiên cứu triển khai dự án ERP tại doanh nghiệp của mình cần cân nhắc đến yếu tố
thời gian triển khai dự kiến để vừa đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh vừa đảm
bảo tiến độ dự án.
Thời gian trung bình để triển khai một hệ thống ERP là từ 6 tháng đến 1
năm, số lượng các dự án dạng này chiếm 33% của kết quả khảo sát. Đa phần các dự
án này không triển khai tất cả các phân hệ của hệ thống ERP mà chỉ lựa chọn triển
khai một vài phân hệ ở quy mô vừa và nhỏ. Chiếm số lượng rất ít là các dự án có
thời gian triển khai dưới 6 tháng.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 40 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Hình 2.2: Thời gian triển khai kế hoạch của dự án ERP tại doanh nghiệp
Đáng chú ý trong kết quả khảo sát là 24% các dự án có thời gian triển khai
chưa được xác định rõ. Thông thường ngay khi doanh nghiệp lựa chọn giải pháp và
làm rõ quy mô cũng như các yêu cầu, bằng kinh nghiệm chuyên môn cũng như các
tài liệu tiêu chuẩn của hãng giải pháp, đơn vị tư vấn có thể xác định được thời gian
triển khai dự án theo lý thuyết. Tuy nhiên tại nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam, thời
gian triển khai dự án bị kéo dài, có khi không xác định được do gặp quá nhiều khó
khăn trong quá trình triển khai.
Về việc lựa chọn các phân hệ chức năng để triển khai, có đến 44/45 doanh
nghiệp lựa chọn phân hệ tài chính kế toán khi triển khai hệ thống ERP, cá biệt có
doanh nghiệp chỉ triển khai duy nhất một phân hệ tài chính kế toán và vận hành như
một phần mềm kế toán độc lập. Đa số các doanh nghiệp đều triển khai phân hệ kế
toán cùng các phân hệ chức năng như quản lý sản xuất, quản lý mua hàng, bán
hàng…nhằm tận dụng được ưu điểm của hệ thống ERP là việc liên kết dữ liệu giữa
các phân hệ thành một cơ sở dữ liệu thống nhất trong toàn bộ doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp Việt Nam thường lựa chọn phân hệ kế toán như là tiền đề cho việc
triển khai các phân hệ khác. Tuy nhiên nếu chỉ triển khai phân hệ kế toán như một
phần mềm kế toán hoạt động độc lập sẽ không phát huy được hết các ưu điểm về
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 41 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
mặt liên kết dữ liệu trong hệ thống ERP vì vậy các doanh nghiệp cần cân nhắc về
mặt chi phí và hiệu quả mang lại khi triển khai phân hệ kế toán của hệ thống ERP
như một phần mềm độc lập.
Hình 2.3: Các phân hệ chức năng được lựa chọn triển khai trong hệ thống ERP
Phân hệ quản lý kho cũng là phân hệ được nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam
lựa chọn khi triển khai ERP. Tại Việt Nam, chiếm số lượng lớn các doanh nghiệp là
các doanh nghiệp dịch vụ và thương mại với số lượng hàng xuất nhập kho là rất lớn
làm phát sinh yêu cầu về việc nâng cao hiệu quả quản lý kho bằng hệ thống. Việc
quản lý kho bằng hệ thống ERP cho phép các phân hệ chức năng khác như phân hệ
mua hàng, bán hàng…cập nhật được ngay thông tin về số lượng, chủng loại hàng
hóa, đáp ứng được thời gian giao hàng cho khách hàng.
Phân hệ sản xuất cũng được nhiều doanh nghiệp quan tâm triển khai, chiếm
28/45 doanh nghiệp được khảo sát. Các doanh nghiệp triển khai phân hệ sản xuất
đều là các doanh nghiệp cỡ vừa và lớn, có quy mô sản xuất công nghiệp với nhiều
chủng loại hàng hóa như Công ty cổ phần cơ điện REE, Công ty Toàn Mỹ, Tập
đoàn Thép Việt, Tổng công ty giấy Sài Gòn. Dữ liệu từ khảo sát cho thấy, tất cả các
doanh nghiệp triển khai phân hệ sản xuất đều triển khai phân hệ kho, nhằm đạt hiệu
quả tối ưu trong việc điều tiết nguyên vật liệu cho sản xuất và nhập kho thành
phẩm. Cùng với phân hệ sản xuất và phân hệ quản lý kho, các doanh nghiệp thường
lựa chọn triển khai cùng phân hệ mua hàng và bán hàng thành một chuỗi dữ liệu
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 42 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
thống nhất từ khâu mua nguyên vật liệu, phụ kiện…đến bán hàng thành phẩm nhằm
đảm bảo luồng thông tin trong doanh nghiệp được xử lý hiệu quả.
Về phân hệ quản lý kênh phân phối, các doanh nghiệp sản xuất và kinh
doanh hàng hàng tiêu dùng, may mặc như Công ty bia Đại Việt, Công ty May 10,
Công ty cổ phần giấy Sài Gòn, Công ty đầu tư phát triển sản xuất Hạ Long (BIM),
có hệ thống phân phối để tiếp cận khách hàng tiêu dùng, do đó việc ứng dụng các hệ
thống quản lý hiện đại như ERP giúp doanh nghiệp quản lý kênh phân phối đạt
được hiệu quả cao.
Từ bảng số liệu của cuộc khảo sát cho thấy, chỉ có 5/45 doanh nghiệp triển
khai ERP lựa chọn phân hệ nhân sự trong hệ thống ERP. Phân hệ nhân sự trong
hệ thống ERP có thể vận hành độc lập so với các phân hệ khác mà không ảnh
hưởng đến hiệu năng của phần mềm, tuy nhiên giá thành bản quyền phần mềm
của hệ thống ERP khá cao so với các giải pháp nhân sự tiền lương do Việt Nam
thiết kế và triển khai. Hơn nữa, các phần mềm nhân sự tiền lương mà các doanh
nghiêp đang sử dụng trước khi triển khai hệ thống ERP vẫn đáp ứng được yêu
cầu của doanh nghiệp, do đó rất ít doanh nghiệp lựa chọn triển khai phân hệ nhân
sự tiền lương trong hệ thống ERP.
2.1.2. Nghiên cứu về tình hình ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp
trên thế giới
Trong phạm vi của đề tài, cuộc khảo sát chỉ thu thập được các thông tin cơ bản
về việc ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam. Việc tiếp cận
các thông tin liên quan đến dự án và đánh giá hiệu quả của dự án sau triển khai gặp
rất nhiều khó khăn do doanh nghiệp và đơn vị tư vấn không công bố và từ chối cung
cấp thông tin do các thông tin của dự án liên quan đến tình hình hoạt động của
doanh nghiệp và uy tín hình ảnh của doanh nghiệp. Nhiều dự án ERP đã thất bại
ngay từ giai đoạn triển khai do không dung hòa được yêu cầu của doanh nghiệp với
năng lực đáp ứng của hệ thống, cũng có trường hợp cả doanh nghiệp và đơn vị tư
vấn triển khai gượng ép công nhận hoàn thành dự án nhưng khi đưa vào vận dụng
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 43 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
thực tế đã gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý và vận hành của doanh
nghiệp. Chính vì việc thiếu các báo cáo và nghiên cứu về việc ứng dụng hệ thống
ERP nên các doanh nghiệp cùng ngành nghề không tiếp thu được kinh nghiệm của
các doanh nghiệp đã triển khai ERP đi trước trong việc triển khai hệ thống ERP dẫn
đến sự lãng phí và không hiệu quả. Đây là một khó khăn mà các doanh nghiệp
thường gặp phải khi không có thông tin để tham khảo hoặc các thông tin có tính
định hướng cho doanh nghiệp.
Trên thế giới, việc đánh giá và khảo sát về công tác triển khai và hiệu quả
của việc ứng dụng hệ thống ERP đã được các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện. Các
báo cáo và đánh giá này có tính chất tham khảo, giúp ích cho các doanh nghiệp Việt
Nam trong việc nghiên cứu triển khai hệ thống ERP và đánh giá được những rủi ro
cũng như khó khăn có thể xảy ra khi triển khai hệ thống.
Cụ thể trong báo cáo của tập đoàn tư vấn Panorama thực hiện khảo sát tại
1322 tổ chức trên toàn cầu trong 3 năm từ 2006 đến 2009 thông qua bình chọn trực
tuyến, khảo sát và phỏng vấn trực tiếp đại diện của các doanh nghiệp về việc ứng
dụng ERP tại doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tham gia khảo sát đến từ nhiều quốc
gia khác nhau, đa số có trụ sở tại Bắc Mỹ và Châu Á Thái Bình Dương, các doanh
nghiệp này thuộc nhiều ngành nghề và có quy mô khác nhau, từ các doanh nghiệp
quy mô nhỏ đến các tập đoàn đa quốc gia có doanh thu hàng nghìn tỷ USD. Nghiên
cứu đã xác định được hiệu quả, cũng như những hạn chế rủi ro và bài học kinh
nghiệm thu được trong quá trình triển khai ERP tại các tổ chức trên từ đó rút ra
được cái nhìn tổng quan nhất về hiện trạng ứng dụng ERP trên phạm vi toàn cầu.
Cuộc khảo sát tập trung vào các vấn đề chính liên quan đến việc triển khai
ERP tại doanh nghiệp, cụ thể là những thách thức và rủi ro chủ yếu trong triển
khai ERP, Đánh giá kết quả triển khai hệ thống ERP, Mức độ thỏa mãn của
doanh nghiệp về việc triển khai ERP, Chi phí và ngân sách và Thời gian hoàn
thành dự án.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 44 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Về những thách thức và rủi ro chủ yếu trong triển khai ERP, các doanh
nghiệp tham gia khảo sát cho rằng có bốn yếu tố chính. Trong đó, 38% doanh
nghiệp cho rằng, thiếu nhân lực tham gia dự án là thách thức lớn nhất của doanh
nghiệp. Tiếp đến 33% doanh nghiệp cho rằng, thiếu kiến thức chuyên môn về ERP
là thách thức đối với việc triển khai ERP. Từ hai yếu tố trên cho thấy, yếu tố con
người là yếu tố quyết định cho bất kỳ dự án ERP nào. Nguồn nhân lực ổn định và
chất lượng cao là yếu tố thiết yếu doanh nghiệp cần chuẩn bị trước khi bắt tay vào
triển khai dự án.
Hình 2.4: Những thách thức và rủi ro chủ yếu trong triển khai hệ thống ERP
Một số ít các doanh nghiệp cho rằng thách thức đối với dự án là việc thiếu
nguồn lực và kinh phí quá thấp. Đa phần các doanh nghiệp khi đã quyết định triển
khai ERP đều đã có sự chuẩn bị về tài chính cũng như huy động các nguồn lực
khác. Việc nắm rõ được các yêu cầu và sự hợp tác của doanh nghiệp đối với đơn vị
tư vấn triển khai sẽ hạn chế được các chi phí phát sinh.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 45 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Từ nghiên cứu này cho thấy không có phản hồi nào đề cập đến vấn đề thiếu
sự hỗ trợ của ban lãnh đạo, đồng nghĩa với đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp đã sẵn
sàng và có quyết tâm thay đổi doanh nghiệp khi triển khai ERP. Vấn đề còn lại của
doanh nghiệp là sự liên kết chặt chẽ của đội dự án, chất lượng của đội ngũ cán bộ và
hiệu quả quản lý hiệu quả việc chuyển đổi chính là chìa khóa quyết định thành công
trong tiến trình triển khai ERP. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nếu các doanh nghiệp
coi nhẹ tầm quan trọng của việc lập kế hoạch và quản lý nhân sự sẽ thường xuyên
gặp phải khó khăn về vấn đề nhân sự và chuyên môn về ERP.
Về thời gian thực tế triển khai so với thời gian dự kiến triển khai, kết quả của
khảo sát cho biết hơn 90 % các dự án ERP bị kéo dài thời gian hơn dự kiến. Từ kinh
nghiệm của những người trực tiếp thao gia dự án cho thấy việc hoàn thành đúng
thời gian và trong ngân sách luôn là nhiệm vụ bất khả thi. Các đơn vị triển khai
thường không thể hiện thực hóa được mong muốn về rút ngắn thời gian của doanh
nghiệp cũng như tối ưu hóa chi phí cần thiết để vận hành hệ thống. Theo nghiên cứu
trên cho biết chỉ có 7% các dự án hoàn thành đúng thời gian đặt ra, 93% dự án bị
kéo dài hơn dự kiến ban đầu của doanh nghiệp, thậm chí 68% doanh nghiệp cho
biết dự án bị kéo dài lâu hơn rất nhiều. Như vậy, 100% doanh nghiệp không có
doanh nghiệp nào triển khai thành công hệ thống ERP sớm hơn kế hoạch. Đây là
thách thức không nhỏ đối với cả doanh nghiệp và đơn vị tư vấn.
Cùng với những thách thức và rủi ro trong quá trình triển khai dự án và việc
kéo dài thời gian triển khai dự án đã rất đến chi phí cho dự án bị đội lên rất nhiều.
Cụ thể 65% doanh nghiệp cho biết các dự án triển khai ERP tại doanh nghiệp mình
do nhiều lý do đã vượt ngân sách ban đầu. Trong đó, hơn ¼ số lượng các dự án
(27%) vượt 15%, và gần 1/5 (16%) vượt 50% ngân sách. Các công ty tư vấn đã
cảnh báo với khách hàng về các chi phí tiềm ẩn có liên quan khi triển khai ERP như
chi phí đầu tư phần cứng, chi phí đào tạo, tái đào tạo, quản lý chuyển đổi, quản lý
dự án, thuê nhân sự tạm thời, đặc biệt là chi phí tùy biến hệ thống (customization
fee). Đôi khi chính các doanh nghiệp ban đầu đã không hiểu rõ thực tế yêu cầu quản
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 46 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
lý của mình là gì do đó phát sinh rất nhiều yêu cầu mới trong quá trình triển khai, từ
đó phát sinh các chi phí ngoài dự kiến và vượt ngân sách ban đầu.
