Lý Th ng Ki tườ
Lý Th ng Ki tườ (1019–1105) là m t danh t ng ướ nhà Lý có công đánh b i quân nhà
T ng vào năm 1075-1077.
Thân thế
Theo Ph h h Ngô Vi t Nam , ông tên th t là Ngô Tu n, là con c a Sùng Ti t t ng ế ướ
quân Ngô An Ng, cháu c a Ngô Ích V , ch t c a S quân Ngô X ng Xíươ và cháu 5
đ i c a Thiên Sách V ng ươ Ngô X ng Ng pươ –hoàng t tr ng c a ưở Ngô Quy n [1],
ng i ph ng Thái Hòa, thành ườ ườ Thăng Long (Hà N i ngày nay). Có tài li u [2] l i nói
quê ông là làng An Xá, huy n Qu ng Đ c (C Xá, huy n ơ Gia Lâm ngày nay).
S sách Trung Qu c chép tên ông là Lý Th ng Cát ho c Lý Th ng Cát ườ ượ [2].
Làm t ng th i Thái Tông và Thánh Tôngướ
Gia đình ông n i đ i làm quan, nhi u m u l c, có tài làm t ng. Khi còn ít tu i, vì v ư ượ ướ
m t t i đ p đ c sung làm Hoàng môn chi h u, là ươ ượ thái giám theo h u Lý Thái Tông.
Đó là năm 1041.
Trong 12 năm làm n i th trong tri u, danh ti ng c a Lý Th ng Ki t ngày càng n i. ế ườ
Năm 1053, ông đ c thăng d n đ n ch c N i th s nh đô tri khi 35 tu i.ượ ế
Lý Thánh Tông lên ngôi (1054), phong ông ch c B ng hành quân hi u uý. Ông th ng ườ
ngày c nh vua, th ng can gián. Vì có công lao, ông đ c thăng làm Ki m hi u thái ườ ượ
b o.
Năm 1061, ng i M ng biên gi i qu y r i. Lý Thánh Tông sai ông làm Kinh ph ngườ ườ
s vào thanh tra vùng Thanh Hóa, Ngh An, đ c toàn quy n hành s . Ông ph d dânượ
chúng, l y đ c lòng ng i. T t c 5 châu 6 huy n, 3 ngu n, 24 đ ng đ u quy ph c. ượ ườ
Tháng 2 năm 1069, ông theo vua Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành. Lý Th ng Ki tườ
làm tiên phong đi đ u, truy b t đ c vua Chiêm là Ch C . Cu i cùng Ch C ph i ượ ế ế
ch u hàng, dâng 3 châu đ đ c tha v n c. ượ ướ
Ph chính th i Lý Nhân Tông
ng h Nguyên phi Lan
Năm 1072, Lý Thánh Tông qua đ i. Thái t Càn Đ c m i 7 tu i lên ngôi, t c là vua
Nhân Tông. Trong tri u Lý n y sinh bè cánh: quy n hành n m trong tay Thái s ư
Đ o Thành và Thái h u Th ng D ng h D ng. M đ c a Nhân Tông là Nguyên ượ ươ ươ
phi Lan không đ c d vào vi c tri u đình, bèn d a vào Lý Th ng Ki t đ n mượ ườ
l y quy n nhi p chính. ế
Lý Th ng Ki t khi đó làm Thái uý, ch c v d i Lý Đ o Thành. Ông ng theoườ ướ
Nguyên phi Lan đ ch ng l i phe D ng thái h u d a vào Lý Đ o Thành. S không ươ
chép rõ v di n bi n vi c tranh ch p quy n l c gi a hai bên, nh ng t i tháng 6 năm ế ư
1072 t c là 4 tháng sau khi Nhân Tông lên ngôi, phe Lan và Lý Th ng Ki t th ng ườ
th , trong đó ngoài tác đ ng c a Lan bên trong v i vua Nhân Tông, có s vai tròế
c a võ t ng Lý Th ng Ki t. ướ ườ
Lan xui gi c Lý Nhân Tông ép Thái h u Th ng D ng và 72 cung n ph i ch t ượ ươ ế
theo vua Thánh Tông. Sau đó Lý Đ o Thành b giáng ch c làm T gián ngh đ i phu, ra
tr n th Ngh An. Lan đ c tôn làm Linh Nhân hoàng thái h u. Theo ý ki n c a ượ ế
Hoàng Xuân Hãn, vi c x ch t D ng thái h u và giáng ch c Đ o Thành, m t mình ế ươ
Lan không th th c hi n mà có vai trò c a Lý Th ng Ki t, ng i n m quân đ i trong ườ ườ
tay, trong khi Lý Đ o Thành v n là quan văn và tu i tác đã cao [3].
