BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG ---------o0o---------
Công trình tham dự Cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng 2013
Tên công trình:
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG LỤA TRUYỀN THỐNG HÀ ĐÔNG
Nhóm ngành:KD2
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG ..................................................................................... 11
1. Lý luận chung về bảo tồn và phát triển .......................................................... 11
1.1
Tổng quan chung về bảo tồn và phát triển .................................................. 11
1.1.1 Khái niệm và đối tƣợng của bảo tồn ....................................................... 11
1.1.2 Khái niệm và đối tƣợng của phát triển .................................................... 14
1.2 Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển ...................................................... 16
1.3 Ý nghĩa của bào tồn và phát triển ............................................................... 18
2. Lý luận chung về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống .................... 20
2.1
Tổng quan về làng nghề truyền thống ........................................................ 20
2.1.1 Khái niệm và đặc trƣng của làng nghề truyền thống .............................. 20
2.1.2 Vai trò của làng nghề truyền thống trong nền kinh tế hiện đại ............... 22
2.2 Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ............................................. 24
2.2.1 Khái niệm bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ........................ 24
2.2.2
Các quan điểm cơ bản về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống 26
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG LỤA TRUYỀN THỐNG HÀ ĐÔNG .............................................................................. 29
I. Lịch sử hình thành làng lụa truyền thống Hà Đông ....................................... 29
1. Lịch sử hình thành .......................................................................................... 29
2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tê, xã hội phát triển đến sự phát triển của làng lụa truyền thống Hà Đông ........................................................................................... 30
2.1 Vị trí địa lý và ranh giới ............................................................................. 30
2.2 Địa hình ...................................................................................................... 31
2.3 Khí hậu ....................................................................................................... 31
2.4 Cảnh quan thiên nhiên ................................................................................ 32
2.5 Đặc điểm sử dụng đất ................................................................................. 32
2.6 Không gian cảnh quan ................................................................................ 33
2.7 Kinh tế ........................................................................................................ 34
3. Những điều kiện và tiềm năng để thúc đẩy sự phát triển của làng nghề truyền thống ...................................................................................................................... 34
II.
Quá trình phát triển của làng nghề từ năm 2000 đến nay ........................... 35
2
1. Thực trạng hoạt động kinh doanh tại làng nghề ............................................. 35
1.1 Cơ sở sản xuất ............................................................................................. 35
1.2 Lực lƣợng lao động ......................................................................................... 36
1.3 Sản phẩm ......................................................................................................... 37
1.4
Thị trƣờng các yếu tố đầu vào và Thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm ................ 39
2. Sự hình thành và phát triển những giá trị văn hóa tiêu biểu của làng nghề ... 40
3. Tác động của sự phát triển nghề truyền thống tới các vấn đề an sinh xã hội của ngƣời dân làng nghề ........................................................................................ 44
III.