Hình 2.5: So sánh chi phí và ngân sách thực hiện dự án
Bên cạnh việc nghiên cứu về việc triển khai, cuộc khảo sát còn cho thấy mức
độ thỏa mãn của doanh nghiệp trong việc triển khai ERP. Ttrong đó kết quả cho
thấy chỉ 57% phản hồi là thỏa mãn hoặc thỏa mãn vừa phải với hệ thống ERP của
họ, trái ngược với sự không thỏa mãn của 43% còn lại. Nhiều doanh nghiệp đã cho
rằng sự thành công hay thất bại là phụ thuộc vào giải pháp và đơn vị tư vấn, tuy
nhiên, theo chuyên gia nghiên cứu và kết quả của việc khảo sát về thách thức đối
với dự án ERP thì thành công của các dự án ERP lại phụ thuộc phần lớn nguồn
nhân lực của doanh nghiệp.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 47 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Hình 2.6: Mức độ thỏa mãn của doanh nghiệp về triển khai ERP
Như vậy, bất chấp việc phải bỏ ra một khoản đầu tư lớn dành cho ERP và
dành nhiều thời gian cũng như phải huy động tổng lực của doanh nghiệp, vẫn không
có gì đảm bảo những lợi ích mà doanh nghiệp thu được từ việc triển khai ERP.
Thêm vào đó, rủi ro trong quá trình triển khai còn có thể gây ra sự xáo trộn trong
các hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp. Những nhân tố này chắc chắn sẽ ảnh hưởng
đến tỷ lệ hoàn vốn đầu tư của dự án ERP.
Theo số liệu nghiên cứu từ về kết quả triển khai của hãng Panorama cũng
trong nghiên cứu trên cho thấy, chỉ 1/5 các doanh nghiệp (tương ứng 21%) hiện
thực hóa được 50% các lợi ích mà họ mong chờ từ hệ thống ERP. Ngoài ra, hơn ½
các doanh nghiệp (57%) vấp phải tình trạng các hoạt động nghiệp vụ chính bị xáo
trộn khi đi vào vận hành thực tế hệ thống ERP. Tuy vậy, cũng có khía cạnh tích cực
khi 2/3 các doanh nghiệp tham gia nghiên cứu (70%) nhận thấy việc tối ưu hóa
được nguồn nhân lực của doanh nghiệp sau khi triển khai ERP.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 48 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Hình 2.7 : Đánh giá kết quả triển khai hệ thống ERP
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, việc triển khai thành công một hệ thống
ERP tại doanh nghiệp bao gồm rất nhiều yếu tố, đòi hỏi sự phối hợp của nhiều bên
có liên quan. Tại Việt Nam, bên cạnh những bài học thành công tại nhiều doanh
nghiệp khi ứng dụng ERP, cung có trường hợp thất bại dẫn đến lãng phí trong đầu
tư tại rất nhiều doanh nghiệp.
2.2. Nghiên cứu về tình hình ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Cùng với các làn song đầu tư từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc…vào
Việt Nam, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã trở thành
một nguồn lực quan trọng trong việc phát triển kinh tế Việt Nam. Xét trên khía cạnh
ứng dụng các công cụ quản lý hiện đại trong doanh nghiệp, các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài là những doanh nghiệp đi tiên phong trong việc ứng dụng
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 49 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
các giải pháp quản trị doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó
ERP là giải pháp được nhiều doanh nghiệp lựa chọn nhằm tối ưu hóa chi phí ngay
từ những ngày đầu hoạt động. Số đông các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, là công ty con của các tập đoàn đa
quốc gia do đó quá trình lựa chọn và triển khai ERP có nhiều đặc điểm riêng có thể
được khái quát hóa như phần trình bày dưới đây.
2.2.1. Các xu hướng triển khai ERP tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Các doanh nghiệp lớn trên thế giới đã có bề dày lịch sự hoạt động và có quy
trình sản xuất kinh doanh chuyên nghiệp, vì vậy các hệ thống ERP ứng dụng tại các
doanh nghiệp này đã được tối ưu hóa phù hợp với quá trình hoạt động của doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp này khi đầu tư vào Việt Nam thường vận dụng các hệ
thống thông tin có sẵn của doanh nghiệp tại chính quốc nhằm mục đích hạn chế các
rủi ro có thể xảy ra trong quá trình triển khai hệ thống và tối ưu hóa chi phí. Bên
cạnh đó việc ứng dụng một hệ thống quản lý thống nhất trên toàn cầu cũng là điều
kiện thuận lợi để các tập đoàn xuyên quốc gia có thể quản lý xuyên suốt hoạt động
của cả tập đoàn theo các quy trình thống nhất. Năng lực tư vấn giải pháp ERP tại
nhiều quốc gia còn yếu kém dẫn đến việc lựa chọn đối tác triển khai tại từng nước
đặt chi nhánh cũng mất thời gian và tốn kém, do đó các tập đoàn lớn thường tự xây
dựng các đội triển khai giải pháp chuyên nghiệp tại tập đoàn mẹ và cử sang các
nước đặt nhà máy hay chi nhánh để triển khai các hệ thống quản lý, trong đó có hệ
thống ERP.
Tại Việt Nam, có thể kể đến các công ty như công ty TNHH Canon Việt
Nam, Công ty TNHH sản phẩm công nghệ Intel Việt Nam hay Công ty Nestle Việt
Nam, Công ty Coca cola… là các công ty ứng dụng các hệ thống ERP theo tiêu
chuẩn của tập đoàn mẹ trên toàn cầu. Đây đều là các công ty có số vốn đầu tư, quy
mô sản xuất lớn. Các hệ thống ERP nói riêng và hệ thống thông tin nói chung của
các công ty này thường rất phức tạp, theo các quy trình riêng, vì vậy việc lựa chọn
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 50 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
triển khai giải pháp thống nhất trên toàn cầu với đội triển khai giải pháp chuyên
nghiệp của chính công ty là lựa chọn tối ưu. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của việc
triển khai một hệ thống chung cho các công ty chi nhánh trên toàn cầu là mỗi quốc
gia đều có các quy định riêng về hệ thống tài chính kế toán, thuế. Do các quy định
về tài chính thuế khóa thường nằm trong phân hệ tài chính kế toán của hệ thống
ERP, nên khi triển khai hệ thống ERP tại các doanh nghiệp này thường kết hợp với
một đối tác trong nước chuyên về phần mềm tài chính kế toán để tạo ra các giao
diện kết nối giữa hệ thống ERP và hệ thống báo cáo tài chính kế toán theo tiêu
chuẩn của từng quốc gia.
Bên cạnh các ưu điểm khi sử dụng hệ thống ERP của công ty mẹ như hạn
chế rủi ro, quy trình thống nhất thì cũng có nhiều khó khăn mà doanh nghiêp
thường gặp phải như vấn đề ngôn ngữ của hệ thống, về quy mô sản xuất hay tác
phong làm việc của đội ngũ nhân viên. Chính vì vậy xu hướng các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tự lựa chọn và triển khai hệ thống tại Việt Nam
cũng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn trong thời gian gần đây. Hiện tại, có rất
nhiều đơn vị trong và ngoài nước tham gia tư vấn và triển khai ERP tại Việt Nam.
Các giải pháp trên thị trường cũng rất phong phú từ các giải pháp của các hãng
SAP, Oracle, Microsoft…đến các giải pháp do các doanh nghiệp Việt Nam tự xây
dựng và phát triển như Fast ERP, Effect ERP...Do đó các doanh nghiệp có rất nhiều
lựa chọn về giải pháp cũng như đơn vị tư vấn. Các dự án triển khai ERP là dự án rất
quan trọng và đòi hỏi đầu tư lớn từ doanh nghiệp, bản thân các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài cũng đã có các quy trình sản xuất kinh doanh khá hoàn chỉnh do
đó các doanh nghiệp này thường ưu tiên lựa chọn các giải pháp ERP của các hãng
có tên tuổi hơn là các giải pháp do các doanh nghiệp Việt Nam phát triển.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam thường hình thành
các cộng động, hiệp hội doanh nghiệp nhằm giúp đỡ và trao đổi thông tin như hiệp
hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, Hiệp hội các doanh nghiệp Đài Loan tại
Việt Nam, Trung tâm doanh nghiệp Việt Hàn, Phòng thương mại và công nghiệp
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 51 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Châu Âu văn phòng tại Việt Nam, Hiệp hội các doanh nghiệp Anh tại Việt Nam…
Trong các cộng đồng này thường hình thành một chuỗi cung cấp trong cộng đồng.
các doanh nghiệp nước ngoài thường ưu tiên lựa chọn các đơn vị tư vấn triển khai
ERP thuộc cùng quốc gia để thuận tiện về mặt ngôn ngữ và các yếu tố khác.
Sự lựa chọn trên có rất nhiều ưu điểm và thuận lợi đối với doanh nghiệp khi
quyết định triển khai ERP như các đơn vị tư vấn có hiểu biết rất phong phú về quy
trình sản xuất tại chính quốc, đồng thời có kinh nghiệm triển khai và tích hợp hệ
thống tại Việt Nam. Các đơn vị tư vấn này có đội ngũ quản lý dự án chuyên nghiệp,
có khả năng ngoại ngữ và năng lực tốt, đội dự án có khả năng trao đổi thông tin hai
chiều giữa nhân viên Việt Nam tham gia dự án và đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp là
người nước ngoài, từ đó tránh được các rủi ro và phát sinh do hiểu nhầm hoặc
không đúng với ý tưởng của ban lãnh đạo doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu doanh
nghiệp sử dụng các giải pháp của các hãng nước ngoài và đơn vị tư vấn nước ngoài
thì chi phí dự án sẽ bị đội lên nhiều nếu so sánh với chi phí đầu tư và sử dụng đơn vị
tư vấn của Việt Nam. Gần đây, các đơn vị tư vấn triển khai ERP Việt Nam đã bắt
đầu lấn sân vào mảng thị trường các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do chi
phí thấp và hiệu quả dự án cao. Cụ thể như công ty hệ thống thông tin FPT (FPT
ERP), một đơn vị tích hợp công nghệ thông tin nổi tiếng tại Việt Nam với đội ngũ
nhân viên giỏi ngoại ngữ, được đào tạo bài bản, có năng lực tư vấn tốt đã triển khai
thành công các dự án ERP tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư từ Nhật Bản như
công ty SATO Việt Nam, công ty Ajinomoto Việt Nam, Panasonic Việt Nam…
2.2.2. Đánh giá những khó khăn và thuận lợi trong quá trình triển khai và ứng
dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Tại Việt Nam chưa có các cuộc khảo sát cụ thể về tình hình ứng dụng ERP
tại các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói
riêng, nhưng qua kinh nghiệm làm việc thực tế cho thấy việc triển khai và ứng dụng
hệ thống ERP tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khá thuận lợi và thu
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 52 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
được kết quả tốt sau khi triển khai. Thuận lợi lớn nhất của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài là ban lãnh đạo doanh nghiệp dựa trên quy trình hoạt động của
công ty mẹ đã nhận thức được đúng tầm quan trọng của việc đưa hệ thống ERP vào
ứng dụng tại doanh nghiệp. Bên cạnh đó, với kinh nghiệm triển khai và ứng dụng hệ
thống tại công ty mẹ giúp các doanh nghiệp này lựa chọn được giải pháp phù hợp
tránh đầu tư lãng phí mà hiệu quả thấp. Một điểm thuận lợi khác của các doanh
nghiệp này là bản thân quy trình hoạt động của doanh nghiệp đã khá hoàn chỉnh tại
tất cả các khâu, do đó việc đưa hệ thống vào ứng dụng không mất quá nhiều thời
gian và không làm thay đổi quy trình hoạt động của doanh nghiệp.
Bên cạnh những thuận lợi của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
cũng tồn tại những khó khăn làm ảnh hưởng đến việc triển khai dự án. Khó khăn
được kể đến đầu tiên là tâm lý và tác phong làm việc của đội ngũ nhân viên doanh
nghiệp. Về tâm lý, đội ngũ nhân viên doanh nghiệp đã quen thuộc với quy trình
làm việc hiện tại, do đó sẽ nảy sinh tâm lý không hợp tác với đội tư vấn triển khai
của đơn vị tư vấn. Hơn nữa, trong quá trình tư vấn triển khai thường đưa ra các
yêu cầu chỉ phục vụ lợi ích của một cá nhân hoặc một bộ phận nhưng không thực
sự cần thiết, khiến hệ thống trở nên rườm rà, phức tạp hoặc hệ thống không thể
đáp ứng được.
Về tác phong làm việc, ngay từ ban đầu đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp
(đa phần là người Việt Nam) không có kiến thức và quy trình làm việc bằng hệ
thống thông tin, không ý thức được rằng việc vận hành hệ thống là một quy trình
liên tục, thông suốt và ảnh hưởng lẫn nhau, dẫn đến việc nhập liệu không chính xác,
ảnh hưởng đến kết quả làm việc chung của cả doanh nghiệp. Đồng thời khi làm việc
bằng hệ thống đã loại bỏ được rất nhiều khâu giấy tờ với chữ ký hoặc dấu xác nhận,
nhưng không có nghĩa là hệ thống không được kiểm soát mà hệ thống đều lưu lại
mọi thao tác, mọi hoạt động của từng người dung, do đó người dùng không thể tự ý
xóa bỏ hoặc can thiệp vào hệ thống khi nhập dữ liệu sai hoặc không chính xác.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 53 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Một khó khăn khác cũng được kể đến trong việc ứng dụng hệ thống ERP vào
hoạt động của doanh nghiệp đó là khả năng ngoại ngữ của nhân viên còn rất hạn
chế. Đa phần các hệ thống ERP trên thế giới có giao diện bằng tiếng Anh mặc dù đã
được Việt hóa khá nhiều nhưng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
chỉ sử dụng giao diện bằng tiếng nước ngoài trong toàn bộ hệ thống báo cáo, thao
tác vận hành nên nhân viên doanh nghiệp chưa vận dụng được hết các chức năng
mà hệ thống mang lại hoặc nhầm lẫn trong thao tác.