T đó Lý Th ng Ki t gi vai trò ph chính trong tri u đình nhà Lý. ườ
Chi n tranh v i T ngế
Chi n d ch Ung châuế
Năm 1075, V ng An Th chươ c m quy n chính nhà T ng, tâu v i vua T ng là Đ i
Vi t b Chiêm Thành đánh phá, quân còn sót l i không đ y v n ng i, có th dùng k ườ ế
chi m l y đ c. Vua T ng sai Th m Kh i, và L u Di làm tri Qu Châu ng m d yế ượ ư ế
binh ng i Man đ ng, đóng thuy n bè, t p th y chi n, c m các châu huy n khôngườ ế
đ c mua bán v i Đ i Vi t.ượ
Vua Lý bi t tin, sai ông và Tôn Đ n đem h n 10 v n binh đi đánh. Quân b g mế ơ
60.000 ng i do các t ng Tôn Đ n, Thân C nh Phúcườ ướ [4], L u K , Hoàng Kim Mãn, Viư
Th An ch huy, t ng ch huy là Tôn Đ n. B binh t p trung ngay các châu Qu ng
Nguyên, Môn (Đông Khê), Quang Lang, Tô M u r i tràn sang đánh các tr i Vĩnh Bình,
Thái Bình, Hoành S n, châu Tây Bình, L c Châu. M t cánh quân khác đóng g n biênơ
gi i Khâm châu cũng kéo t i đánh các tr i Nh H ng, Nh Tích và Đ Tr o, "quân ta ư ư
t i đâu nh vào nhà tr ng không ng i" ư ườ [5].
Lý Th ng Ki t ch huy 40.000 quân th y cùng voi chi nườ ế [c n d n ngu n] đi đ ng bi n tườ
châu Vĩnh An (Qu ng Ninh) đ b lên đánh các châu Khâm, Liêm; Tông Đ n vây châu
Ung. Ngày 30 tháng 12 năm 1075, quân Nam ti n chi m thành ế ế Khâm Châu, b t toàn b
quan quân mà không ph i giao chi n m t tr n nào. Ba ngày sau, 2 tháng 1 năm 1076, ế
Liêm Châu cũng th t th [c n d n ngu n].
Khi đ c tin hai châu Khâm, Liêm đã m t, nhà T ng r t hoang mang, lo ng i, cácượ
t ng đ a ph ng b i r i. Ti kinh l c Qu ng Nam tây l v i vã xin vi n binh:ướ ươ ượ
20.000 quân, 3.000 con ng a, xin thêm khí gi i, đ dùng và m t tháng l ng, và xin ươ
đ c đi u đ ng các dân khê đ ng, t t c l y d c đ ng t Kinh đ n Qu ng Tây. Đượ ườ ế
đi u khi n quân đ c mau chóng, ti y cũng xin d i đ n thành T ng, g n phía b c ượ ế ượ
Ung Châu[6].
Trong lúc b i r i, tri u đình T ng đ i phó r t lúng túng. Vua T ng cách ch c L u Di ư
và sai Th ch Giám thay coi Qu Châuế và làm kinh l c s Qu ng Tây, đ ng th iượ
xu ng chi u cho các quan l i đ a ph ng, d n r ng: "N u xem ch ng quân Giao Ch ế ươ ế
t i đâu mà không đ quân gi , thì ch gi l y ch hi m mà thôi. Ch nào có ti n, v i,
l ng th c, thì ph i ch tháo đi, đ ng đ l t vào tay đ ch" Sau đó l i ra m t l nh tráiươ
ng c, nói r ng: ượ "N u quân b thành đi ch khác, thì lo r ng dân r i s . Hãy b o cácế
quan Ti đ u ph i tr l i thành mình" [c n d n ngu n].
