
CHÍNH PHỦ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 366/NQ-CP Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2025
"
NGHỊ QUYẾT
PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 10 NĂM 2025
CHÍNH PHỦ
Căn cứLuật Tổ chức Chính phủngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Nghị định số39/2022/NĐ-CPngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế
làm việc của Chính phủ;
Trên cơ sở thảo luận của các Thành viên Chính phủ, ý kiến các đại biểu dự họp và kết luận của Thủ
tướng Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10 năm 2025 trực tuyến với các địa
phương, tổ chức vào ngày 08 tháng 11 năm 2025.
QUYẾT NGHỊ:
I. Về tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025
1.Những kết quả nổi bật
Chính phủ thắng nhất đánh giá:Trong tháng 10, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp; căng
thẳng địa chính trị giữa các nước lớn, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng; kinh tế toàn cầu phục hồi nhẹ
nhưng không đồng đều, chưa vững chắc, còn yếu tố rủi ro khó lường; thị trường tài chính, tiền tệ và
thị trường vàng biến động mạnh; nợ công nhiều nước tăng cao. Ở trong nước, nền kinh tế duy trì đà
tăng trưởng nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn, thách thức từ tác động bên ngoài cũng như những hạn
chế, bất cập nội tại kéo dài nhiều năm và những thiệt hại nặng nề do thảm họa thiên tai, bão, lụt gây
ra tại nhiều địa phương.
Trước bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, kịp thời của Ban Chấp hành Trung ương
mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm; sự đồng
hành của Quốc hội và các cơ quan trong hệ thống chính trị; sự chung sức, đồng lòng của Nhân dân,
cộng đồng doanh nghiệp và sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế; Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, các cấp, các ngành, các địa phương tiếp tục bám sát thực tiễn, triển khai quyết liệt, đồng bộ,
hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm nhiệm vụ, giải pháp trên các lĩnh vực theo Nghị quyết của Đảng,
Quốc hội, nhất là Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương 13 khóa XIII, các quyết sách của
Bộ Chính trị thông qua các Nghị quyết số:57-NQ/TW, 59-NQ/TW,66-NQ/TW,68-NQ/TW,70-
NQ/TW,71-NQ/TW,72-NQ/TW; tích cực giải quyết theo thẩm quyền những công việc thường
xuyên, vấn đề tồn đọng kéo dài; đồng thời chủ động phản ứng chính sách phù hợp, nhanh chóng với
vấn đề phát sinh.
Trong 10 tháng năm 2025, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 346 văn bản quy phạm
pháp luật, 5.988 văn bản chỉ đạo, điều hành; tổ chức 1.985 hội nghị, cuộc họp, làm việc, đi công tác
địa phương, cơ sở; nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp mới đã phát huy hiệu quả. Nhờ đó, tình hình

kinh tế - xã hội nước ta tháng 10 tiếp tục xu hướng tích cực, tốt hơn tháng trước; tính chung 10
tháng đạt nhiều kết quả quan trọng, cao hơn cùng kỳ năm trước trên hầu hết các lĩnh vực.
Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát tốt, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối
lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 10 tháng tăng 3,27% so với
cùng kỳ năm trước. Thị trường tiền tệ, tỷ giá cơ bản ổn định. Tín dụng tăng trưởng cao, dư nợ tín
dụng toàn hệ thống tăng 20,69% so với cùng kỳ. Thu ngân sách nhà nước 10 tháng ước đạt trên
2,18 triệu tỷ đồng (trong đó, thu từ đất và khoáng sản khoảng 21,4%), bằng 111% dự toán, tăng
30,8% so với cùng kỳ trong điều kiện thực hiện miễn, giảm, gia hạn thuế, phí... khoảng 217,3 nghìn
tỷ đồng; các chỉ tiêu nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách nằm trong giới hạn
trần và ngưỡng cảnh báo an toàn đã được Quốc hội phê duyệt. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
hàng hóa tháng 10 đạt 81,49 tỷ đô la Mỹ (USD), tăng 17,2% so với cùng kỳ, 10 tháng đạt 762,44 tỷ
USD, tăng 17,4%; xuất siêu đạt 19,56 tỷ USD. Giải ngân vốn kế hoạch đầu tư công 10 tháng năm
2025 là 491 nghìn tỷ đồng, đạt 54,4% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn 3,5% so với
cùng kỳ và 145 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối.