2.3. Nghiên cứu về tình hình ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp Việt
Nam
Khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như đã trình bày tại phần
trên có những xu hướng triển khai ERP dựa trên kinh nghiệm của công ty mẹ hoặc
là bắt buộc phải triển khai theo chủ trương hoạt động sản xuất kinh doanh công
nghiệp hóa. Đối với các doanh ngfhiệp Việt Nam, các doanh nghiệp thường phải tự
xác định nhu cầu và tìm kiếm giải pháp phù hợp cho từng doanh nghiệp mà không
có cơ sở hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật nào có sẵn hay được lựa chọn theo phương thức
triển khai nào.
Thực tế, khái niệm ERP không còn quá mới mẻ với đội ngũ lãnh đạo doanh
nghiệp nhưng từ lý thuyết đến việc quyết định triển khai và đưa hệ thống vào ứng
dụng là cả một quá trình lâu dài và phức tạp. Do sự hạn chế về năng lực của các đơn
vị tư vấn triển khai ERP, nên trên thị trường chỉ có một vài đơn vị tên tuổi chuyên
tư vấn ERP, do đó các doanh nghiệp không có nhiều lựa chọn các đơn vị tư vấn mà
phụ thuộc vào các đơn vị tư vấn với các thế mạnh và các giải pháp mà các đơn vị tư
vấn này làm đại diện. Vì vậy, các doanh nghiệp thường bị hướng đến việc triển khai
các giải pháp ERP nước ngoài, nổi bật nhất vẫn là nhóm giải pháp của các hãng
SAP, Oracle và Microsoft.
Hầu hết các doanh nghiệp đã và đang triển khai hệ thống ERP với những
phân hệ cơ bản đều là những doanh nghiệp vừa và lớn, có khả năng tài chính đầu tư
lâu dài và nguồn nhân lực phục vụ cho việc triển khai hệ thống ERP. Các doanh
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 54 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
nghiệp vừa và nhỏ hầu như không có cơ hội triển khai hệ thống ERP hoàn chỉnh,
mà thường đầu tư riêng lẻ cho các phần mềm như phần mềm kế toán, phần mềm
quản trị nhân sự, phần mềm mua bán đặt hàng. Các phần mềm nhỏ và riêng lẻ này
đa phần do các đơn vị phần mềm của Việt Nam thực hiện như Fast accounting,
Effect Accounting…Riêng về lĩnh vực quản lý sản xuất, đây là lĩnh vực khó đòi hỏi
có nhiều thao tác xử lý luồng thông tin dữ liệu và thiết kế phức tạp, hầu như các đơn
vị phần mềm của Việt Nam chưa thực hiện được hoặc chỉ có khả năng xử lý các
lĩnh vực sản xuất đơn giản.
Tóm lại về xu hướng triển khai và ứng dụng ERP tại các doanh nghiệp Việt
Nam còn chưa rõ ràng, chưa hình thành các xu hướng hay có định hướng chung, vì
vậy các doanh nghiệp thường phải chủ động tìm kiếm và ra quyết định bằng kinh
nghiệm của bản thân doanh nghiệp. Việc nghiên cứu cụ thể các dự án ERP tại các
doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ giúp các doanh nghiệp rút ra được các bài học kinh
nghiệm quý báu, nâng cao được hiểu quả của quá trình triển khai hệ thống ERP.
2.3.1. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình ứng dụng giải pháp ERP tại
các doanh nghiệp tại Việt Nam
2.3.1.1. Thuận lợi
Nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập với nền kinh tế thế giới hơn 20 năm qua,
cùng với sự hội nhập đó, các doanh nghiệp Việt Nam đã nhanh chóng nhận thức
được tầm quan trọng của việc ứng dụng các thành tựu của ngành công nghệ thông
tin vào sản xuất kinh doanh, nhằm giảm chi phí và tăng tính cạnh tranh của doanh
nghiệp khi tham gia thị trường. Việc đưa các hệ thống công nghệ thông tin mà cụ
thể là các giải pháp ERP vào ứng dụng tại các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều
thuận lợi. Những năm gần đây, hạ tầng công nghệ thông tin như truyền dẫn, và
trình độ của đội ngũ tư vấn viên cũng như sự phong phú của các giải pháp từ nước
ngoài cũng như tại Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá
trình quyết định lựa chọn giải pháp phù hợp.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 55 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Trước đây, lãnh đạo doanh nghiệp chỉ chú trọng vào phát triển hoạt động
sản xuất kinh doanh, đầu tư máy móc thiết bị mà chưa chú ý đầu tư về quản lý
doanh nghiệp dẫn đến việc quản lý doanh nghiệp còn lỏng lẻo và yếu kém, không
tối ưu được chi phí từ đó làm tăng giá thành sản phẩm. Những năm gần đây, việc có
cơ hội tiếp cận với các mô hình quản lý mới và xu hướng phát triển của doanh
nghiệp trên thế giới, lãnh đạo các doanh nghiệp Việt Nam đã nhận thức được vấn đề
này, bên cạnh năng lực tài chính thì quyết tâm của đội ngũ lãnh đạo là điều quan
trọng nhất trong việc quyết địnhđưa các hệ thống quản lý vào ứng dụng tại doanh
nghiệp. Các nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã bắt nhịp với tác
phong làm việc công nghiệp và thường xuyên sử dụng máy tính trong công việc, từ
đó nhận thấy việc sử dụng áy tính, cụ thể hơn là phần mềm sẽ giúp giảm tải được
khối lượng và tăng hiệu quả trong công việc. Bên cạnh những thuận lợi vừa nêu
trên, việc đưa các hệ thống ERP vào ứng dụng tại các doanh nghiệp còn rất nhiều
khó khăn do môi trường khách quan và chủ quan của cả doanh nghiệp.
2.3.1.2. Khó khăn Khó khăn thường gặp khi triển khai hệ thống ERP đối với các doanh nghiệp
Việt Nam là vấn đề tài chính đầu tư cho dự án. Việc đầu tư triển khai hệ thống ERP
là một dự án lớn, có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ doanh nghiệp. Nhưng trong
bối cảnh nền kinh tế đang có nhiều biến động như hiện nay và việc ngân sách đầu tư
cho hệ thống thông tin hạn chế đã dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp tài chính khi
quyết định ứng dụng ERP vào doanh nghiệp và chi phí duy trì hoạt động cho hệ
thống. Trong các dự án ERP, ngân sách đầu tư có thể hiểu là chi phí tổng sở hữu,
Chi phí bản quyền
Chi phí triển khai và chuyển giao hệ thống
Chi phí bảo hành và bảo trì hệ thống
Chi phí cho phần cứng và hạ tầng truyền thông
Chi phí nội bộ DN (các khoản phát sinh do thay đổi cấu trúc, tiền lương, tiền
chủ yếu bao gồm các khoản mục như:
thưởng nhân viên, tiền làm thêm giờ …)
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Chi phí mở rộng và kết nối trong tương lai
Luận văn thạc sỹ khoa học 56 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Qua nghiên cứu số liệu thống kê dự án các doanh nghiệp Việt Nam đã triển
khai ERP, chi phí cho một dự án ERP có thể từ vài chục nghìn đô la Mỹ cho đến
hàng trăm hoặc hàng triệu đô la Mỹ tùy thuộc vào quy mô doanh nghiệp. Trung
bình dự án đầu tư ERP cho giai đoạn đầu tiên chiếm khoảng 1,5 ~ 2 % tổng doanh
thu, sau khi hoàn thành giai đoạn triển khai, chi phí vận hành và bảo dưỡng và phát
triển thêm chiếm khoảng 1,0 ~ 1,5 % .
Vượt qua được những khó khăn trong nội tại doanh nghiệp như khó khăn về
tài chính và lập kế hoạch ERP thì doanh nghiệp lại gặp phải những khó khăn trong
việc lựa chọn được giải pháp ERP phù hợp do thiếu thông tin về các giải pháp ERP
và các thông tin có tính chất định hướng cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh
nghiệp cũng gặp khó khăn do chưa có kế hoạch ứng dụng ERP lâu dài. Như vậy, có
thể nói rằng việc thiếu thông tin định hướng và chi phí đầu tư quá lớn là hai khó
khăn lớn nhất mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải đối mặt khi có ý định triển
khai hệ thống ERP.
Như đã trình bày tại phần trên, tại Việt Nam chưa có cuộc khảo sát chính
thức nào về việc ứng dụng ERP tại doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp thiếu thống
tin đánh giá khách quan để lựa chọn một giải pháp ERP phù hợp với hoạt động
doanh nghiệp và năng lực tài chính của doanh nghiệp. Bản thân các doanh nghiệp
cũng cũng chưa có lãnh đạo công nghệ thông tin (CIO) hay đội IT chuyên trách, do
đó khả năng giúp ban lãnh đạo doanh nghiệp định hướng ứng dụng các giải pháp
công nghệ thông tin còn rất hạn chế và thiếu khách quan. Doanh nghiệp cũng không
có quy trình cụ thể để lựa chọn được giải pháp ERP phù hợp với năng lực tài chính
và quy mô hoạt động. Về bản chất, hệ thống ERP không phải là một hệ thống khổng
lồ và phức tạp, hầu hết các quy trình tác nghiệp hiện tại của doanh nghiệp đều được
thực hiện riêng rẽ trên máy tính thì hệ thống ERP là hệ thống kết nối luồng thông
tin riêng rẽ này thành một khối dữ liệu thống nhất cho toàn bộ doanh nghiệp. Khi
doanh nghiệp tăng trưởng nhanh và mở rộng hoạt động tại nhiều vị trí địa lý, lượng
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 57 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
dữ liệu riêng lẻ phát sinh quá nhiều, vượt quá xử lý của đội ngũ nhân viên và khả
năng quản lý của ban lãnh đạo doanh nghiệp thì doanh nghiệp có tính đến việc đưa
hệ thống ERP vào ứng dụng tại doanh nghiệp.
Để lựa chọn được giải pháp phù hợp với doanh nghiệp, trước tiên doanh
nghiệp phải hiểu rõ được hiện trạng và định hướng của doanh nghiệp cho tương lai.
Đồng thời doanh nghiệp phải đưa ra tiêu chí nghiệp vụ, kỹ thuật và ngân sách mà
doanh nghiệp có thể đầu tư cho hệ thống ERP. Nhưng thực tế các doanh nghiệp,
các doanh nghiệp không có quy trình thích hợp để lựa chọn được giải pháp ERP
phù hợp do không có kinh nghiệm và nhân lực chuyên môn cao về ERP. Doanh
nghiệp đã không đưa ra được các yêu cầu đề xuất giải pháp rõ ràng dẫn đến giải
pháp được lựa chọn không phù hợp về chuyên môn và quy mô doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn gặp phải các khó khăn khác trong quá
trình triển khai do đơn vị tư vấn triển khai thiếu năng lực và đội ngũ nhân viên tham
gia dự án ERP thiếu kiến thức và chuyên môn về ERP. Các đơn vị tư vấn thường
chỉ dừng lại ở mức khảo sát hiện trạng của các phòng ban, chức năng các bộ phận,
phân xưởng sản xuất…đôi khi lấy ngay các quy trình ISO đang triển khai để đang
triển khai để triển khai ERP.
Bản thân ERP chỉ là một hệ thống phần mềm, hệ thống có những hạn chế
do năng lực của ngành công nghệ phần mềm và hạ tầng công nghệ thông tin, hệ
thống không thể tự động vận hành mà cần sự điều khiển của con người. Ứng dụng
ERP tại doanh nghiệp không thay thế sức lao động của con người, không thay con
người quản lý doanh nghiệp mà là công cụ hỗ trợ hoạt động vận hành doanh nghiệp,
tối ưu hóa được các nguồn nhân lực, vật lực và tài lực của doanh nghiệp. ERP cũng
không thay thế con người trong việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh hay nghiên
cứu thị trường, cũng không thể đảm nhiệm được tất cả các mặt trong hoạt động của
doanh nghiệp. Do đó, khi đưa hệ thống vào vận hành chính thức, tại nhiều doanh
nghiệp hệ thống hoạt động thiếu hiệu quả do vướng mắc trong vấn đề phân công
nguồn nhân lực, vấn đề nhập liệu không chính xác cũng dẫn đến kết quả hoạt động
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 58 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
của toàn bộ hệ thống ERP là các báo cáo có dữ liệu không chính xác, từ đó các
quyết định của lãnh đạo doanh nghiệp cũng không kịp thời và chính xác.
Những khó khăn thử thách mà các doanh nghiệp gặp phải khi quyết định triển
khai ERP là rất lớn, tại Việt Nam cũng có rất nhiều doanh nghiệp đã thất bại trong
việc triển khai ERP nhưng đánh giá khách quan từ thành công của rất nhiều dự án
ERP tại Việt Nam cho thấy việc ứng dụng hệ thống ERP vào doanh nghiệp giúp
doanh nghiệp vận hành hiệu quả và chính xác, góp phần quan trọng trong thành
công của nhiều doanh nghiệp. Việc đầu tư một hệ thống ERP không phải là đơn
giản, nhưng cũng không quá phức tạp nếu có đầy đủ thông tin có tính định hướng,
và lựa chọn được giải pháp phù hợp, tuân thủ theo đúng các quy trình lựa chọn triển
khai hệ thống. Phần dưới đây sẽ trình bày nghiên cứu về dự án triển khai hệ thống
ERP tại Công ty cổ phần Giấy Sài Gòn và tập đoàn Thép Việt từ đó nêu bật lên các
yếu tố quyết định sự thành công của các dự án này.
2.3.2. Nghiên cứu dự án triển khai hệ thống ERP tại công ty cổ phần Giấy Sài
Gòn
Công ty cổ phần giấy Sài Gòn được thành lập năm 1997, từ một cơ sở sản
xuất giấy carton nhỏ, hiện nay Công ty cổ phần Giấy Sài Gòn đã phát triển và trở
thành doanh nghiệp lớn chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm về giấy công
nghiệp. Với công nghệ hiện đại hàng đầu Đông Nam Á, tổng công suất hàng năm
của Giấy Sài Gòn là 35.000 tấn giấy tissue, 230.000 tấn giấy công nghiệp, Hiệp hội
giấy và Bột giấy Việt Nam đánh giá là công ty tăng trưởng cao nhất trong ngành
Giấy Việt Nam. Hiện nay, công ty đang quản lý theo hệ thống quản lý chất lượng
ISO 9001:2000 do QUACERT chứng nhận. Năm 2007, giấy Sài Gòn là một trong
12 công ty trong khối ASEAN được trao giải “Doanh nghiệp ASEAN được ngưỡng
mộ nhất” tại Hội nghị thượng đỉnh thường niên của ASEAN tại Singapore.