Trên các m t tr n, quân Lý hoàn toàn làm ch . Lý Th ng Ki t cho đ o quân Khâm ườ
và Liêm Châu ti n lên phía B c. Đ o đ b Khâm Châu kéo th ng lên Ung Châu.ế
Đ ng th ng dài ch ng 120 cây s , nh ng ph i qua dãy núi Th p V n. Còn đ o đườ ư
b Liêm Châu ti n sang phía đông b c, chi m l y B ch Châu, d ng nh đ ch n ế ế ườ ư
quân ti p vi n c a T ng t phía đông t i. H n ngày 18 tháng 1 năm 1076, hai đ oế
quân s cùng h i l i vây ch t l y Ung Châu.
Ung Châu là m t thành lũy kiên c , do t ng Tô Giám cùng v i 2.800 quân c ng ướ ươ
quy t c th ; đ ch quân các châu và quân tri u đình t i ti p c u: "Cu c chi n đ uế ế ế
thành Ung Châu, b i th , s r t gay go, quy t li t, và s m t tr ng tranh đ u ế ế ườ
gi a m u trí c a Lý Th ng Ki t và lòng dũng c m c a Tô Giám" ư ườ [7].
Đô giám Qu ng Tây nhà T ng là Tr ng Th Ti t đem quân đ n c u. Lý Th ng ươ ế ế ườ
Ki t đón đánh c a i Côn Lôn (nay thu c thành ph Nam Ninh, khu t tr Qu ng
Tây) phá tan đ c, chém Tr ng Th Ti t t i tr n.ượ ươ ế
Tri Ung Châu là Tô Giám c th không hàng. Quân Đ i Vi t đánh đ n h n 40 ngày, ế ơ
dùng máy b n đá b n vào thành gi t đ c nhi u ng i ng a trong thành, quân T ng ế ượ ườ
cũng dùng cung th n tý b n ra, làm ch t nhi u quân Nam và voi chi n. Thành Ung ế ế
Châu r t v ng, quân Nam ph i dùng vân thê, là m t th thang b c truy n n i nhau r t
cao, đ leo lên thành, nh ng v n không ti n lên đ c. Quân Nam dùng đ n k đào ư ế ượ ế ế
đ ng h m đ đánh vào thành, cũng không vào n i. Sau cùng quân Vi t dùng h aườ
công, b n các ch t cháy nh nh a thông vào thành, trong thành thi u n c, không th ư ế ướ
ch a đ c cháy. Cu i cùng quân Nam b t dân T ng ch ng bao đ t cao đ n hàng ượ ế
tr ng đ h trèo lên thành. Ngày th 42, thành b h , t ng ch huy Tô Giám t thiêuượ ướ
đ kh i r i vào tay quân Lý ơ [8]. Ng i trong thành không ch u hàng, nên b gi t h t h nườ ế ế ơ
58.000 ng i, c ng v i s ng i ch t các châu Khâm, Liêm thì đ n h n 100.000ườ ườ ế ế ơ [9],
tuy nhiên quân Lý cũng t n th t đ n m t v n ng i và nhi u voi chi n ế ườ ế [10]. T ng s
còn ghi quân Lý gi t h t c quan l i, lính tráng, th đinh, c dân c th y h n năm v nế ế ư ơ
ng i, l i s p đ u ng i thành đ ng, m i đ ng 100 đ u ng i, mà có đ n 580 đ ng.ườ ườ ườ ế
Lý Th ng Ki t làm c xong thành Ung, l i l y đá l p sông ngăn c u vi n r i đemườ
quân lên phía B c l y Tân Châu. Viên quan coi Tân Châu, nghe th y quân Nam kéo g n
đ n thành, li n b thành ch y tr nế [11]. M c tiêu hoàn thành, Lý Th ng Ki t cho rút ườ
quân v .
Lý Th ng Ki t b t s ng ng i ba châu y đem v n c. ườ ườ ướ Nhà Lý cho nh ng ng i ườ
ph ng b c đó vào khai phá vùng Hoan - Ái (Thanh - Ngh ).ươ
Phòng th sông Nh Nguy t ư
Bài chi ti t: ếTr n Nh Nguy t ư Phòng tuy n sông Nh Nguy tế ư
Do ti n đ n Ung châu là căn c t p trung quân đ nam ti n b phá tan, nhà T ng ế
ph i đi u đ ng thêm nhân l c và l ng th o đ th c hi n chi n tranh v i Đ i Vi t. ươ ế
Nhà T ng g p nhi u khó khăn đ chu n b nhân l c v t l c cho cu c vi n chinh.