Thực trạng bảo tồn và phát triển làng lụa truyền thống Hà Đông .............. 46
1. Quá trình bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa đặc sắc của làng nghề ..... 46
1.1 Hoạt động liên quan tới kinh tế .................................................................. 46
1.2 Hoạt động liên quan tới văn hóa – du lịch .................................................. 48
2. Đông”Quá trình bảo tồn và phát triển thƣơng hiệu “Lụa Hà ......................... 50
IV. Đánh giá hoạt động bảo tồn và phát triển làng lụa truyền thống Hà Đông 53
1. Đánh giá hoạt động bảo tồn và phát triển liên quan tới lĩnh vực kinh tế ....... 53
2. Đánh giá hoạt động bảo tồn và phát triển liên quan tới lĩnh vực văn hóa – du lịch 54
3. Đánh giá về hoạt động bảo tồn và phát triển thƣơng hiệu “Lụa Hà Đông ..... 57
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG LỤA TRUYỀN THỐNG HÀ ĐÔNG .............................................................................. 58
I. Định hƣớng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống của Đảng và Nhà nƣớc ta giai đoạn hiện nay (đến năm 2020)........................................................... 58
1. Quan điểm ...................................................................................................... 58
2. Mục tiêu .......................................................................................................... 59
3. Định hƣớng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ............................. 60
Kinh nghiệm về vấn đề bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống
II. của Nhật Bản, Thái Lan và một số quốc gia khác ................................................. 65
1. Kinh nghiệm của Nhật Bản ............................................................................ 66
2. Kinh nghiệm của Thái Lan và một số nƣớc khác ........................................... 68
3. Bài học kinh nghiệm từ một số nƣớc khu vực Châu Á về bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề ...................................................................................................... 68
III. Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển làng lụa truyền thống Hà Đông ........ 70
1. Các giải pháp bảo tồn làng lụa truyền thống Hà Đông .................................. 70
3
1.1. Quy hoạch làng nghề với khu sản xuất và khu nhà ở riêng biệt. ................ 70
1.2 Đảm bảo quá trình từ sản xuất cho tới tiêu thụ thông suốt .............................. 73
1.3 Nâng cao chất lƣợng sản phẩm lụa .................................................................. 76
1.3 Xây dựng chiến lƣợc marketing cho sản phẩm lụa .................................... 77
1.3.1Thi trƣờng vải may mặc nói chung tại Việt Nam .............................................. 77
1.3.2
Thị hiếu ngƣời tiêu dùng ......................................................................... 78
1.3.3 Mô hình 4P .............................................................................................. 79
1.3.4 Áp dụng mô hình vào lụa Vạn Phúc ............................................................ 80
2. Các giải pháp phát triển .................................................................................. 86
2.1 Nâng cao phát triển du lịch làng nghề ........................................................ 86
2.1.1 Về phía chính quyền, cơ quan lãnh đạo địa phƣơng ............................... 87
2.1.2 Về phía các công ty du lich, các công ty lữ hành .................................... 89
2.2 Đào tạo nguồn nhân lực trẻ biết nghề và tâm huyết với nghề và nâng cao chất lƣợng quản lý của hiệp hội làng nghề ............................................................ 91
2.2.1 Mở rộng ngành nghề lao động, thu hút nguồn nhân lực trẻ .................... 91
2.2.2 Kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực của Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc .... 93
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 99
4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một nƣớc đang phát triển, nền kinh tế còn phụ thuộc chủ yếu vào
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, việc thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn, trong đó bao gồm cả việc bảo tồn và phát triển làng nghề truyền
thống ở Việt Nam là việc làm rất cần thiết. Trong quá trình phát triển kinh tế
đất nƣớc, làng nghề đóng vai trò hết sức quan trọng, đóng góp của các làng
nghề đã tạo ra nhiều nét khởi sắc cho kinh tế địa phƣơng.
Với số lƣợng khoảng 4500 làng nghề trên địa bàn cả nƣớc, thu hút hơn
11 triệu lao động (theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
năm 2011), các làng nghề đã có những đóng góp đáng kể trong công cuộc xóa
đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho ngƣời lao động, đặc biệt là lao động ở các
vùng nông thôn, đồng thời đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu và
tăng trƣởng GDP hằng năm. Bên cạnh đó, việc đầu tƣ và phát triển các làng
nghề đã góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo
hƣớng “ly nông bất ly hƣơng”, giúp giải quyết nhiều vấn đề khó khăn cho cả
chính quyền địa phƣơng lẫn ngƣời dân.