Việc hiện đại hóa hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp đã được ban
giám đốc Giấy Sài Gòn tính tới từ năm 2000, tuy nhiên sau khi nghiên cứu ban lãnh
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 59 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
đạo doanh nghiệp cho rằng đó chưa phải là thời điểm phù hợp và doanh nghiệp
chưa sẵn sàng để chuyển đổi hình thức quản trị. Đến năm 2006, đứng trước tình
hình thực tế, công ty Giấy Sài Gòn đang xây dựng chiến lược dài hạn với việc xây
dựng 3 nhà máy lớn trên cả nước, đồng thời kêu gọi thu hút vốn đầu tư và chuẩn bị
lên sàn chứng khoán thì việc quản lý đơn lẻ trên giấy tờ đã không còn phù hợp với
quy mô hoạt động và xu thế tin học hóa toàn cầu. Ban lãnh đạo doanh nghiệp đã xác
định ứng dụng giải pháp quản trị doanh nghiệp ERP như một hướng quản lý mới,
dùng CNTT để quản lý tổng thể toàn bộ doanh nghiệp bên cạnh việc duy trì áp dụng
hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000. Doanh nghiệp quyết định triển khai
ERP nhằm tìm ra phương tiện gắn kết các bộ phận và cũng nhằm tìm ra thước đo
hữu hiệu hoạt đống sản xuất kinh doanh, cải tiển năng lực làm việc của nhân viên.
Trong quá trình tìm kiếm giải pháp phù hợp với quy mô và nhu cầu doanh
nghiệp, công ty Giấy Sài Gòn đã chủ động mời những nhà quản lý từ các tập đoàn
đa quốc gia như Pepsi, Coca Cola, Unilever…về làm việc, đây là những người đã
có kinh nghiệm sử dụng thành thạo hệ thống ERP và đó là điều kiện thuận cho quá
trình triển khai dự án. Như vậy, doanh nghiệp đã chủ động chuẩn bị về nguồn nhân
lực để vượt qua thách thức lớn nhất về nguồn nhân lực có kiến thức chuyên môn về
ERP mà kết quả nghiên cứu đã nếu ở phần trên.
Giấy Sài Gòn đã quyết định lựa chọn Công ty Hệ thống thông tin FPT (FIS),
đơn vị tư vấn tích hợp hệ thống và cung cấp giải pháp lớn nhất Việt Nam là đơn vị
tư vấn triển khai cho dự án ERP tại doanh nghiêp. Sau quá trình nghiên cứu và được
đơn vị tư vấn giải pháp tư vấn, công ty quyết định đầu tư triển khai giải pháp E-
Business Suite của hãng Oracle với phương pháp luận triển khai phù hợp với tinh
thần của doanh nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ tối ưu giúp doanh nghiệp giảm thiểu
rủi ro và tăng tỷ suất lợi nhuận đầu tư cho doanh nghiệp. Ban lãnh đạo doanh
nghiệp rất tin tưởng vào đơn vị tư vấn có nhiều kinh nghiệm và giải pháp E-
Business Suite của hãng Oracle. Quyết tâm của Ban lãnh đạo doanh nghiệp đã được
truyền tải đến toàn bộ đội ngũ cán bộ công nhân viên, và hiện thực hóa bằng những
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 60 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
nỗ lực đổi mới công ty trong điều kiện hệ thống sản xuất càng ngày càng mở rộng,
công suất nhà máy tăng lên nhiều lần với nhiều chủng loại.
Dự án ERP tại Giấy Sài Gòn được triển khai trên quy mô lớn, bao trùm toàn
bộ doanh nghiệp, gồm nhà máy sản xuất của Giấy Sài Gòn ở khu công nghiệp Mỹ
Xuân A (tỉnh Bà Rị - Vũng Tàu), tổng kho tại quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, trụ
sở chính của công ty tại thành phố Hồ Chí Minh và chi nhánh tại Hà Nội.
Dự án được triển khai tại tất cả các quy trình hoạt động sản xuất, kinh doanh
của doanh nghiệp, từ mua hàng, bán hàng đến kế toán tài chính, quản lý kho, và sản
xuất. Dự án được chia thành 2 giai đoạn, giai đoạn một là giai đoạn tư vấn giải pháp
và tư vấn triển khai dự kiến trong vòng 1 năm. Giai đoạn 2 là giai đoạn hỗ trợ hoạt
động và bảo trì hệ thống dự kiến có thời gian dự kiến bằng thời gian triển khai hệ
thống. Mặc dù quy mô và hoạt động của doanh nghiệp thay đổi liên tục dẫn đến
những khó khăn trong giai đoạn triển khai, tuy nhiên đơn vị tư vấn và ban lãnh đạo
doanh nghiệp luôn giữ được cân bằng giữa sự thay đổi và những tiêu chuẩn của hệ
thống, do đó dự án luôn đi theo tiến độ đã được doanh nghiệp và đơn vị tư vấn đưa
ra. Dự án chính thức khởi động vào năm 2006, kết thúc giai đoạn 1 và nghiệm thu
tổng thể hệ thống vào năm 2007. Ban lãnh đạo doanh nghiệp quyết định sử dụng
song song hai hệ thống, giữa hệ thống quản lý cũ và hệ thống ERP trong thời gian
bảo trì tiếp theo nhằm đảm bảo sự hoạt động thông suốt trong toàn bộ doanh nghiệp.
Đơn vị tư vấn tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp trong giai đoạn này để
đảm bảo hệ thống mới hoạt động phù hợp và chính xác với hoạt động sản xuất kinh
doanh, bên cạnh đó đơn vị tư vấn tiếp tục phối hợp với đội ngũ nhân viên của doanh
nghiệp để hoàn thiện các báo cáo được xuất ra từ hệ thống phục vụ cho công tác
quản lý doanh nghiệp. Tháng 5 năm 2008, hệ thống chính thức được triển khai hoàn
thiện và bàn giao cho doanh nghiệp sử dụng. Giấy Sài Gòn là doanh nghiệp giấy
đầu tiên của Việt Nam ứng dụng hệ thống ERP trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, hệ thống đã chính thức đưa vào hoạt động từ năm 2008, sau đó doanh nghiệp
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 61 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
và đơn vị tư vấn tiếp tục cùng nhau xây dựng kế hoạch mở rộng hệ thống khi quy
mô và hoạt động của doanh nghiệp càng ngày càng phát triển. Giấy Sài Gòn đạt
mức tăng trưởng doanh thu 102% so với năm 2006, đưa mức tăng trưởng bình quân
lên mức 6,4% năm trong vòng 6 năm. Doanh nghiệp cũng tiếp tục ứng dụng ERP
cho nhà máy mới được đầu tư mở rộng.
Đánh giá về hoạt động của hệ thống trên quan điểm sử dụng hệ thống phục
vụ công tác quản trị doanh nghiệp, ban lãnh đạo doanh nghiệp đánh giá dự án đã
thành công cho những nỗ lực của toàn bộ doanh nghiệp. Hệ thống ERP đã góp phần
giúp việc quản trị, điều hành và kiểm soát của công ty dễ dàng hơn, hiệu quả sản
xuất kinh doanh tăng trưởng rõ rệt, đặc biệt hệ thống ERP đã giúp lãnh đạo công ty
nắm chắc được các diễn biến trong quá trình chỉ đạo sản xuất kinh doanh, đưa ra
các quyết định kịp thời, hiệu quả, kiểm soát các yếu tố đầu vào, đầu ra trong quá
trình sản xuất kinh doanh doanh được chặt chẽ, tiết kiệm, giá thành sản phẩm được
tiết giảm đáng kể, đồng thời góp phần hiệu quả quảng bá, nâng cao uy tín thương
hiệu Giấy Sài Gòn trên thị trường trong nước và quốc tế.
Nghiên cứu về quá trình triển khai hệ thống ERP tại Giấy Sài Gòn cho thấy
yếu tố mấu chốt để đem lại hiệu quả của hệ thống ERP là yếu tố con người, trong đó
có đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp và các chuyên gia ERP tại chính doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, sự quyết tâm của Ban lãnh đạo được truyền tải đến đội ngũ nhân viên
tạo sự đồng lòng của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong nỗ lực tái cấu trúc doanh
nghiệp theo quy trình quản lý hiện đại và có hiệu quả cao hơn so với quy trình cũ.
Hệ thống đã làm thay đổi thói quen và cách thức tác nghiệp, quản lý ở tất cả các
khâu của Giấy Sài Gòn, quy trình tự động giúp giảm tải về nhập số liệu, đối chiếu
giữa các bộ phận và cung cấp dữ liệu kịp thời để khai tác và chia sẻ thông tin từ
khâu mua hàng đến khâu bán hàng, sản xuất kinh doanh, tài chính kế toán. Chuỗi
thông tin từ hệ thống đã hỗ trợ tốt cho việc ra quyết định của các bộ phận và lãnh
đạo công ty, tạo cơ chế kiểm soát các hoạt động một cách khoa học và chuẩn xác.
Nhận xét khách quan về dự án, hệ thống ERP không có nghĩa là tất cả mà đó chỉ là
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 62 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
một công cụ hỗ trợ cho các hoạt động điều hành của doanh nghiệp. Điều quan trọng
nhất để dự án thành công là con người, những người trực tiếp sử dụng công cụ ERP
sao cho có hiệu quả và khai thác tối ưu các lợi ích mà nó mang lại.
2.3.3. Nghiên cứu dự án triển khai hệ thống ERP tại Tổng công ty Thép Việt
Công ty thương mại sản xuất Thép Việt được thành lập năm 1993 tại thành
phố Hồ Chí Minh, về ngành nghề kinh doanh là mua, bán buôn, bán lẻ vật liệu xây
dựng, hàng trang trí nội thất, đại lý ký gửi ủy thác thu mua sản xuất thép, môi giới
bất động sản, kinh doanh nhà đất. Trond đó, thương hiệu thép Pomina đang trở
thành biểu tượng của chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất thép của Việt
Nam, thép Pomina cung cấp cho thị trường hơn 600 nghìn tấn/năm, bao gồm các
chủng loại thép cuộn, thép thanh vằn, thép thanh trơn, thép tạo hình, đáp ứng nhu
cầu sử dụng đa dạng của thị trường. Thép Pomina đang là nhà sản xuất thép hàng
đầu Việt Nam. Qua gần 20 năm hoạt động trong ngành thép, Thép Việt được biết
đến không chỉ tại thị trường Việt Nam mà còn phát triển ra thị trường nước ngoài
với các sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, gần đây Thép Việt luôn có tên trong top
các doanh nghiệp tư nhân có doanh thu lớn nhất Việt Nam.
Với mong muốn là công ty đi tiên phong quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế, và
nâng tầm quản lý cho nguồn nhân lực của tập đoàn Thép Việt, ban lãnh đạo công ty
Thép Việt đã nghiên cứu các mô hình quản lý tiên tiến trên thế giới và quyết tâm
triển khai ERP tại Thép Việt. Doanh nghiệp muốn sử dụng ERP như một công cụ
đắc lực để quản lý tập trung toàn bộ nguồn lực và hoạt động sản xuất kinh doanh
của Thép Việt. Năm 2008, Thép Việt đã quyết định lựa chọn đơn vị tư vấn triển
khai là FPT-IS là đơn vị tư vấn hàng đầu Việt Nam để triển khai hệ thống mySAP
ERP. Hệ thống mySAP ERP là hệ thống ERP dành cho các doanh nghiệp cỡ trung
bình và lớn, có khả năng quản lý các doanh nghiệp có nhiều nhà máy, chi nhánh.
MySAP ERP đã được triển khai tại một số doanh nghiệp cùng ngành với Thép Việt
và có nhiều phân hệ được thiết kế chuyên sâu cho ngành thép. Như vậy ngay từ giai
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 63 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
đoạn lựa chọn giải pháp, doanh nghiệp đã có thông tin đầy đủ nhằm định hướng
doanh nghiệp lựa chọn các giải pháp phù hợp với ngành nghề sản xuất kinh doanh.
Tổng công ty Thép Việt hy vọng hệ thống mySAP ERP và đội ngũ tư vấn
viên chuyên nghiệp của FPT –IS ERP có thể giúp doanh nghiệp tối ưu được chi phí
đầu tư ban đầu cho hệ thống cũng như đạt được hiệu quả cao nhất. Các chức năng
chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh được Thép Việt lựa chọn đưa vào triển
khai ERP là những chức năng cơ bản trong ngành thép, bao gồm quản lý chặt chẽ
hơn về tài chính kế toán, đánh giá hiệu quả đầu tư của từng mảng kinh doanh hoặc
dự án, cho phép cung cấp các công cụ kiểm soát để ban lãnh đạo có thể xem xét,
phân tích, đánh giá với từng chỉ số kinh doanh, đầu tư trên trên những số liệu thực
tế, tức thời theo thời gian thật, từ đó đưa ra những quyết định nhanh chóng và chính
xác hơn. Chức năng tiếp theo là quản lý tối ưu hóa hoạch định nguyên vật liệu
(MRP), hệ thống đảm bảo lượng dự trữ vật liệu luôn ở mức an toàn, sẵn sàng phục
vụ sản xuất hoặc bán ra thị trường dưới dạng vật liệu thô.