Trong khi m quân, vua T ng s quân Nam l n vào làm gián đi p. Ngày 10 tháng 3
năm 1076, có chi u d n các l ven b , nh ế ư Qu ng Tây, Qu ng Đông, Giang Tây, Phúc
Ki nế, ph i coi ch ng vi c y. Ung Châu, nh đã đ c p, là m t c đi m quân s quan ư
tr ng, đ ng th i cũng là n i d tr nhi u kho khí gi i, l ng th c c a T ng. Sau khi ơ ươ
thành b phá h y, viên chuy n v n s Qu ng Tây là Lý Bình Nh t mu n tu b thành
g p, đã ph i dùng đ n năm v n quân đ s a ch a và b t dân Qu ng Đông t i đ p l i ế
thành. Nh ng đ n tháng 4 năm 1076, thành Ung Châu cũng ch a đ p xong, và đ ngư ế ư ườ
v n l ng th c cũng ch a thông, vì sông Ung Châu tr c kia b quân Nam đ đá ươ ư ướ
l p[c n d n ngu n].
Tháng 3 năm 1076, nhà T ng sai tuyên ph s Qu ng Nam là Quách Quỳ làm chiêu
th o s , Tri u Ti t ế làm phó, đem quân 9 t ng, h n v i ướ Chiêm Thành và Chân L p
sang xâm l n Đ i Vi t , nh ng quân Chiêm Thành và Chân L p không đ nư ế [c n d n ngu n].
Quân T ng vi n chinh lên đ n 10 v n quân, m t v n ng a và hai m i v n dân phu, ế ươ
khí th r t m nh m , nh t là k binh T ng, nh ng quân T ng mu n phát huy kî binhế ư
thì ph i làm sao qua kh i vùng hi m tr , t i ch b ng, thì ng a m i tung hoành đ c. ượ
Th th c a quân Nam thì d a vào sông núi, các đèo hi m tr , các sông r ng và sâu.ế
T tr i Vĩnh Bình vào châu L ng, ph i qua dãy núi r m, có đèo Quy t Lý, trên ế
đ ng t t nh L ng S n đ n Đông Mô ngày nay, vào kho ng làng Nhân Lý, phía b cườ ơ ế
châu Ôn. R i l i ph i qua dãy núi lèn (đá không phá đ t), đá đ ng nh t ng, gi a ư ườ
có đ ng đi r t hi m: đó là i Giáp Kh u, t c là i Chi Lăng, phía b c huy n H uườ
Lũng thu c B c Giang ngày nay. Đèo i tuy hi m, nh ng có th dùng k binh ho c ư
v t qua, ho c len l i qua r ng đ tránh. Còn sông sâu r ng, thì ng a khó lòng quaượ
n i. Phòng th sông khá d , đóng c c và dùng rào gi u b Nam, cũng đ ngăn quân
đ ch.
V l i th y quân Nam, t đ i nhà Ngô, đã l p nhi u chi n công l ng l y. Th sông ế ế
mi n B c Vi t l i r t ti n cho th y chi n. Sáu ngành sông ch u v V n Xuyên ( ế V n
Ki pế), là căn c t nhiên c a thu quân Nam. Ho c ph i ra c a B ch Đ ng ch n quân
thu đ ch, ho c ph i vào sông Đào Hoa ( sông Th ngươ ), ho c ph i vào sông Nam Đ nh
(sông C u) ho c ph i đi vào sông Thiên Đ c ( sông Đu ng), đ ch n đ ch qua sông,
quân Nam ch c n đóng thuy n b n L c Đ u thì đi đ ng nào cũng r t ti n và ế ườ
chóng.