Tuy nhiên, có một thực tế đáng báo động đang diễn ra, đó là sự suy giảm
nghiêm trọng về quy mô và chất lƣợng các làng nghề truyền thống. Làng lụa
Vạn Phúc - Hà Đông cũng không phải là một ngoại lệ. Cách trung tâm thành
phố Hà Nội khoảng chừng 10km, Làng lụa Vạn Phúc thuộc quận Hà Đông
đƣợc biết đên là một làng dệt lụa tơ tằm nổi tiếng từ xa xƣa, có nhiều mẫu hoa
văn tinh xảo, sống động và lâu đời vào hàng bậc nhất Việt Nam. Nằm bên bờ
sông Nhuệ, làng Vạn Phúc vẫn ít nhiều giữ đƣợc nét cổ kính với hình ảnh
cổng làng, cây đa, giếng đình và các phiên chợ. Các mẫu lụa tơ tằm đƣợc bày
bán tại đây rất đa dạng về hoa văn, màu sắc, kiểu cách và chất lƣợng. Nổi
tiếng là thế, nhƣng nơi đây, cũng nhƣ bao làng nghề truyền thống khác, đang
đứng trƣớc nguy cơ mai một đi cái nghề, cái bản sắc ông cha ta để lại.
5
Theo thống kê, năm 2010 làng Vạn phúc có 1279 hộ dân thì có 1092 hộ
còn dệt lụa, tuy nhiên gần đây chỉ còn 10% hộ dân còn giữ nghề dệt truyền
thống. Năm 2011 tổng sản phẩm lụa tiêu thụ là 2 triệu mét chỉ bằng một phần
ba ba năm trƣớc. Sản xuất lụa không còn chiếm vị trí độc tôn, thu nhập từ sản
xuất lụa không hấp dẫn bằng những ngành nghề khác, ngƣời dân Vạn Phúc
cũng không còn mặn mà để sống với nghề truyền thống. Lƣợng hàng bán thì
lúc đƣợc lúc không, đời sống bấp bênh, số lƣợng lao động bỏ nghề ngày càng
tăng lên, số lƣợng lao động trẻ đến với nghề thì ngày càng giảm. Đây là một
thực tế đáng quan ngại, bởi lẽ, muốn giữ nghề, giữ cái hồn cốt ông cha để lại,
thì con ngƣời chính là nhân tố quan trọng nhất.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, những nét văn hóa truyền thống
đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và hội nhập của đất nƣớc.
Thực tế cho thấy làng lụa Vạn Phúc đang là tâm điểm trong sự phát triển du
lịch làng nghề ở Việt Nam. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm sao để duy trì bảo tồn
và phát triển làng lụa Vạn Phúc? Từ thực tế nhìn nhận thực trạng bảo tồn và
phát triển làng lụa Vạn Phúc hiện nay, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Bảo tồn
và phát triển làng lụa truyền thống Hà Đông” cho bài nghiên cứu khoa học
của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Làng nghề truyền thống vừa đem lại các giá trị kinh tế cho đất nƣớc vừa
là động lực để duy trì giá trị văn hóa của dân tộc, và là nét đẹp của địa phƣơng
cũng nhƣ xã hội.
Trong sự phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa,
kinh tế làng nghề có điều kiện để phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên vẫn tồn tại
tình trạng làng nghề sản xuất nhỏ lẻ, mang tính tự phát, thiết bị thủ công, đơn
giản, công nghệ lạc hậu; thêm vào đó ý thức của ngƣời dân nói chung và
ngƣời dân làng nghề nói riêng trong việc thực hiện bảo vệ môi trƣờng sinh
thái còn hạn chế. Do đó, rất nhiều nghiên cứu cũng nhƣ các đề án đã đƣợc đƣa
6
ra nhằm mục đích cải thiện tình trạng này và đề cao tầm quan trọng của bảo
tồn và phát triển làng nghề truyền thống.
Một trong những đề án tiêu biểu đó chính là đề án bảo tồn và phát triển
làng nghề, gắn với hoạt động du lịch do Sở Công Thƣơng thành phố Hà Nội
chủ trì xây dựng vào năm 2010; bên cạnh đó ngày 31 tháng 10 năm 2011, Bộ
Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đã phê duyệt “Chƣơng trình Bảo tồn và
phát triển làng nghề”, với mục tiêu đến năm 2015 sẽ bảo tồn từ 30 – 40 làng
nghề truyền thống và phát triển từ 50 – 70 làng nghề mới và làng nghề gắn
với du lịch.