Thép Việt còn vận dụng hệ thống ERP trong hoạt động phân phối, đảm bảo
số lượng, tiến độ, chi phí, giá cả cho từng khách hàng, dự án, các vấn đề về vận
chuyển, giao nhận hàng hóa, tự động hóa được quá trình xuất hóa đơn và quản lý
chặt chẽ các vấn đề rủi ro có liên quan như công nợ. Hệ thống cho phép Thép Việt
đưa ra các dữ liệu sử dụng công cụ để dự báo thị trường, điều phối các nhà cung cấp
liên thông chặt chẽ với hoạt động sản xuất của nhà máy. Trong hoạt động sản xuất,
Thép Việt sử dụng ERP nhằm xác định quy trình thống nhất trong toàn bộ các nhà
máy thép của Thép Việt từ khâu nhận yêu cầu sản xuất, hoạch định nguyên vật liệu,
chi phí, thời gian hoàn thành đến quản lý toàn bộ năng suất và năng lực sản xuất, và
nâng cao hiệu quả sản xuất. Ngoải ra, trong phạm vi triển khai, hệ thống còn cung
cấp công cụ để quản lý chất lượng từ đầu vào cho đến đầu ra, bao gồm quản lý dịch
vụ sau bán hàng (Quality Management), quản trị thiết bị, kỹ thuật ( Equipment and
Technical Objects), quản trị nguồn nhân lực (Human Resource), quản trị sắp xếp tổ
chức (Organization Management), quản trị dự án (Project Management) và các công
cụ phân tích số liệu, xây dựng báo cáo phục vụ mục đích quản trị khác.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 64 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Hệ thống ERP được Thép Việt triển khai tại 3 địa điểm khác nhau của Thép
Việt bao gồm nhà máy thép Pomina, nhà máy Thép Việt tại khu công nghiệp Phú
Mỹ và trụ sở của Thép Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Với quy mô của dự án và
mức độ phức tạp cũng như nhiều chức năng quản lý, dự án đầu tư triển khai ERP tại
Thép Việt tổng mức đầu tư lên đến 2 triệu đô la Mỹ Đâylà dự án lớn nhất về ERP
của một doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam cho đến thời điểm này. Trong sản xuất,
Thép Việt luôn sử dụng các công nghệ và thiết bị hiện đại, trong quản lý luôn áp
dụng những thành tựu về quản lý một cách khoa học và tạo cơ hội cho nguồn nhân
lực nội tại được đào tạọ và nâng cao năng lực đồng thời tuyển chọn them nguồn
nhân lực mới nhằm thích ứng được với những thành tựu tiên tiến nhất trên thế giới,
chính vì vậy tuy tổng vốn đầu tư rất lớn so với một doanh nghiệp tư nhân nhưng
ERP sẽ là một công cụ đắc lực giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao tính minh bạch toàn
hệ thống của Thép Việt, tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao uy tín của Thép Việt
trên thị trường trong nước và quốc tế.
Dự án triển khai mySAP tại công ty Thép Việt là một trong những điển khai
hình thành công của phương pháp luận triển khai ERP của hãng SAP tại Việt Nam.
Với hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ERP, SAP đã đưa ra phương pháp triển
khai ERP tiêu chuẩn, được thử nghiệm và ứng dụng thành công, hạn chế được rất
nhiều rủi ro tại nhiều doanh nghiệp, nhiều nước trên toàn thế giới. Phương pháp
triển khai có tên gọi AcceleratedSAP (ASAP) đã trở thành tiêu chuẩn triển khai của
SAP cho mọi dự án ERP, đồng thời là căn cứ để nhiều đơn vị tư vấn triển khai ERP
tham khảo, học hỏi trong quá trình triển khai của nhiều hãng giải pháp ERP khác.
Tại dự án ERP với Thép Việt, FPT –IS và Thép Việt đã tuân thủ đúng nguyên tắc
của phương pháp triển khai AcceleratedSAP (ASAP), từ đó đảm bảo được thời gian
triển khai của giai đoạn 1 với dự kiến trong 8 tháng. Giai đoạn 1 bao gồm triển khai
các phân hệ quản lý chi phí, kế toán, mua bán hàng, kho, phân phối, sản xuất, kiểm
soát chất lượng và quản lý dự án. Sau đó, giai đoạn 2 sẽ bao gồm việc triển khai
các phân hệ như bảo trì nhà máy (Plant Maitenance), quản lý nhân sự và kiểm soát
theo dõi (BI). Giai đoạn này sẽ kéo dài trong 4 tháng. Cụ thể, phương pháp triển
khai ASAP gồm 5 bước:
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 65 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Giai đoạn 1 – Chuẩn bị Dự án
Mục đích của giai đoạn này là lên kế hoạch và chuẩn bị cho việc triển khai.
Giai đoạn này cần xác định mục tiêu dự án, phạm vi và phương pháp triển khai.
Quản lý dự án sẽ thành lập đội dự án, hoàn chỉnh kế hoạch dự án và phát triển các
chính sách và thủ tục quản lý dự án. Những vấn đề quan trọng cần được xác định
trong giai đoạn bắt đầu dự án, bao gồm:
• Xác định mục đích và mục tiêu của dự án
• Làm rõ phạm vi triển khai
• Xác định chiến lược triển khai
• Xác định lịch trình tổng thể của dự án và trình tự triển khai
• Thành lập đội dự án và ban chỉ đạo dự án
• Chuẩn bị tài nguyên/nguồn lực cho dự án • Phát triển chính sách và thủ tục
quản trị dự án
Giai đoạn 2 – Thiết kế Quy trình nghiệp vụ
Mục tiêu của giai đoạn này là tạo ra Mô tả Quy trình nghiệp vụ, một tài liệu
chi tiết từ kết quả đạt được trong giai đoạn yêu cầu. Mô tả Quy trình nghiệp vụ chi
tiết các yêu cầu quy trình kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như cấu hình, giao
diện, chuyển đổi và các quan tâm về bảo mật. Trong giai đoạn này, sử dụng các mô
hình quy trình tập hợp từ quy trình trong nhiều ngành công nghiệp tiêu chuẩn. Nó
cung cấp nền tảng cho các hoạt động trong giai đoạn này cũng như giúp đảm bảo
tính nhất quán và mạnh mẽ về môi trường kinh doanh và những quy trình và hoạt
động chính của nó. Những hoạt động khác trong giai đoạn này gồm:
• Hoàn chỉnh những mục đích và mục tiêu ban đầu
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 66 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
• Định nghĩa phạm vi baseline• Hoàn thiện lịnh trình tổng thể của dự án và
trình tự triển khai
• Xác định những bổ sung cho hệ thống SAP chuẩn và phát triển các đặc tả
• Cài đặt môi trường dùng phát triển (tức hệ thống SAP dùng để thực hiện
cấu hình hệ thống)
Giai đoạn 3 – Thực hiện
Mục đích của giai đoạn này là triển khai yêu cầu quy trình và kinh doanh dựa
trên Mô tả Quy trình Kinh doanh.Các hoạt động bao gồm cấu hình một hệ thống
SAP, phát triển các giao diện, chuyển đổi và cải tiến cho SAP (như báo cáo đặc thù,
màn hình và chức năng bổ sung); kiểm tra đơn vị (unit test) và thử nghiệm tính tích
hợp (integration test). Cũng bao gồm cả cài đặt hệ thống đảm bảo chất lượng và hệ
thống chính thức của SAP, viết tài liệu hướng dẫn sử dụng và ghi nhận các quá
trình, và phát triển các thiết lập về quyền truy nhập (bảo mật) SAP.
Giai đoạn 4 – Chuẩn bị cuối cùng
Mục đích của giai đoạn này là hoàn thành các hoạt động chuẩn bị cuối cùng
trước khi chạy thật, bao gồm cả việc thử nghiệm hệ thống, đào tạo người dùng,
quản lý hệ thống, triển khai và các hành động dứt điểm. Giai đoạn chuẩn bị cuối
cùng này được dùng được giải quyết tất cả các vấn đề phát sinh quan trọng trong
toàn bộ dự án.
Giai đoạn 5 – Chạy thật và hỗ trợ
Mục đích của giai đoạn này là:
• Đảm bảo thành lập được một đội hỗ trợ hiệu quả
• Giúp doanh nghiệp trong việc hỗ trợ hệ thống thật cho đến lần đóng kỳ đầu tiên.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 67 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
• Giúp hoàn thành việc đào tạo người sử dụng
-Giải quyết các vấn đề phát sinh
Với phương pháp triển khai phù hợp với đặc thù ngành và kinh nghiệm của
đội dự án FPT-IS, Thép Việt không dừng lại ở mức thăm dò, thử nghiệm ở quy mô
nhỏ như một số doanh nghiệp khác vẫn làm mà Ban lãnh đạo và toàn thể nhân viên
Thép Việt – Pomina đã quyết tâm làm từng bước một, nhưng là những bước đi chắc
chắn, đảm bảo thành công. Sau 18 tháng triển khai, tháng 5 năm 2010 hệ thống đã
được đưa vào vận hành chính thức tại Thép Việt theo đúng các tiêu chuẩn của hãng
SAP và các tiêu chí quản lý của doanh nghiệp.
Từ bài học thành công của Thép Việt cho thấy việc xây dựng dự án một cách
bài bản là lâu dài, tuân thủ đúng theo các quy tắc triển khai của nhà cung cấp giải
pháp sẽ hạn chế được những rủi ro không đáng có và góp phần quan trọng vào
thành công của cả dự án ERP.
2.4. Giới thiệu về các đơn vị tư vấn triển khai hệ thống quản trị nguồn lực
doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam
Các phần trên của luận văn đã giới thiệu về các giải pháp ERP hàng đầu trên thế
giới và các giải pháp ERP do các hãng phần mềm của Việt Nam xây dựng và phát
triển. Để triển khai thành công một hệ thống ERP, thì ngoài doanh nghiệp có nhu
cầu sử dụng hệ thống và các hãng cung cấp giải pháp, thành phần thứ ba đóng vai
trò rất quan trọng trong việc triển khai thành công một dự án ERP đó là các đơn vị
tư vấn phần triển khai giải pháp. Đây chính là các đơn vị hiện thực hóa giải pháp
ERP vào ứng dụng tại các doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong sự thành
công của một dự án ERP. Tại thị trường Việt Nam, các đơn vị tư vấn triển khai ERP
của Việt Nam chiếm ưu thế hơn các đơn vị tư vấn của nước ngoài do lợi thế về
ngôn ngữ khi đàm phán, khi nghiên cứu tìm hiểu thực tế hoạt động của doanh
nghiệp Việt Nam cũng như khi triển khai và chuyển giao công nghệ. Hơn nữa, các
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 68 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
doanh nghiệp tư vấn Việt Nam có lợi thế hơn các doanh nghiệp tư vấn nước ngoài
do đã quen thuộc với việc xử lý các dữ liệu liên quan đến kế toán và thuế theo tiêu
chuẩn kế toán của Việt Nam do Bộ tài chính ban hành.
Phần dưới đây sẽ trình bày về các công ty Việt Nam chuyên tư vấn triển khai
giải pháp ERP có năng lực đảm nhiệm các dự án ERP cỡ lớn.
2.4.1. Công ty TNHH Dịch vụ ERP FPT
Công ty TNHH Dịch vụ ERP FPT (gọi tắt là FPT ERP) là công ty con của công
ty Hệ thống thông tin FPT (FPT-IS), thành viên của tập đoàn FPT. Với kinh nghiệm
hoạt động lâu năm trong lĩnh vực CNTT, FPT ERP hiện là nhà cung cấp dịch vụ tư
vấn triển khai ERP hàng đầu Việt Nam hiện nay. Bằng việc xây dựng những gói
giải pháp có tính thực tiễn cao dựa trên nền tảng các giải pháp của các hãng Oracle,
SAP, FPT ERP đã xây dựng các giải pháp chuyên sâu cho các ngành kinh tế: tài
chính, công nghiệp, xây dựng, sản xuất, thương mại, dầu khí…
Với thế mạnh về đội ngũ nhân sự, FPT ERP có đội ngũ gần 500 chuyên gia
ERP giàu kinh nghiệm và nắm vững nghiệp vụ của khách hàng trong từng lĩnh vực,
trong đó chiếm 2/3 là các chuyên gia tư vấn cao cấp được đào tạo bài bản và chuyên
sâu. FPT ERP hiện là đối tác cao cấp nhất về triển khai các giải pháp ERP của các
hãng SAP, Oracle tại Việt Nam, hai hãng giải pháp ERP chiếm thị phần lớn nhất thế
giới về ERP. Bên cạnh kinh nghiệm phong phú về các giải pháp của các hãng SAP,
Oracle, FPT ERP còn có nhiều kinh nghiệm phát triển các sản phẩm như các phần
mềm phục vụ quản lý doanh nghiệp như quản lý nhân sự tiền lương, phần mềm tài
chính kế toán, phần mềm quản trị kinh doanh…nhằm đáp ứng toàn diện và đầy đủ
các yêu cầu của khách hàng thuộc mọi quy mô và ngành nghề kinh doanh.
FPT là một trong những số ít đơn vị tư vấn tại Việt Nam có khả năng tư vấn
trọn gói về một giải pháp quản lý doanh nghiệp từ tư vấn chọn lựa giải pháp ERP,
tư vấn triển khai giải pháp, phát triển phần mềm theo yêu cầu đặc thù đến dịch vụ
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 69 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
đào tạo ERP. Trong đó chiếm số lượng nhiều nhất là tư vấn triển khai dự án ERP
của các hãng Oracle và SAP.