Các t ng lĩnh thu c Man Đ ng nh : Nùng Quang Lãm, Nùng Th nh Đ c coi i Hàướ ư
N i, Hoàng Kim Mãn và S m Khánh Tân gi châu Môn, Vi Th An gi châu Tô M u,
L u K coi Qu ng Nguyên khi quân T ng sang đã đ u hàngư uy có phò mã Thân C nh
Phúc gi châu Quang Lang (L ng S n ơ ) không nh ng không ch u hàng mà còn rút vào
r ng đánh du kích, gi t r t nhi u quân T ng. Nh ng t ng lĩnh này tr c kéo quân ế ướ ướ
qua đ t T ng, đánh r t gi i. Nh ng sau quân T ng tràn sang đánh báo thù, lúc đ u h ư
c chi n, sau vì th t tr n và vì s d d , nên đã đ u hàng, th m chí nh Hoàng Kim ế ư
M n còn ch đ ng bày m u cho T ng. Sách Qu H i Chí k : "Viên tri châu Quang ườ ư ế
Lang là phò mã, b thua, bèn tr n vào trong r ng Đ ng Giáp, r i du kích h u ph ng ươ
quân T ng. Rình lúc b t ng đánh úp quân đ ch làm chúng r t s hãi"
Quân T ng ti p t c tràn xu ng, theo đ ng t t qua dãy núi Đâu Đ nh, t i phía tây b ế ườ
sông Phú L ng; trong khi đó, m t cánh quân tách ra, vòng sang phía đông đánh b cươ
h u quân Nam Giáp Kh u (Chi Lăng) và th ng t i sông C u.
Vua sai Lý Th ng Ki t đem quân đón đánh, l p chi n lũy sông ườ ế Nh Nguy tư đ ch n
quân T ng. Sông C u t đ a ph n Cao B ng ch y đ n L c Đ u, h p v i sông B ch ế
Đ ng. T L c Đ u ra đ n b , là m t cái hào t nhiên sâu và r ng, che ch cho đ ng ế
b ng n c Vi t đ ch ng l i t t c m i cu c ngo i xâm đ ng b t L ng Qu ng ướ ườ ưỡ
kéo vào. Đ i v i đ ng sá t châu Ung t i Thăng Long, thì sông B ch Đ ng không can ườ
h , vì đã có sông L c Đ u, là cái hào ngăn tr c r i. Trái l i, sông C u r t quan tr ng. ướ
Th ng l u sông C u qua vùng r ng núi r t hi m. Ch có kho ng t ượ ư Thái Nguyên tr
xu ng là có th qua d dàng, và qua r i thì có đ ng xuôi. Nh ng sau sông, v phía ườ ư
tây có dãy núi Tam Đ o, là m t cái thành không th v t. Ch có kho ng t huy n Đa ượ
Phúc đ n L c Đ u là ph i phòng ng b nam mà thôi. Trong kho ng y, l i ch khúcế
gi a, t đò Nh Nguy t đ n chân núi Nham Bi n, là có b n, có đ ng qua sông đ ư ế ế ườ
ti n xu ng mi n nam m t cách d dàng th ng và g nế
Lý Th ng Ki t đem ch l c ch n con đ ng t tr i Vĩnh Bình đ n sông Nam Đ nhườ ườ ế
(sông C u) b ng cách đ t nh ng doanh đ n và ph c binh hai i ti p nhau: i Quy t ế ế
phía b c châu Quang Lang và i Giáp Kh u ( Chi Lăng) phía nam châu y. N u ế
hai phòng tuy n y b tan, thì ph i c th phòng tuy n th ba, t c là nam ng n sôngế ế
Nam Đ nh. Đ c n quân T ng qua sông, Lý Th ng Ki t sai đ p đê nam ng c cao nh ườ ư
b c thành. Trên thành, đóng tre làm gi u, dày đ n m y t ng. Thành đ t lũy tre, n i v i ế
dãy núi Tam Đ o, đã đ i th sông Nam Đ nh và b nam ng n ra m t dãy thành hào, ế
che ch c vùng đ ng b ng Giao Ch . Thành hào y dài g n trăm cây s , khó v t qua ượ
và nh ng l i d phòng th h n là m t thành l nh thành Thăng Long.ư ơ ư
Cùng lúc đó thu binh T ng do Hòa Mân và D ng Tùng Ti u ch huy đã b th y quân ươ
Nam do Lý K Nguyên đi u đ ng, ch n đánh ngoài kh i l i vào Vĩnh An. Quân T ngế ơ
có k binh m đ ng ti n công quy t li t, có lúc đã ch c th ng chi n tuy n quân ườ ế ế ế ế
Nam tràn qua sông Nh Nguy t, nh ng quân Nam đ u k p th i ph n kích, đ y lùi quânư ư
T ng. Lý Th ng Ki t còn dùng chi n tranh tâm lý đ khích l tinh th n quân Nam ườ ế