Hơn nữa, có rất nhiều những đề tài nghiên cứu khoa học, luận án thạc sĩ,
tiến sĩ nghiên cứu về các vấn đề liên quan tới bảo tồn và phát triển làng nghề
nhƣ: các hoạt động marketing, xúc tiến thƣơng mại các sản phẩm làng nghề,
các hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, các vấn đề liên quan tới sự
phát triển bền vững làng nghề.
Ngoài ra, nhiều chƣơng trình hội thi về sản phẩm thủ công đƣợc tổ chức
nhằm
khuyến khích phát triển sản xuất ở các làng nghề hàng năm cũng đƣợc tổ chức
đã góp phần nào giúp các nghệ nhân hăng say sáng tạo làm nghề và truyền lại
tâm huyết cho con cháu.
Các dự án, đề tài nghiên cứu đã đƣa ra đƣợc những mặt hạn chế cần
khắc phục trong sự bảo tồn và phát triển làng nghề hiện nay và đƣa ra những
giải pháp mang tính thực tiễn cao. Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế gặp
nhiều khó khăn và do nhiều yếu tố khách quan nên không đem lại hiệu quả
nhƣ mong muốn.
Nhƣ vậy, vấn đề bảo tồn và phát triển làng nghề vẫn đƣợc coi là một chủ
đề nóng hiện nay trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu đang ngày càng
phát triển.
7
3. Đối tƣợng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề bảo tồn và phát triển làng lụa truyền thống
Hà Đông.
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Xây dựng giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống lụa
Vạn Phúc.
Mục tiêu cụ thể:
Chỉ ra thực trạng hoạt động kinh doanh, thực trạng bảo tồn và phát
triển làng nghề lụa Hà Đông hiện nay.
Tìm ra các yếu tố tác động đến sự thay đổi trong quan điểm của ngƣời
dân làng nghề về duy trì và phát triển nghề truyền thống.
Phân tích phƣơng hƣớng, chủ trƣơng của Nhà nƣớc về vấn đề bảo tồn
và phát triển làng nghề.
Đánh giá những dự án, công trình nghiên cứu khoa học đã và đang
đƣợc thực hiện về vấn đề bảo tồn và phát triển làng nghề nói chung và
làng lụa Hà Đông nói riêng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp tổng hợp thống kê, phân tích, đối chiếu nhằm đƣa ra nhận
định về tình hình phát triển kinh tế của làng nghề trong phạm vi nghiên
cứu.
Phƣơng pháp điều tra xã hội hóa để thu thập số liệu, nhằm xây dựng mô
hình các nhân tố ảnh hƣởng tới sự thay đổi quan điểm của ngƣời dân
làng nghề về duy trì và phát triển nghề truyền thống.
8
Kinh nghiệm của các quốc gia về vấn đề bảo tồn và phát triển làng nghề
thủ công truyền thống (Nhật Bản, Trung Quốc).
5. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu về vai trò, tầm quan trọng của làng
nghề truyền thống trong nền kinh tế hiện đại, thực trạng phát triển làng
lụa Vạn Phúc – Hà Đông, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát
triển của làng lụa truyền thống Vạn Phúc – Hà Đông.
Về không gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu về vấn đề bảo tồn và phát
triển đối với làng lụa truyền thống Hà Đông, trong mối quan hệ với các
làng nghề truyền thống khác của Việt Nam.
Về thời gian: Giai đoạn nghiên cứu trọng tâm là 2000-2011 và định
hƣớng phát triển giai đoạn 2012-2020.