Cả ba khu vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ duy trì đà tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất
toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 10 tăng 10,8%, 10 tháng tăng 9,2% so với cùng kỳ, trong đó
công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,5%. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng tháng 10 đạt 54,5 điểm
cho thấy sự gia tăng sản lượng đơn hàng và phục hồi của thị trường. Khu vực nông nghiệp tiếp tục
khẳng định vai trò là “trụ đỡ” của nền kinh tế mặc dù gặp bất lợi do thiên tai và dịch bệnh trên cây
trồng, vật nuôi; xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 10 tháng đạt 58,13 tỷ USD, tăng 12,9% so với cùng
kỳ; bảo đảm an ninh lương thực. Khu vực dịch vụ duy trì đà tăng khá; tổng mức bán lẻ hàng hóa và
doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng tăng 9,3% so với cùng kỳ; tổ chức thành công Hội chợ mùa
Thu năm 2025 với hơn 2.500 doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Khách du lịch quốc tế 10
tháng đạt 17,2 triệu lượt người, tăng 21,5% so với cùng kỳ.
Trong 10 tháng, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động là 255,9 nghìn,
tăng 26,5%, gấp 1,3 lần số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường; làn sóng khởi nghiệp phát triển tích
cực sau khi Nghị quyết số68-NQ/TWcủa Bộ Chính trị được ban hành. Tổng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) đăng ký 10 tháng đạt trên 31,5 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ, vốn FDI thực
hiện đạt 21,3 tỷ USD (vốn FDI giải ngân cao nhất trong nhiều năm qua), tăng 8,8% so với cùng kỳ,
chất lượng dòng vốn được cải thiện. Các dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia ngành giao thông,
năng lượng được thúc đẩy mạnh mẽ; các doanh nghiệp, công trình, dự án khó khăn, vướng mắc, tồn
đọng kéo dài, chậm tiến độ được xử lý hiệu quả, góp phần khơi thông nguồn lực bổ sung cho nền
kinh tế. Các tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực về công tác chỉ đạo, điều hành của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ và triển vọng phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
Công tác an sinh xã hội được các cấp, các ngành, các địa phương thực hiện kịp thời, hiệu quả; 10
tháng năm 2025, cả nước triển khai đầu tư xây dựng 123.057 căn nhà ở xã hội, trong đó đã hoàn
thành 61.893 căn; đã và đang khởi công gần 100 trường nội trú, bán trú, liên cấp tại các xã biên
giới. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo sát sao, chủ động từ sớm, từ xa công tác phòng,
chống bão lũ, huy động các lực lượng (cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an...) hỗ trợ Nhân dân nhanh
chóng ổn định tình hình, khôi phục sản xuất kinh doanh, thể hiện tính nhân văn, ưu việt của chế độ
ta. Từ đầu năm đến nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã hỗ trợ 4.244 tỷ đồng từ nguồn dự
phòng ngân sách trung ương và 7.960 tấn gạo cho 20 địa phương để khắc phục hậu quả thiên tai.
Các chương trình tín dụng chính sách xã hội đã hỗ trợ vay vốn cho trên 1,8 triệu đối tượng; nhiều
cơ quan, tổ chức, cá nhân quyên góp, hỗ trợ đồng bào vùng bị thiên tai.
Lĩnh vực văn hóa, xã hội được chú trọng; các chương trình lễ hội, nghệ thuật đặc sắc, ý nghĩa được
tổ chức, góp phần quảng bá hình ảnh, giá trị văn hóa truyền thống của nước ta ra thế giới. Ngành
giáo dục, y tế tập trung triển khai các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Chương trình hành động của

Chính phủ về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Đời sống của
Nhân dân được nâng lên, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập tháng 10 không thay đổi và tăng lên so với
tháng cùng kỳ năm trước là 96,1%.
Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia tiếp tục
được đẩy mạnh; phục vụ tốt Hội nghị Trung ương 13 và tích cực chuẩn bị, bảo đảm tiến độ, chất
lượng, số lượng lớn báo cáo, đề án, dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10. Mô
hình chính quyền địa phương 2 cấp cơ bản được vận hành ổn định; cơ bản hoàn thiện khung pháp
lý; các vướng mắc trong quá trình thực hiện được tháo gỡ kịp thời, bảo đảm thông suốt, hiệu quả.
Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí
được tăng cường; kỷ luật, kỷ cương hành chính tiếp tục được chấn chỉnh.
Công tác quân sự, quốc phòng, an ninh được chú trọng; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững;
trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Quyết liệt thực hiện tháng cao điểm phòng, chống khai thác hải
sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Công tác đối ngoại và hội nhập
quốc tế được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm; kết hợp chặt chẽ đối ngoại song phương
và đa phương; tổ chức thành công Lễ mở ký và Hội nghị cấp cao Công ước của Liên Hợp quốc về
chống tội phạm mạng; tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Công tác
thông tin, truyền thông có nhiều đổi mới, tạo đồng thuận, niềm tin xã hội.
2.Hạn chế, bất cập cần lưu ý
Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, nền kinh tế nước ta vẫn còn những hạn chế, khó khăn.
Ổn định kinh tế vĩ mô chịu nhiều sức ép từ bên ngoài; xuất khẩu còn rủi ro do thị trường không ổn
định và chính sách thương mại, thuế quan bất định của các nước lớn. Giải ngân vốn đầu tư công
mới đạt hơn 54% kế hoạch; 29 bộ, cơ quan, địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới mức trung bình cả
nước. Các động lực tăng trưởng truyền thống chưa đạt kỳ vọng, hoạt động sản xuất kinh doanh còn
khó khăn trong một số lĩnh vực; thị trường bất động sản từng bước được cải thiện nhưng giá nhà đất
còn neo cao. Một số địa phương thiếu chủ động, quyết liệt trong rà soát, báo cáo, xử lý theo thẩm
quyền các dự án vướng mắc, tồn đọng; nguồn lực của kinh tế nhà nước chưa được phát huy hết tiềm
năng. Việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp là việc khó, thực hiện
trên quy mô lớn, thời gian ngắn, yêu cầu cao nên có nơi, có lúc còn vướng mắc, chưa kịp thời tháo
gỡ. Tình trạng nợ đọng, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, nghị
quyết chưa được khắc phục triệt để; thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trên một số lĩnh vực
còn rườm rà. Công tác phân tích, dự báo và ứng phó với một số vấn đề phát sinh còn hạn chế; trình
độ chuyên môn của cán bộ, công chức, viên chức chưa đồng đều, còn có bộ phận chưa dám nghĩ,
dám làm, chưa vượt qua được giới hạn của bản thân. Mưa bão, lũ lụt, sạt lở đất... diễn biến phức
tạp, gây thiệt hại về người và tài sản. Đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn, nhất là vùng
sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc, biên giới, hải đảo. Tình trạng ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao
thông, ngập úng tại các đô thị lớn chưa được xử lý hiệu quả. Tình hình an ninh trật tự tại một số địa
bàn, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên biên giới, lừa đảo qua mạng, buôn lậu, gian lận
thương mại, hàng giả, hàng nhái, vi phạm bản quyền… còn diễn biến phức tạp.