Hình 2.8: Danh sách khách hàng của công ty FPT ERP
Năm 2009 doanh số của FPT IS ERP đạt 158,3 tỷ VND, trong đó FPT IS ERP
đã ký hàng loạt hợp đồng với các doanh nghiệp như SP-PSA, Sonadezi, REE, Nova
Group, Thủ Đức House, Công ty Bánh kẹo Phạm Nguyên. Dự án phức tạp nhất về
giải pháp và phạm vi triển khai với Tập đoàn Đồng Tâm đã nghiệm thu tổng thể
toàn bộ dự án với sự hài lòng của Đồng Tâm về đội ngũ FPT IS. Đặc biệt, năm
2009 đánh dấu bước chuyển đổi của kinh doanh ERP của FPT IS: ký hợp đồng tổng
thầu ERP kỷ lục lịch sử CNTT Việt Nam với Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam
(Petrolimex) trị giá 12,6 triệu USD. FPT IS sẽ cung cấp tới Petrolimex giải pháp
ERP đã được triển khai và sử dụng thành công tại các công ty xăng dầu thuộc Top-
50 trong “Global 500” của tạp trí Fortune như BP, TOTAL, Chevron, PetroChina,
ExxoMbil, Gazprom. Royal Dutch Sell, Sinopec, Petrobras…Dự án được triển khai
ở 111 điểm thuộc 41 công ty thành viên với gần 1500 người sử dụng của Petrolimex
trên toàn quốc. FPT IS ERP hiện là công ty số 1 Việt Nam trong lĩnh vực tính cả về
quy mô doanh số và nguồn lực.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 70 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
2.4.2. Công ty cổ phần công nghệ mới Kim Tự Tháp Việt Nam
Công ty cổ phần công nghệ mới Kim Tự Tháp Việt Nam (PYTHIS) được thành
lập từ năm 2000, công ty cổ phần PYTHIS đã có văn phòng tại 3 trung tâm lớn của
cả nước là Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. PYTHIS là công ty có tốc độ tăng
trưởng rất nhanh, đặc biệt trong giai đoạn 2006, 2007, PYTHIS có mức tăng trưởng
trên 100% và liên tục mở rộng hoạt động. PYTHIS là đơn vị tư vấn triển khai ERP
được đánh giá rất cao bởi chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng, bên
cạnh đó PYTHIS còn là đối tác chiến lược của các hãng giải pháp ERP lớn như
Oracle, SAP tại Việt Nam và ĐÔng Nam Á. Đặc biệt, với Oracle, PYTHIS vượt lên
là một nhà tư vấn triển khai và cung cấp giá trị gia tăng, PYTHIS đã được công
nhận là đối tác chiến lược cao cấp của Oracle, danh hiệu cao nhât mà một đối tác có
thể đạt được đối với Oracle. Hiện nay, PYTHIS là nhà cung cấp các giải pháp phần
mềm hàng đầu Việt Nam, luôn cập nhập và áp dụng những phương pháp luận và
công cụ tiên tiến nhất nhằm phục vụ tất cả các nhu cầu về công nghệ thông tin ngày
càng gia tăng của các doanh nghiệp trong nước và trong khu vực. PYTHIS là đơn vị
triển khai có uy tín trong các dự án ERP có quy mô lớn và phức tạp do PYTHIS có
đội ngũ chuyên gia tư vấn có năng lực chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu sắc về
nghiệp vụ. Các dự án triển khai ERP điển hình đã được PYTHIS triển khai thành
công như dự án ERP tại công ty xi măng Nghi Sơn Cement, liên hiệp hợp tác xã
thương mại Thành phố Hồ Chí Minh, Saigon Co-op.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 71 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
CHƯƠNG 3
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ỨNG DỤNG CÁC HỆ THỐNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC
DOANH NGHIỆP ERP TẠI VIỆT NAM
3.1. Định hướng lựa chọn và ứng dụng các hệ thống ERP cho các doanh nghiệp
theo nhóm các ngành nghề đặc thù
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng với nhiều loại
hình dịch vụ và sản xuất kinh doanh khác nhau, trong đó các ngành kinh tế mũi
nhọn của đất nước như ngành thủy sản, ngành khai khoáng, công nghiệp dịch
vụ….Các doanh nghiệp đã không còn hoạt động riêng lẻ và đơn độc mà đã được tổ
chức thành các hiệp hội doanh nghiệp theo ngành nghề, đây là cơ hội tốt cho các
doanh nghiệp cùng ngành nghề cạnh tranh lành mạnh, và tăng cường sức mạnh khi
tham gia giao dịch trên thương trường quốc tế đồng thời chia sẻ những kinh nghiệm
kinh doanh, vận hành hoạt động.Việc tăng cường năng lực quản lý, nâng cao hiệu
quả kinh doanh cũng nâng cao hình ảnh của các hiệp hội ngành nghề này. Ngược
lại, với sức mạnh của một hiệp hội, hiệp hội ngành nghề có nhiều cơ hội đầu tư
nghiên cứu, tố chức các chuyến tham quan học hỏi từ các mô hình thành công trên
thế giới và tại Việt Nam để đưa vào giới thiệu các mô hình này cho các doanh
nghiệp tại Việt Nam.
Trên thế giới đã có rất nhiều giải pháp ERP cho các ngành nghề chuyên biệt
như nhóm giải pháp ERP cho các doanh nghiệp ô tô, nhóm giải pháp cho các doanh
nghiệp bán lẻ, nhóm giải pháp cho các doanh nghiệp chế biến thực phẩm đồ
uống…Tuy nhiên như đã trình bày ở trên, nhiều doanh nghiệp không tiếp cận được
các thông tin về giải pháp và các thông tin có tính định hướng để có sự lựa chọn,
chuẩn bị phù hợp với doanh nghiệp. Mặc dù tại Việt Nam, đã có nhiều doanh
nghiệp đi tiên phong trong việc ứng dụng thành công hệ thống ERP như thành công
của Giấy Sài Gòn hay Thép Việt nhưng các doanh nghiệp cùng ngành nghề không
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 72 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
có thông tin tham khảo. Nhằm khắc phục khó khăn đã nêu trên đây, các Hiệp hội
ngành nghề cần có định hướng cho các doanh nghiệp thành viên trong việc lựa chọn
và ứng dụng hệ thống ERP theo các ngành nghề của Hiệp hội. Ví dụ như Hiệp hội
giấy và bột giấy Việt Nam, hiệp hội Thép Việt Nam có thể định hướng và cung cấp
thông tin tham khảo cho các doanh nghiệp thành viên của hiệp hội tham quan học
hỏi từ dự án triển khai ERP tại Thép Việt hay Giấy Sài Gòn.
Một điển hình về việc các hiệp hội đã góp phần định hướng đúng về việc
dụng hệ thống ERP vào quản lý doanh nghiệp cho các doanh nghiệp trong ngành là
hiệp hội các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam (VASEP). Hiện nay, các doanh
nghiệp thủy sản Việt Nam đã đầu tư rất lớn vào cơ sở vật chất, không thua kém các
doanh nghiệp lớn thuộc các lĩnh vực khác, tuy nhiên việc ứng dụng linh hoạt các
giải pháp công nghệ hiện đại vào các quy trình quản lý kinh doanh nhằm nâng cao
hiệu quả dòng vốn, chất lượng sản phẩm, quản lý hàng tồn kho, và các quy trình
xuất nhập hàng, quản lý hệ thống phân phối, cụ thể hơn là việc ứng dụng hệ thống
ERP vẫn chưa được các doanh nghiệp thủy sản quan tâm và đầu tư đúng mức. Đánh
giá đúng được những tác động tích cực mà hệ thống ERP mang lại cho doanh
nghiệp, đóng vai trò là hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu
thủy sản Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đã có sự phối hợp
với các đơn vị tư vấn giải pháp ERP chuyên trong lĩnh vực thủy sản tổ chức các
buổi hội thảo, nhằm giúp các doanh nghiệp trong hiệp hội nhận thức được đúng
những khó khăn vướng mắc trong quá trình quản lý doanh nghiệp cùng với việc đầu
tư đúng mực, và giới thiệu các giải pháp công nghệ hiện đại trong quản trị kinh
doanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Bên cạnh đó, Hiệp hội doanh nghiệp
thủy sản Việt nam đã hỗ trợ cho các doanh nghiệp tiên phong trong việc ứng dụng
hệ thống quản lý doanh nghiệp như Anvifish, dựa trên kinh nghiệm của các doanh
nghiệp đã từng ứng dụng hệ thống ERP trong ngành, VASEP tổ chức các buổi tham
quan học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm cho các doanh nghiệp thành viên hiệp hội. Đây
là một cách làm hay mà hiệp hội doanh nghiệp của các nhóm ngành khác có thể vận
dụng nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng ERP trong ngành đặc thù của mình. Những
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 73 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
hoạt động của VASEP đã giúp các doanh nghiệp có quyết định đúng đắn và hướng
triển khai phù hợp với doanh nghiệp có ngành nghề đặc thù như thủy sản.
3.2. Phát triển các giải pháp ERP Việt Nam cho doanh nghiệp Việt Nam
Công nghệ thông tin nói chung và công nghệ phần mềm của Việt Nam đã có
những bước phát triển vượt bậc, đưa Việt Nam đứng vào hàng ngũ các quốc gia có
nền công nghệ thông tin phát triển trên thế giới. Có thể nói công nghệ phần mềm là
một thế giới phẳng, bình đẳng cho mọi quốc gia mọi tổ chức trên thế giới. Tuy
nhiên hiện nay, ngành công nghiệp phần mềm của Việt Nam mặc dù đã nắm bắt
được công nghệ mới và hiện đại nhưng vẫn tập trung vào việc gia công phần mềm
cho các quốc gia khác mà chưa có các sản phẩm các giải pháp phần mềm có giá trị
cao, đưa vào ứng dụng rộng rãi. Đa phần các giải pháp ERP được ứng dụng tại Việt
Nam hiện nay đều từ các hãng giải pháp nổi tiếng thế giới. Tuy không thể phủ nhận
rằng, các giải pháp quốc tế này đều được đúc kết và xây dựng từ kinh nghiệm nhiều
năm và sự cải tiến liên tục, các giải pháp này đều đã đạt đến sự hoàn thiện cao trong
quy trình vận hành và triển khai nhưng do hạn chế về năng lực tài chính các doanh
nghiệp Việt Nam tại Việt Nam không có cơ hội triển khai các giải pháp của các
hãng giải pháp này.
Hơn nữa, đa phần là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, quy mô sản xuất kinh
doanh nhỏ có tính đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, bên cạnh đó nguồn nhân lực
còn hạn chế về chuyên môn và ngoại ngữ, do dó dù trong thực tế doanh nghiệp có
nhu cầu sử dụng hệ thống ERP vào quản lý nhưng không có lựa chọn về giải pháp
để triển khai do những hạn chế vừa nêu.
Xuất phát từ những khó khăn đó, tác giả kiến nghị đề xuất hướng phát triển
các giải pháp ERP nội địa. Đây cũng là hướng mà nhiều doanh nghiệp sản xuất
phần mềm trong nước đang hướng tới dựa trên cơ sở kinh nghiệm và kiến thức về
những đặc thù riêng các doanh nghiệp Việt Nam. Các giải pháp ERP nội địa thường
được thiết kế đơn giản, giao diện bằng tiếng Việt, chi phí bản quyền và triển khai rẻ,
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 74 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
hoàn toàn phù hợp với điều kiện của các doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, vấn
đề còn tồn tại tại các đơn vị cung cấp giải pháp ERP Việt Nam là tuy đơn vị này rất
mạnh về công nghệ nhưng còn nhiều hạn chế về quy trình xử lý và hoạt động của
doanh nghiệp nên không thể đảm đương hết toàn bộ các phân hệ của một hệ thống
ERP hoàn chỉnh, hoặc chỉ có thể xử lý được một vài phân hệ thế mạnh như kế toán,
nhân sự. Sự thiếu hoàn chỉnh này sẽ dẫn đến việc thiếu đồng bộ cho doanh nghiệp
khi phải kết hợp nhiều giải pháp khác nhau trong một hệ thống dữ liệu chung của
doanh nghiệp.
Để khắc phục thiếu sót trên, các đơn vị sản xuất và tư vấn triển khai giải
pháp ERP dưới sự định hướng của các tổ chức nhà nước như Bộ thông tin và truyền
thông, các hiệp hội như Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam và các tổ chức
hỗ trợ doanh nghiệp như Phòng thương mại và công nghệ Việt Nam thiết kế các
giải pháp ERP dưới dạng mở, cho phép dễ dàng tích hợp với các giải pháp khác.
Đây là một xu thế chung của ngành công nghiệp phần mềm trên toàn thế giới, khi
đưa ra các bộ tiêu chuẩn giao diện đầu ra có khả năng tích hợp mở rộng cao, đồng
thời mở rộng lựa chọn cho doanh nghiệp khi có thể lựa chọn được các phân hệ
thuộc các giải pháp khác nhau phù hợp với thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Với cách làm này, các đơn vị sản xuất phần mềm nhỏ có thể kết
hợp được thế mạnh của mình trong các phân hệ chức năng để trở thành các giải
pháp tổng thể hoàn thiện. Mô hình này cần được sự định hướng và giúp đỡ của các
tổ chức và nhà nước để từng bước giúp doanh nghiệp có nhiều cơ hội hơn nữa tiếp
cận với các giải pháp quản lý hiện đại và phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Việt Nam.
3.3. Đề xuất quy trình lựa chọn giải pháp và triển khai hiệu quả hệ thống ERP
tại các doanh nghiệp tại Việt Nam
Quyết định triển khai ERP là một quyết định khó khăn và có tầm ảnh hưởng
đến toàn bộ doanh nghiệp, vì vậy đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp cần có những đánh
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 75 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
giá đúng về nhu cầu quản lý doanh nghiệp, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần có sự đồng hành của bên tư vấn tiền giải pháp nhằm
làm rõ hơn các yếu tố rủi ro tiềm ẩn trong dự án khi triển khai hệ thống.
Để triển khai thành công một dự án ERP cần có rất nhiều yếu tố, từ yếu tố
bên ngoài đến yếu tố nội tại trong doanh nghiệp, từ nghiên cứu về tình hình triển
khai các hệ thống ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam, qua khảo sát tại các
doanh nghiêp và đúc rút kinh nghiệm tư vấn triển khai cho thấy khó khăn lớn nhất
đối với doanh nghiệp là việc lựa chọn được giải pháp phù hợp. Nhằm giúp các
doanh nghiệp vượt qua được khó khăn này, tác giả đề xuất quy trình và nêu ra các
yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp xác định được yêu cầu của doanh nghiệp và
lựa chọn được các giải pháp phù hợp.
3.3.1. Lựa chọn đúng giải pháp và đơn vị triển khai
Yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất quyết định sự thành bại của một dự án
ERP là việc lựa chọn đúng giải pháp. Trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay, các
giải pháp ERP rất đa dạng và phong phú, đáp ứng cho mọi loại hình và quy mô
doanh nghiệp. Các đơn vị xây dựng và tư vấn giải pháp nhằm đạt được mục đích
kinh doanh thường có xu hướng hoàn hảo hóa khả năng đáp ứng của giải pháp, tức
là với bất kỳ bài toán nghiệp vụ nào mà doanh nghiệp đặt ra giải pháp đều có thể
đáp ứng hoàn toàn. Bên cạnh đó, năng lực tư vấn tiền giải pháp ERP tại Việt Nam
còn rất thiếu sót do đó doanh nghiệp cần tự đánh giá được mức độ phù hợp của giải
pháp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chứ không phụ thuộc vào
đơn vị tư vấn giải pháp.