6. Kết quả nghiên cứu dự kiến
Dựa vào bối cảnh các làng nghề truyền thống hiện nay ở Việt Nam, nhóm
nghiên cứu mong muốn đạt đƣợc một số kết quả sau:
Xây dựng các giải pháp áp dụng thực tiễn nhằm thực hiện đƣợc bảo tồn
và phát triển một cách có hiệu quả.
1 báo cáo tổng thuật.
1 tham luận/ bài viết tham gia Hội nghị Khoa học Sinh viên.
1 bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành có liên quan nhƣ Tạp chí
Kinh tế đối ngoại – Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng xuất bản; Tạp chí
Kinh tế & Phát triển – Trƣờng Đại học Kinh tê quốc dân xuất bản.
7. Kết cấu của đề tài
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG
NGHỀ TRUYỀN THỐNG
9
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG LỤA
TRUYỀN THỐNG HÀ ĐÔNG
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG LỤA
TRUYỀN THỐNG HÀ ĐÔNG
10
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
1. Lý luận chung về bảo tồn và phát triển
1.1 Tổng quan chung về bảo tồn và phát triển
1.1.1 Khái niệm và đối tƣợng của bảo tồn
a. Khái niệm về bảo tồn
Theo định nghĩa chung của Thế Giới
Bảo tồn là một đạo lý về việc sử dụng, phân bổ và bảo vệ nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Nó tập trung chính vào sức khỏe của giới tự nhiên, thủy
sản, môi trƣờng sống và đa dạng sinh học. Thứ hai là bảo tồn giá trị vật chất
và nguồn năng lƣợng vì vậy bảo tồn đƣợc xem là rất quan trọng trọng việc
bảo vệ thế giới tự nhiên. Những ngƣời theo trƣờng phái bảo tồn, đặc biệt là
những ngƣời ủng hộ và làm việc vì mục tiêu bảo tồn đƣợc gọi là các nhà bảo
tồn.
Ngƣời ta phân loại các loại bảo tồn nhƣ: bảo tồn hệ sinh thái, thủy sản,
rừng, tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm và bảo tồn các loài.
Ở Việt Nam
Bảo tồn là việc lƣu trữ và truyền dạy những giá trị cần thiết trong các
lĩnh vực khi mà xã hội càng tiến bộ và phát triển hơn.
Bảo tồn có thể nói đến trong các lĩnh vực sau:
Về chính trị và chính sách:
Vận động bảo tồn: các cuộc vận động để bảo vệ các loài động thực vật
cũng nhƣ nơi sống của chúng
Đạo đức bảo tồn: liên quan đến bảo tồn các hệ sinh thái
Bảo tồn năng lƣơng: đó là việc làm giảm việc sử dụng các dạng năng
lƣợng không phục hồi.
11
Bảo tồn nguồn nƣớc: việc giảm sử dụng hoang phí các nguồn nƣớc,
cũng nhƣ ô nhiễm các nguồn nƣớc tự nhiên.
Luật bảo tồn: tuyên truyền và phát triển các chính sách luật phù hợp
trong các thời đại
Về văn hóa:
Bảo tồn nghệ thuật: bảo tồn sản phẩm nghệ thuật có giá trị lịch sử gìn
giữ lâu dài, và có ý nghĩa đối với cuộc sống, đáng để lƣu truyền cho
thế hệ sau học hỏi và phát huy.
Bảo tồn các di sản văn hóa: các di sản văn hóa đó có thể là các thành
quả tiêu biểu của con ngƣời qua các thời kỳ xây dựng (còn tồn tại hoặc
đã biến mất), nó còn bao gồm cả những danh lam thắng cảnh do bàn
tay của tạo hóa nhào nặn.
Bảo tồn kiến trúc: bảo tồn các công trình kiến trúc mang tính đặc trƣng
cho từng vùng, lĩnh vực của khu vực đó, và có ý nghĩa dối với khu vực
đó.
Bảo tồn các khu khảo cổ: đó là nơi lƣu trữ những giá trị lịch sử của
mỗi dân tộc, vùng miền.