3.Bài học kinh nghiệm
Chính phủ cơ bản đồng ý các bài học kinh nghiệm theo báo cáo của Bộ Tài chính, các ý kiến tại
Phiên họp và nhấn mạnh một số bài học sau: (i) Quán triệt, triển khai hiệu quả chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bám sát nguyên tắc điều hành “kỷ cương đi trước
- nguồn lực đi cùng - kết quả là thước đo”, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, phân công nhiệm vụ bảo
đảm “6 rõ”, làm đến đâu dứt điểm đến đó. (ii) Đoàn kết, thống nhất, đề cao trách nhiệm người đứng
đầu, phát huy tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung;
phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; (iii) Bám

sát thực tiễn, nắm chắc tình hình, phản ứng chính sách kịp thời, linh hoạt, phù hợp, hiệu quả; “nhìn
xa trông rộng, nghĩ sâu làm lớn”; chỉ đạo, điều hành dựa trên cơ sở dữ liệu, kết nối liên thông các cơ
sở dữ liệu; giữ vững bản lĩnh, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt; không lùi bước trước
khó khăn, càng áp lực thì càng phải nỗ lực. (iv) Lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, mục tiêu,
nguồn lực và là động lực cho sự phát triển; bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng với bảo đảm
tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bền vững trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm
soát lạm phát, (v) Vận hành tổ chức bộ máy thông suốt, hiệu quả gắn với đẩy mạnh ứng dụng khoa
học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; chú trọng thông tin, tuyên truyền, tạo đồng thuận
xã hội.
II.Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thời gian tới
Thời gian tới, dự báo tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, căng thẳng địa chính
trị, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới còn
nhiều rủi ro. Ở trong nước, khó khăn, thách thức và thời cơ, thuận lợi đan xen nhưng khó khăn,
thách thức nhiều hơn, nhất là trước tác động từ bên ngoài; mưa bão, lũ lụt, sạt lở đất tiềm ẩn diễn
biến bất ngờ, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh và đời sống Nhân dân.
Trước tình hình đó, Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nắm chắc thực
tiễn, phát huy đoàn kết, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành; kịp thời, bình tĩnh, sáng suốt trong
phản ứng chính sách; tận dụng các thời cơ, yếu tố thuận lợi để tập trung triển khai hiệu quả nhiệm
vụ trọng tâm những tháng cuối năm 2025 tại Nghị quyết số 86/NQ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2025
của Chính phủ, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra năm 2025; đồng thời,
chú trọng các nội dung sau:
1.Thực hiện nguyên tắc điều hành mới “Kỷ cương đi trước, nguồn lực đi cùng, kết quả là thước đo”
theo chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm. Tiếp tục khẩn trương tổ chức phổ biến, quán triệt, triển khai
thực hiện hiệu quả Kết luận số 199- KL/TW ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XIII về kinh tế - xã hội năm 2025 - 2026; các Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Kịp thời đánh giá tác động
của thiên tai, bão lũ để rà soát kịch bản tăng trưởng, quyết liệt thực hiện các giải pháp cụ thể, khả
thi, bảo đảm đạt mục tiêu tăng trưởng cả nước năm 2025 từ 8% trở lên và 04/26 chỉ tiêu chưa đạt
trong Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021 - 2025 theo Nghị quyết
số16/2021/QH15của Quốc hội.
2.Chủ động rà soát, kiểm tra, đôn đốc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm 2025, nhất là những đề án
trong Chương trình làm việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chương trình công tác của Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ và nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao sắp đến hạn hoặc quá hạn
nhưng chưa hoàn thành, các mục tiêu, chỉ tiêu chưa đạt; tích cực làm việc với các cơ quan liên quan
để điều chỉnh hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh chương trình làm việc, chương trình công
tác, đưa ra khỏi chương trình những nhiệm vụ không còn phù hợp, bảo đảm khả thi; phân tích rõ
nguyên nhân của hạn chế, tồn tại, từ đó có giải pháp hiệu quả. Nghiên cứu, lựa chọn những nội
dung lớn, quan trọng, cấp thiết liên quan đến lĩnh vực của bộ, cơ quan, địa phương mình để đăng ký
vào Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2026.
3.Kiên quyết, kiên trì thực hiện chủ đề, mục tiêu xuyên suốt từ nay đến cuối năm là ổn định kinh tế
vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và khắc
phục hậu quả thiên tai; đây vừa là mục tiêu vừa là động lực, vừa là nguồn lực cho sự phát triển.
Làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng
mới; phấn đấu tăng GDP quý IV năm 2025 đạt trên 8,4% để bảo đảm tăng trưởng cả năm đạt trên

8%, trong đó khu vực công nghiệp tăng khoảng trên 9,4%, khu vực dịch vụ tăng khoảng trên 8,3%,
khu vực nông nghiệp tăng khoảng 4%; tỷ trọng kinh tế số phấn đấu khoảng 20% GDP.
4.Theo dõi sát diễn biến tình hình, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu
quả, phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, hài hòa với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm,
trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh
tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Chỉ đạo các tổ chức tín
dụng hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng
trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Theo dõi chặt chẽ tình hình thị trường
vàng, thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, chủ động ứng phó với các diễn biến phát
sinh. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu quả quản lý thu,
phấn đấu tăng ít nhất 25% so với dự toán; kiểm soát chi chặt chẽ, trong phạm vi dự toán, kế hoạch
vốn được cấp có thẩm quyền giao, đúng quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công
và pháp luật có liên quan, đồng thời, tiết kiệm triệt để các khoản chi.
5.Bám sát diễn biến cung cầu, chủ động triển khai chương trình bình ổn thị trường, giá cả. Tập
trung thúc đẩy thị trường trong nước và cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt
Nam”, khuyến khích lưu thông hàng Việt Nam chất lượng cao và sản phẩm OCOP. Mở rộng thị
trường, hàng hóa xuất khẩu; khai thác, phát huy hiệu quả các hiệp định, thỏa thuận thương mại tự
do đã ký kết; tăng cường đàm phán, ký kết các hiệp định mới. Tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thực
hiện thông quan, phát triển dịch vụ logistics để giảm thời gian, chi phí xuất khẩu. Tăng cường đấu
tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả; xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối
với các hành vi vi phạm.
6.Tăng tốc hơn trong giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch; lựa chọn các
công trình, dự án quy mô lớn, ý nghĩa, đủ điều kiện khởi công, khánh thành vào ngày 19 tháng 12
năm 2025 để chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh các
giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội; nhất là các dự án gắn với chuyển
giao công nghệ, quản lý tiên tiến, hiện đại. Khai thác hiệu quả các động lực kinh tế từ các mô hình
kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát huy các cực tăng trưởng và liên kết
vùng...
7.Tập trung nguồn lực cho công tác xây dựng pháp luật; đẩy nhanh tiến độ xử lý vướng mắc, bất
cập theo quy định; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật, không “lạm dụng” trình tự, thủ tục rút gọn; rà soát, chỉnh lý kỹ lưỡng ngôn ngữ, kỹ thuật và
nội dung các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội khóa XV tại Kỳ họp thứ 10. Đối với các văn bản
quy định chi tiết các luật, nghị quyết sẽ được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10, cần rà soát nội
dung giao quy định chi tiết trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật, nghị quyết và gửi đề xuất
danh mục văn bản quy định chi tiết đến Bộ Tư pháp ngay sau khi dự án luật, nghị quyết được Quốc
hội thông qua. Chủ động xây dựng, hoàn thiện các dự án luật, nghị quyết trong Chương trình lập
pháp năm 2026 theo phân công tại Quyết định số2352/QĐ-TTgngày 24 tháng 10 năm 2025 của
Thủ tướng Chính phủ. Triển khai thực hiện hoặc tham mưu, trình cấp có thẩm quyền việc thực hiện
các kiến nghị giám sát của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.
Các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ động, tích cực theo dõi các nội dung thảo
luận, ý kiến của đại biểu Quốc hội và kiến nghị của cử tri tại Kỳ họp thứ 10 để kịp thời báo cáo, giải
trình.
8.Tập trung sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hóa
thủ tục hành chính, bảo đảm hoàn thành chỉ tiêu Chính phủ giao tại Nghị quyết số66/NQ-CPngày
26 tháng 3 năm 2025 và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số187/CĐ-TTgngày 04