Để đánh giá và lựa chọn được đúng giải pháp, trước hết doanh nghiệp cần tự
xây dựng được các bộ tiêu chí để đánh giá được mức độ phù hợp của giải pháp với
doanh nghiệp. Các bộ tiêu chí đánh giá giải pháp ERP cần tập trung vào nhiều yếu
tố, chứ không chỉ đơn thuần là đánh giá chức năng của hệ thống hay gói phần mềm
nào có thể tạo ra được các báo cáo mà doanh nghiệp cần.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 76 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Để có thể lựa chọn được một hệ thống ERP phù hợp hoàn toàn phụ thuộc vào
các điều kiện nội tại của từng doanh nghiệp, do đó quy trình đánh giá, lựa chọn một
hệ thống ERP cho các doanh nghiệp khác nhau là không giống nhau. Tuy nhiên có
những bước cơ bản có thể được áp dụng chung cho các doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần xác định được mục tiêu của doanh nghiệp khi triển khai
dự án ERP. Các doanh nghiệp thường nghĩ đến việc ứng dụng các hệ thống tiên tiến
vào doanh nghiệp khi gặp phải các khó khăn trong quá trình quản lý hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà các công cụ quản lý hiện tại không thể giải
quyết được. Trước hết khi xác định được những khiếm khuyết của các công vụ quản
lý hiện tại sẽ giúp doanh nghiệp xác định được những mục tiêu và yêu cầu cần thiết
cho hệ thống ERP. Xét về mặt chức năng, ít nhất hệ thống ERP được lựa chọn phải
đảm bảo đáp ứng được các tính năng như các công cụ quản lý hiện tại và giải quyết
được các khó khăn mà công cụ quản lý hiện tại chưa đáp ứng. Ở mức độ xác định
mục tiêu của hệ thống cho phép doanh nghiệp xác định được các phân hệ chức năng
của một hệ thống ERP cần thiết cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, mục tiêu của dự án còn được xác định dựa trên nền tảng chiến
lược kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp, bao gồm các chiến lược phát triển trong
ngắn hạn và dài hạn. Nếu doanh nghiệp xác định được chiến lược kinh doanh càng
dài hạn thì việc lựa chọn giải pháp ERP cần tính đến các tính năng đáp ứng được
nhu cầu mở rộng của doanh nghiệp trong tương lai chứ không chỉ xác định nhu cầu
tại thời điểm hiện tại.
Doanh nghiệp nên tổ chức một nhóm các chuyên viên từ nhiều phòng ban
chức năng của doanh nghiệp để xác định rõ mục tiêu đề ra cho hệ thống. Kể cả khi
sử dụng dịch vụ tư vấn tiền giải pháp với đội tư vấn chuyên nghiệp, doanh nghiệp
vẫn cần xây dựng một nhóm chuyên gia chuyên trách hoặc kiêm nhiệm về hệ thống
ERP trong doanh nghiệp. Nhóm chuyên gia này cần có sự tham gia của những cá
nhân đại diện cho các phòng, ban chức năng và đơn vị thành viên trong doanh
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 77 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
nghiệp. Người đứng đầu nhóm chuyên gia này phải là thành viên trong ban lãnh đạo
doanh nghiệp để có tầm nhìn chiến lược và báo cáo trực tiếp cho ban lãnh đạo
doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã sai lầm khi thành lập nhóm đánh giá dự án
chỉ là các cán bộ phòng công nghệ thông tin và giao hết việc đánh giá hệ thống
ERP cho phòng này thực hiện. Sự tham gia của đại diện các phòng, ban này trong
nhóm chuyên gia dự án ERP sẽ giúp các phòng ban hiểu thêm về công việc của các
phòng, ban khác, từ đó giúp họ hiểu được sự quan trọng của việc chia sẻ và tích hợp
thông tin trong toàn doanh nghiệp, từ đó làm tiền đề cho việc hợp tác đồng thuận
khi triển khai hệ thống ERP.
Khi đã xác định được mục tiêu của hệ thống, doanh nghiệp cần đánh giá
được hiện trạng của doanh nghiệp để làm cơ sở nền tảng cho việc triển khai hệ
thống ERP. Hệ thống ERP chỉ là một phần của hệ thống, cùng với quy trình kinh
doanh, cơ cấu tổ chức, chính sách quản lý, hạ tầng công nghệ thông tin sẽ tạo thành
một hệ thống thông tin tổng thể quản lý doanh nghiệp. Việc lựa chọn hệ thống ERP
nào để triển khai ngoài việc đáp ứng được các mục tiêu còn cần xem xét đến sự
thích ứng và đồng bộ với tổng thể doanh nghiệp.
Để xác định hiện trạng hệ thống thông tin quản lý, doanh nghiệp nên đánh
giá dựa trên 4 yếu tố cơ bản sau: quy trình kinh doanh, cơ cấu tổ chức, hạ tầng công
nghệ thông tin và chính sách kinh doanh. Về quy trình kinh doanh: cần tìm hiểu và
nhận diện quy trình sản xuất kinh doanh từ các phòng, ban và đơn vị thành viên
trong doanh nghiệp. Hệ thống ERP nào có khả năng đáp ứng được càng nhiều yêu
cầu quản lý từ quy trình sản xuât kinh doanh càng được đánh giá cao khi xem xét
lựa chọn giải pháp ERP. Về cơ cấu tổ chức: cần xác định rõ sơ đồ tổ chức hiện tại
và tương lai, vai trò trách nhiệm của các phòng, ban và bản mô tả công việc cho các
vị trí trong doanh nghiệp. Về hạ tầng công nghệ thông tin cần xác định hiện trạng về
phần cứng, phần mềm, sự giao tiếp dữ liệu giữa các hệ thống quản lý và ứng dụng
hiện có và hệ thống mạng nối kết giữa các phòng, ban, đơn vị với nhau. Về chính
sách kinh doanh, cần xem xét các yếu tố bao gồm quy định về đặt hàng, quản lý hạn
mức tín dụng và các tiêu chí đánh giá hiệu năng công việc.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 78 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Thông qua việc xác định hiện trạng hệ thống thông tin quản lý ở trên, doanh
nghiệp sẽ xác định được các điểm yếu, các điểm tắc nghẽn thông tin trong hệ thống
quản lý tổng thể hiện tại trên hai phương diện, bản thân cơ cấu tổ chức và vận hành
doanh nghiệp và hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp. Đây cũng là cơ hội cho
doanh nghiệp có cơ hội để tổ chức lại cơ cấu doanh nghiệp để cải thiện hiệu năng
làm việc trong bản thân doanh nghiệp và đưa ra định hướng xử lý các vấn đề của hệ
thống thông tin.
Khi đã xác định được mục tiêu và đánh giá được hiện trạng của doanh
nghiệp, doanh nghiệp cần xây dựng được bộ hồ sơ mô tả các yêu cầu nghiệp vụ và
kỹ thuật. Từ bộ tiêu chí và hồ sơ nghiệp vụ này, doanh nghiệp có thể tự đánh giá để
lựa chọn giải pháp ERP phù hợp. Bên cạnh các yêu cầu chức năng, các tiêu chí đánh
giá khác như ngân sách hay và lịch trình dự án cũng được xem xét cho phù hợp với
doanh nghiệp. Cũng giống như những bài toán đầu tư khác của doanh nghiệp, song
song với các tiêu chí đánh giá là những trọng số cho biết mức độ quan trọng của
mỗi tiêu chí đối với doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp khác nhau cho dù có chung bộ
tiêu chí đánh giá nhưng sẽ có bộ trọng số khác nhau. Bên cạnh đó, doanh nghiệp
cũng cần đánh giá các tiêu chí nhằm xác định năng lực của đơn vị tư vấn giải pháp
có khả năng tư vấn triển khai các giải pháp được lựa chọn. Tiêu chí này thường bao
gồm các yếu tố như năng lực chuyên môn, kinh nghiệm triển khai, khả năng tổ chức
huấn luyện người dùng, khả năng chỉnh sửa phần mềm theo yêu cầu, dịch vụ bảo
hành hệ thống và nâng cấp phiên bản cập nhật do những thay đổi theo luật định.
Như vậy về cơ bản nếu doanh nghiệp có thể tuân theo các quy trình như đã
trình bày trên đây về tiêu chí đánh giá hệ thống và đánh giá năng lực nhà cung cấp
thì doanh nghiệp đã có cơ sở quan trọng để quyết định lựa chọn giải pháp ERP
khách quan, công bằng và rõ ràng.
Về phía doanh nghiệp, mặc dù đã xác định được rõ ràng các tiêu chí đánh giá
lựa chọn phần mềm để sơ bộ lựa chọn được các giải pháp phù hợp, doanh nghiệp
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 79 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
vẫn cần tiếp cận và xem xét thực tế vận hành của một số hệ thống ERP đã được lựa
chọn. Thông qua các buổi demo hệ thống do các đơn vị tư vấn triển khai thực hiện
doanh nghiệp có thể xác định trên thực tế khả năng đáp ứng của hệ thống ERP đối
với doanh nghiệp. Đội chuyên gia cần xây dựng các tình huống cụ thể để kiểm tra
cách thức xử lý của hệ thống có đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp hay không.
Các tình huống cụ thể mà doanh nghiệp đưa ra giúp doanh nghiệp đánh giá được
các tiêu chí như vận hành thuận tiện và thân thiện với người dùng, đây là các yếu tố
được người trực tiếp sử dụng quan tâm mà đôi khi đội chuyên gia chưa quan tâm
đến. Về cơ bản qua các bước của quy trình đánh giá lựa chọn giải pháp ERP, doanh
nghiệp đã có thể xác định được giải pháp ERP nào phù hợp với doanh nghiệp trong
vô số các giải pháp ERP trên thị trường hiện nay.
3.3.2. Lựa chọn đúng đơn vị tư vấn triển khai giải pháp đã được chọn
Ngay cả khi đã lựa chọn được giải pháp ERP phù hợp với doanh nghiệp,
doanh nghiệp vẫn cần có quy trình để xác định được đúng đơn vị tư vấn triển khai
giải pháp. Đây cũng là yếu tố quan trọng như việc lựa chọn đúng giải pháp. Làm
việc với đơn vị tư vấn tư vấn triển khai có đủ năng lực chuyện môn và kinh nghiệm
sẽ đảm bảo được tiến độ của dự án cũng như khai thác được tối đã những tính năng
và lợi ích của giải pháp đã được lựa chọn. Các doanh nghiệp có thể tự lựa chọn đơn
vị tư vấn triển khai hoặc thông qua đơn vị tư vấn tiền giải pháp. Trong những năm
gần đây, việc lựa chọn giải pháp và lựa chọn đơn vị tư vấn thường được thực hiện
bởi các đơn vị tư vấn tiền giải pháp chuyên nghiệp. Các đơn vị tư vấn tiền giải pháp
có kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc về các hệ thống sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm
được thời gian và cả chi phí cho quá trình này.
3.3.3. Lập kế hoạch triển khai dự án, xác định phạm vi dự án rõ ràng
Khi đã bắt tay vào triển khai hệ thống ERP tại doanh nghiệp, doanh nghiệp
cần tự lập kế hoạch triển khai một cách thực tế và chi tiết sẽ đảm bảo rằng doanh
nghiệp vẫn đang được vận hành binh thườn đồng thời kiểm soát được tiến độ thực
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 80 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
hiện dự án và trách nhiệm của từng phòng ban chức. Đây là những công việc cơ bản
trong việc thực hiện bất kỳ dự án nào của doanh nghiệp chứ không chỉ là các dự án
triển khai ERP. Trong quá trình triển khai, doanh nghiệp sẽ cùng làm việc với đơn
vị tư vấn theo các bộ quy trình triển khai tiêu chuẩn của từng hãng giải pháp. Tuy
nhiên về phía doanh nghiệp khi xác định phạm vi dự án rõ ràng và lập được kế
hoạch triển khai sẽ giúp quá trình làm việc với đơn vị tư vấn hiệu quả và tiết kiệm
thời gian cho cả hai phía.
Có một thực tế đang diễn ra phổ biến tại các dự án ERP tại Việt Nam đó là
thời gian triển khai gần như luôn kéo dài hơn so với kế hoạch ban đầu. Việc kéo dài
thời gian triển khai xảy ra do nhiều nguyên nhân cơ bản như thay đổi nhân sự, mức
độ phức tạp của nghiệp vụ và các nghiệp vụ phát sinh đòi hỏi phải tùy biến hệ thống
đòi hỏi hay thay đổi quy mô triển khai…tuy nhiên, còn có một nguyên nhân chung
đó là khi lập kế hoạch. Doanh nghiệp cần được tư vấn bởi đơn vị triển khai để đặt ra
các mốc thời gian một cách phù hợp và thực tế. Đôi khi, do đơn vị triển khai không
ước lượng được khối lượng công việc phải làm và do sự hối thúc của doanh nghiệp
để hoàn thành dự án sớm nhất có thể các mốc thời gian phi thực tế được đặt ra. Các
hãng xây dựng giải pháp đã đưa ra các bộ quy trình tư vấn triển khai và tiến trình
thực hiện để các doanh nghiệp tham khảo, doanh nghiệp cần vận dụng linh hoạt và
nhìn vào thực tế hoạt động của doanh nghiệp.
