
đến 140%. Màu Black không được sử dụng. Tuy
nhiên do các màu được phối trọn với tỷ lệ cao nên
cân bằng màu rất khó được duy trì trong suốt quá
trình in.
Thêm vào đó, với một bề mặt được phủ mực rộng
như thế, thời gian khô và lượng mực tiêu thụ sẽ gia
tăng.
Cấu trúc các màu của màu nâu được chỉ ra ở hình
minh họa bên trên bao gồm hai màu hữu sắc và một

thành phần màu vô sắc (màu đen). Thành phần màu
vô sắc được phối trộn bởi 70% Cyan, 70% Magenta
và 70% Yellow cho ra màu xám (vô sắc). 10%
Magenta và 20% Yellow còn lại là phần màu hữu
sắc.
2.4.2 Hỗn hợp các màu hữu sắc và thay thế các
màu bằng màu đen.
Kỹ thuật thay thế các màu vô sắc bằng màu đen
(UCR – Under Color Removal) là một sự biến đổi
thành phần màu hữu sắc với một thành phần màu vô
sắc được thay bằng màu đen.
Giả sử rằng: 30% các màu được loại bỏ từ màu nâu
của ví dụ trên.

PHầN màu vô sắc bao gồm Cyan, Magenta và
Yellow được loại bỏ đi 30% tương ứng. Kết quả là bề
mặt phủ mực không còn là 240% nữa mà chỉ còn
180% với tông màu không đổi.
Đây là một sự hỗ trợ rất lớn cho thợ in vì nguy cơ
thấm mực qua giấy được thiểu và sự cân bằng màu có

thể được duy trì dễ dàng hơn
2.4.3 Hỗn hợp màu vô sắc
Ngược lại với sự phối trộn các màu, trong việc phối
trộn màu vô sắc tất cả các thành phần màu vô sắc
được thay thế bởi màu Black. Các tông màu vì thế
không còn bị làm tối bằng các màu bổ sung mà được
làm tối bằng màu Black. Cấu trúc vô sắc ở ví dụ dưới
đây chỉ gồm có màu đỏ, vàng và đen. Nói chung bề
mặt giấy được phủ một lượng mực không quá 100%.
Kỹ thuật này cho phép các thành phần màu Cyan,

Magenta và Yellow được giảm thiểu một cách đáng
kể trong tất cả các hình ảnh và tông màu. Tiến trình
in như thế trợ nên đáng tin cậy hơn và việc nhận mực
được cải thiện đáng kể.
2.4.4 Hỗn hợp vô sắc với sự bổ sung các màu hữu
sắc.
Việc thêm các màu hữu sắc vào là một sự biến đổi
thành phần màu vô sắc. Nếu mật độ của mực in màu
đen trung tính không đủ thì các màu Cyan, Magenta
và Yellow được thêm vào cấu trúc màu vô sắc một

