
Nghệ thuật sắp đặt

Hẳn phải có một lý do nào đó để từ dăm năm nay, cuộc dấn
thân vào một thứ nghệ thuật không quen biết với hầu hết
người Việt Nam là Installation - nghệ thuật sắp đặt (NTSÐ)
lại ngày một hấp dẫn thêm nhiều nghệ sĩ như vậy. Một thứ
nghệ thuật không hề đem lại lợi ích vật chất nào cho người
sáng tạo, thậm chí còn làm tổn phí rất nhiều thời gian, sức lực
và tiền bạc. Có thể vì cảm giác thèm khát nghe một tiếng nói
mới trong một cung cách nghệ thuật cố định đã kéo dài quá
lâu, nhu cầu tăng tốc cho kịp với thời đại mình đang sống và
sự thôi thúc của thời gian đã khiến một số nghệ sĩ thấy cần
phải tìm kiếm một phương thức sáng tạo khác, đồng thời
mong muốn người xem thưởng ngoạn theo một cách khác, là
những nguyên nhân chính. NTSÐ bắt đầu có chỗ đứng trong
mỹ thuật Việt Nam đương đại. Số nghệ sĩ chuyên tâm với
nghệ thuật này không còn phải đếm trên đầu ngón tay nữa,
những cuộc triển lãm cũng đạt tới con số vài chục cuộc mỗi
năm. Những bước chập chững đầu tiên của loại hình nghệ
thuật này, như vậy cũng đã để lại dấu trên mặt đất. Nhưng

vẫn là chập chững, không thể nói khác được. Trong khi ở
phương Tây, NTSÐ đã tồn tại gần nửa thế kỷ nay.
Tuy nhiên, vấn đề cần xem xét ở đây không phải là cũ hay là
mới, mà ở chỗ bao giờ chúng ta, những người xem, thật sự
tham gia vào một tác phẩm NTSÐ, thật sự hội nhập vào
không gian tác phẩm, điều ấy dễ hay khó đối với truyền
thống và với hiện tại của chúng ta. Một nữ họa sĩ trẻ khá
hiếm hoi trong những nữ họa sĩ làm NTSÐ, Trang Thanh
Hiền, giảng viên Trường đại học Mỹ thuật Hà Nội, tin vào
tương lai của nghệ thuật này như tin vào một điều tất yếu.
Theo chị, tác phẩm sắp đặt khai triển trong một khoảng thời
gian nhất định và chỉ có được một ý nghĩa qua sự tương tác
của nó với người xem. Người xem đối diện với những vấn đề
của cuộc sống hiện tại một cách trực tiếp, hiện diện cùng tác
phẩm, tham gia vào chính nó - đó chính là hướng mở của
nghệ thuật chứ hoàn toàn không phải là sự bế tắc như người
ta tưởng. Khi NTSÐ mới xuất hiện ở Hà Nội, không ít người

cho rằng đó là hành động nhất thời, một trò chơi ngông, học
đòi của một số họa sĩ trẻ chưa được trang bị đầy đủ về học
vấn. Còn bây giờ, khi những họa sĩ như Trần Lương, với vốn
kiến thức và kinh nghiệm dày dạn, Nguyễn Văn Cường,
Nguyễn Minh Thành hay Trang Thanh Hiền..., người ta khó
có thể nghi ngờ về mặt đó. Thậm chí những họa sĩ gạo cội
của lớp trước như Ðặng Thị Khuê, Nguyễn Bảo Toàn... cũng
say mê thật sự với NTSÐ, với một thái độ chung tương đối
nhất trí là khai thác tính duy mỹ trong không gian tín ngưỡng
và văn hóa truyền thống của dân tộc. Có thể tin rằng NTSÐ ở
Việt Nam có luận đề hẳn hoi, cũng như có đường đi riêng của
nó. Như vậy, có lẽ không cần phải xem xét nó sớm hay muộn
so với phương Tây.
Nhưng sớm hay muộn hoàn toàn không có nghĩa là thích hợp
hay không thích hợp. Dường như để hòa nhập vào không
gian chung của văn hóa cộng đồng, NTSÐ ở Việt Nam đã có
quá nhiều lý luận trong khi bản thân loại hình nghệ thuật này

không cần nhiều lời đến thế. Sự nhiều lời đó nằm ngay trong
tác phẩm của các họa sĩ, chứ không phải chỉ nằm trong
những lời dẫn giải - của các nhà phê bình. Và đôi khi các yếu
tố truyền thống mang vẻ cố tình đến nỗi không thể không
nghĩ là chúng được mượn vào cho có. Những bàn tay Phật,
những đôi guốc gỗ, những đồ vàng mã, những con chó đá,
những chiếc áo tơi,... có thể trở thành những lạm dụng. Hoặc
phế liệu, mũ nón, áo mưa... tràn ngập đến mức trở thành phản
cảm - khi sự bố trí và số lượng đồ vật quá mức so với thông
thường hoặc ngược lại, thông thường quá mức. Người ta
không sẵn sàng công nhận một bông hoa dại nở cuối lối đi,
những đôi giày xếp thành hàng ngũ trước cửa một gian phòng
người lính, những con thú nhồi bông treo lơ lửng quanh một
bộ váy cưới... cũng như không ai chịu coi cái chợ mình vẫn
đi hằng ngày là một tác phẩm nghệ thuật. Mặc dù xét về mặt
nào đó, cái chợ chính là một tác phẩm sắp đặt hoàn hảo, sinh
động, với những hàng quán, những vật phẩm đầy mầu sắc,
chịu ảnh hưởng của những ngẫu nhiên và những thay đổi bất