Một trong những nguyên nhân làm thay đổi thời gian triển khai dự án là sự
thay đổi phạm vi giữa chừng, đây là yếu tố tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với hầu hết các
dự án. Khi bổ sung một điểm triển khai, hoặc một phân hệ đồng nghĩa với việc phải
đầu tư thêm nguồn lực và thay đổi cấu trúc, kế hoạch dự án. Vì vậy, đội chuyên gia
của doanh nghiệp cần tập trung vào các tiêu chí và mục tiêu đã được xác định ban
đầu, trong trường hợp cần mở rộng hoặc thay đổi phạm vi dự án có thể được tách
thành giai đoạn hai để không làm ảnh hưởng đến việc triển khai hiện tại.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 81 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khi doanh nghiệp quyết định triển khai ERP dựa trên các mục tiêu và tiêu
chí, phạm vi rõ ràng thì doanh nghiệp có thể tự xác định được mức độ thành công
của dự án. Thành công của một dự án ERP không chỉ được đo đạc bằng các tiêu
chuẩn thông thường như hoàn thành đúng thời gian hay đúng ngân sách. Thành
công thực sự của một dự án ERP khi doanh nghiệp đã lựa chọn được giải pháp và
triển khai hiệu quả hệ thống ERP, thành công này được thể hiện trong việc giải
quyết hoàn toàn các bài toán nghiệp vụ cũng như yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
cũng như mức độ hài lòng của đội ngũ nhân viên với hệ thống đó. Mức độ thành
công còn được một cách lượng hóa qua lợi ích thực tế doanh nghiệp thu được khi
đầu tư hệ thống ERP như tăng năng suất, giảm được chi phí, tiết kiệm nguyên vật
liệu, minh bạch hóa tài chính…
3.3.4. Xây dựng và duy trì đội dự án trong doanh nghiệp
Ngay từ giai đoạn đánh giá lựa chọn giải pháp và đơn vị tư vấn, doanh
nghiệp đã xây dựng được một đội chuyên gia. Đội chuyên gia này cần được duy trì
và bổ sung thêm nhân lực để thành lập đội dự án, đây là nguồn nhân lực chính sẽ
tham gia triển khai dư án cùng với đơn vị tư vấn triển khai.
Đánh giá thấp các yêu cầu và vai trò của đội dự án nội bộ là một trong những
nguyên nhân dễ dẫn đến thất bại trong dự án ERP vì không có đơn vị tư vấn triển
khai nào hiểu doanh nghiệp hơn chính bản thân doanh nghiệp. Những kỹ năng, kinh
nghiệm và nỗ lực của đội dự án là tối quan trọng đối với việc triển khai. Bởi họ
chính là những người phối hợp với đơn vị triển khai để xây dựng hệ thống và cũng
chính họ sau này sẽ là những người tiếp nhận, vận hành hệ thống. Đội dự án cần lựa
chọn những nhân viên lâu năm, am hiểu nghiệp vụ cũng như nắm rõ các vấn đề mà
doanh nghiệp đang gặp phải để tham gia vào đội dự án. Cũng cần đảm bảo rằng đây
là những người sẽ gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Trong thời gian triển khai dự
án, doanh nghiệp cần có sự bố trí phù hợp về công việc cũng như nhưng ưu đãi cho
thành viên triển khai dự án. Cũng như đội chuyên gia, đội dự án cần có sự tham gia
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 82 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
của lãnh đạo doanh nghiệp để đảm bảo đội dự án triển khai hệ thống đủ sức mạnh
và năng lực để tác động đến đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp khi thay đổi hoạt
động sản xuất kinh doanh theo hệ thống mới. Đội dự án đủ mạnh cũng cho phép dự
án triển khai có những thay đổi phù hợp về tiến độ, về tài chính và nhân sự trong
phạm vi cho phép.
3.3.5. Nâng cao hiệu quả chuyển giao hệ thống và đào tạo sử dụng hệ thống
Bản chất của hệ thống ERP chỉ là một hệ thống phần mềm, toàn bộ quy trình
hoạt động và vận hành của hệ thống phụ thuộc vào nhân viên của doanh nghiệp,
những người thực sự làm chủ hệ thống. Do đó, công tác đào tạo hướng dẫn sử dụng
cho nhân viên là công tác đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành hệ thống, do
hệ thống đã làm thay đổi đáng kể đến cách thức làm việc của rất nhiều bộ phận
trong toàn bộ doanh nghiệp. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp không chú trọng đến
công tác đào tạo cho nhân viên sử dụng hệ thống đã dẫn đến việc hệ thống kể cả sau
khi đã triển khai thành công cũng không thể vận hành thông suốt và chính xác. Tuy
nhiên, vấn đề là việc đào tạo sử dụng phần mềm ERP không phải là luôn hiệu quả.
Nhiều sáng kiến được đưa vào hệ thống đào tạo của doanh nghiệp đã sai lầm khi tập
trung vào đào tạo theo từng nghiệp vụ. Ngoài ra, rất nhiều khóa huấn luyện sử dụng
phần mềm ERP cũng không đạt được một số mục tiêu trọng điểm, bao gồm việc
đưa những thay đổi vào trong một bối cảnh mà nhân viên có thể dễ dàng hiểu được,
củng cố sự thay đổi đó theo thời gian, và cung cấp nhiều quy trình hỗn hợp để đưa
ra những cách học khác nhau. Vì vậy, các doanh nghiệp cần chú trọng đến các vấn
đề then chốt sau đây khi tiến hành đào tạo nhân viên sử dụng hệ thống ERP.
Thứ nhất, doanh nghiệp và đơn vị tư vấn cần tập trung vào quy trình kinh
doanh của toàn bộ doanh nghiệp khi đã được hệ thống hóa trên ERP chứ không phải
là từng nghiệp vụ riêng lẻ của các phòng ban chức năng. Nhìn chung, các đơn vị tư
vấn triển khai hệ thống ERP đã có những bộ tài liệu chuẩn đào tạo và huấn luyện
người sử dụng cách thức để để hoàn thành các nghiệp vụ trong một hệ thống. Tuy
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 83 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
nhiên, điều hành một doanh nghiệp đòi hỏi nhiều hơn là việc chỉ đơn thuần hoàn
thành các giao dịch trong một hệ thống. Các khóa huấn luyện ứng dụng phần mềm
ERP phải cung cấp kiến thức trong bối cảnh làm thế nào để nhân viên có thể thực
hiện công việc của mình từ ngày này sang ngày khác, không đơn giản như là hoàn
thành các giao dịch trong một hệ thống.
Điểm quan trọng thứ hai trong công tác đào tạo chuyển giao hệ thống là việc
liên hệ các quy trình theo cách làm việc cũ với môi trường, quy trình làm việc mới.
Các nhân viên cần nắm bắt được sự tương đồng trong hệ thống mới và quy trình cũ,
những khó khăn vướng mắc trong quy trình cũ đã được giải quyết trong hệ thống
ERP, từ đó các nhân viên sẽ có hiểu biết và thiện chí trong việc sử dụng hệ thống
ERP. Thái độ và tác phong làm việc của đội ngũ nhân viên sử dụng hệ thống đóng
vai trò rất quan trọng đối với sự vận hành của hệ thống ERP.
Điểm quan trọng thứ ba trong công tác đào tạo chuyển giao là việc đào tạo chưa
tập trung vào đội ngũ nhân sự cốt lõi mà đào tạo dàn trải, tốn kém về thời gian và
chi phí. Việc không đào tạo dàn trải không có nghĩa là bỏ qua nhiều bước trong tiến
trình đào tạo, mà cần xác định đào tạo tập trung cho những người sử dụng cốt lõi,
những người tác động đến việc quản lý hệ thống phần mềm, từ những người sử
dụng chính này có thể truyền đạt lại cho những nhân viên khác. Những nguồn nhân
lực nội bộ như vậy sẽ có nhiều hiểu biết hơn so với những chuyên gia tư vấn bên
ngoài về quy trình kinh doanh nội bộ và làm việc hiệu quả hơn so với những thay
đổi liên quan đến nhân viên. Ngoài ra, những người huấn luyện trong nội bộ công ty
có thể được trau dồi sâu hơn về nhiệm vụ được giao phó trong suốt và sau quá trình
đi vào sử dụng. Bên cạnh đó, khi đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp trực tiếp đào
tạo lẫn nhau, các nhân viên sẽ liên kết chặt chẽ với nhau trong cả quá trình vận hành
hệ thống, đồng thời trong quá trình làm việc theo nhóm nội bộ sẽ giúp đội ngũ nhân
viên của doanh nghiệp tăng cường được mối quan hệ cũng như tinh thần làm việc
nhóm trong doanh nghiệp.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 84 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
KẾT LUẬN
Đề tài: “Nghiên cứu về việc ứng dụng hệ thống quản trị nguồn lực doanh
nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp tại Việt Nam” đã được thể hiện qua các nội
dung chính như sau:
Thứ nhất, luận văn đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản mang tính lý thuyết liên
quan đến đề tài. Luận văn đã nêu lên được những ưu điểm và nhược điểm và khái
quát về phạm vi ứng dụng của hệ thống ERP, từ đó có cơ sở để thực hiện khảo sát
thực tế về tình hình ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam và
kết hợp với việc nghiên cứu tìm hiểu các báo cáo khác để rút ra được những thuận
lợi cũng như khó khăn trong quá trình triển khai và ứng dụng hệ thống ERP tại các
doanh nghiệp tại Việt Nam. Đồng thời, luận văn đã nêu lên các xu hướng triển khai
và ứng dụng ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam theo hai loại hình: doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam. Cùng với việc nghiên
cứu tìm hiểu thực tế dự án ERP tại hai doanh nghiệp đã triển khai thành công dự án
ERP, luận văn để nêu bật lên được yếu tố quyết định thành công của các dự án này.
Tác giả đã đề xuất một số giải pháp để khắc phục những khó khăn nêu
trong luận văn nhằm góp phần phát triển và nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng
các dự án ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam, chủ yếu các giải pháp được
xây dựng theo hai hướng, hướng xây dựng và phát triển các giải pháp phù hợp
với các doanh nghiệp của Việt Nam và đề xuất quy trình lựa chọn, triển khai
ERP đối với bản thân doanh nghiệp nhầm nâng cao hiệu quả ứng dụng hệ thống
ERP tại các doanh nghiệp.
Một số giải pháp được coi là điểm mới của tác giả. Đó là:
1. Xây dựng và định hướng các giải pháp ERP theo hướng các nhóm ngành
nghề đặc thù
2. Đề xuất được quy trình lựa chọn hệ thống ERP phù hợp cho doanh nghiệp.
Với những nội dung cơ bản trên, luận văn đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 85 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
về ứng dụng hệ thống ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam. Luận văn với đề tài
trên có một ý nghĩa tham khảo nhất địnhh cho các doanh nghiệp đã đang và có như
cầu triển khai ERP tại Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, do còn hạn chế
về thời gian và khó khăn trong việc tiếp cận các thông tin của doanh nghiệp về việc
triển khai hệ thống ERP tại doanh nghiệp, luận văn không tránh khỏi những thiếu
sót. Luận văn có thể được coi là cơ sở để thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu hơn,
nhằm đóng góp được vào sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam, nâng cao
khả năng cạnh trạnh bằng các quy trình quản lý hiệu quả trong quá trình hội nhập
nền kinh tế thế giới.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học 86 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục phát triển doanh nghiệp, Bộ kế hoạch và đầu tư (2012), Sách Trắng Doanh
nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 2011, Nhà xuất bản thống kê, Việt Nam, tr25-59.
2. Liaquat Hossain, M. A. Rashid (2002) Enterprise Resource Planning Global
Opportunities and Challenges, Idea Group Publising, USA, pp15-42.
3. Panorama Consulting Solutions (2010), 2010 Report, Panorama Consulting
Solutions Puplishing, USA
4. Phạm Thị Thanh Hồng (2010), Hệ thống thông tin quản lý, Nhà xuất bản Giáo
dục, Việt Nam, tr 46-66.
5. Thomas F. Wallace , Michael H. Kremzar (2001), ERP - Making It Happen,
John Wiley & Sons, Inc Publishing, USA, pp 69-88.
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
PHỤ LỤC 2: Mẫu bảng các câu hỏi khảo sát ý kiến chuyên gia về quy mô và thời gian triển khai dự kiến hệ thống ERP tại doanh nghiệp tại Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
Bảng câu hỏi khảo sát về quy mô và thời gian triển khai dự kiến hệ thống ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam
Kính gửi: Ông, Bà……………………………………………………………..
Công ty:…………………………………………………………………………
Nhằm thực hiện đề tài tốt nghiệp cao học quản trị kinh doanh về tình hình ứng
dụng hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP- Enterprise Resource
Planning) tại các doanh nghiệp tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả triển khai và ứng dụng ERP tại các doanh nghiệp tại Việt Nam, bảng
khảo sát này rất quan trọng trong việc cung cấp các thông tin về dự án triển khai
ERP tại doanh nghiệp. Xin ông, bà điền trả lời hoặc điền dấu x vào các câu trả lời
phù hợp với doanh nghiệp tương ứng với các câu hỏi trong nội dung khảo sát.
Tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ của ông, bà. Xin chân thành cảm ơn.
Phần I: Thông tin về cá nhân, tổ chức tham gia khảo sát
Họ và tên:
Đơn vị công tác:
Chức danh:
Phần II: Nội dung khảo sát
Câu hỏi 1: Xin ông, bà cho biết tên doanh nghiệp tại Việt Nam đã và đang
triển khai hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP)
Trả lời:…………………………………………………………………………..
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Câu hỏi 2: Xin ông, bà cho biết tên giải pháp ERP mà doanh nghiệp đã lựa
chọn để triển khai?
Trả lời:…………………………………………………………………………..
Câu hỏi 3: Xin ông, bà cho biết các phân hệ của hệ thống ERP được doanh
nghiệp lựa chọn triển khai trong hệ thống ERP
Phân hệ tài chính, kế toán Phân hệ quản lý bán hàng
Phân hệ quản lý kho Phân hệ quản lý phân phối
Phân hệ quản lý sản xuất Phân hệ quản lý nhân sự
Phân hệ quản lý mua hàng Khác
Trong trường hợp chọn câu trả lời Khác, vui lòng cho biết chi tiết phân hệ
chức năng được lựa chọn triển khai:
…………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………...............
Câu hỏi 4: Xin ông, bà vui lòng cho biết thời gian triển khai dự kiến của hệ
thống ERP tại doanh nghiệp?
Dưới 6 tháng Từ 6 tháng đến 1 năm
Từ 1 năm trở lên Chưa xác định rõ
Trong trường hợp thời gian triển khai dự kiến của hệ thống ERP t ại doanh
nghiệp chưa được xác định rõ, xin vui lòng cho biết lý do:
…………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………...............
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009
Luận văn thạc sỹ khoa học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Câu hỏi 5: Xin ông bà cho biết quy mô và mức độ triển khai của hệ thống ERP tại
doanh nghiệp (triển khai tại nhiều phân hệ, tại nhiều chi nhánh, phòng ban chức năng…)
Trả lời:
…………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………….................
HẾT NỘI DUNG KHẢO SÁT
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!
Học viên: Phạm Thị Hồng Hà – QTKD 2009