Về khoa học
Sinh học bảo tồn: là môn khoa học về bảo vệ và lý luận đa dạng sinh
học
Bảo tồn gen: đó là việc bảo tồn các nguồn gen quý hiếm, có nguy cơ
tuyệt chủng.
b. Đối tƣợng của bảo tồn
Đối tƣợng của bảo tồn rất đa dạng phong phú vì vậy phụ thuộc vảo
từng lĩnh vực, dân tộc, khu vực khác nhau mà đối tƣợng bảo tồn là khác nhau.
Bảo tồn là việc lƣu trữ, truyền dạy và chấp nhận, vì vậy việc bảo tồn tĩnh hay
động, lƣu giữ nguyên trạng hay chấp nhận những biến động vẫn đang là
12
những tranh luận và lựa chọn giữa các nhà khoa học và các địa phƣơng và
ngay trong cộng đồng dân cƣ đang sở hữu di sản cần bảo tồn đó.
Ở Việt Nam mỗi vùng miền có những giá trị khác nhau cần bảo tồn,
gìn giữ nhƣ một nét đẹp của vùng miền đó. Chẳng hạn nhƣ Hà Nội việc bảo
tồn và gìn giữ các di tích lịch sử: bảo tàng Hồ Chí Mình, Lăng Bác, Hồ
Gƣơm, 36 phố phƣờng, những phong tục tập quán của ngƣời Hà Nội xƣa,
những công trình kiến trúc từ lâu đời nhƣ cột cở Hà Nội, Nhà hát lớn, những
ngôi làng, phố cổ, và ẩm thực là điều không thể bỏ qua mà chúng ta cần gìn
giữ và phát huy để thấy đƣợc nét đẹp của con ngƣời, xã hội nơi đây. Với
thành phố Hồ Chí Minh với những công trình kiến trúc nhƣ Bƣu điện thành
phố, Dinh độc lập, nhà thờ Đức Bà, những khu chợ nhƣ Chợ Bến Thành, Bến
cảng nhà rồng, Bảo tàng thành phố…cũng nhƣ ẩm thực, lối sống của ngƣời
Sài thành xƣa là nét đẹp không thể bỏ qua. Chính vì vậy mà mỗi vùng miền
đều có nét đẹp riêng, đều có giá trị văn hóa riêng cần đƣợc bảo tồn và phát
huy giá trị đó.
Vậy đối tƣợng chúng ta cần bảo tồn là gì? Đó là các giá trị văn hóa
vật thế hoặc phi vật thế mang lại giá trị cho ngƣời về vật chất cũng nhƣ tinh
thần. Trong các lĩnh vực khác nhau đối tƣợng bảo tồn là khác nhau.
Trong lĩnh vực chính trị, chính sách: đối tƣợng cần bảo tồn ở đây đó
là những cuộc vận động liên quan đến bảo tồn các loài động thực vật, bảo tồn
hệ sinh thái và những chính sách về việc khuyến khích bảo vệ, giữ gìn và phát
huy các giá trị văn hóa, xã hội của cộng đồng còn phù hợp với hiện tại. Đó là
các chính sách có giá trị, phù hợp với thời đại ngày nay, con ngƣời có thể sửa
đổi để phát huy.
Trong lĩnh vực văn hóa: với văn hóa thì có vô vàn giá trị cần bảo tồn,
bởi văn hóa thì luôn đa dạng và đậm đà bản sắc của mỗi dân tộc, tuy nhiên
không phải bất kì văn hóa nào cũng cần đƣợc bảo tồn, chúng ta cần bảo tồn
các giá trị văn hóa mang tính đặc trƣng của dân tộc, phù hợp với đời sống
13
hiện đại, có ích cho con ngƣời. Những giá trị văn hóa vật thể đƣợc biểu hiện
qua những sáng tạo của con ngƣời mà chúng ta có thể cảm nhận đƣợc thông
qua các giác quan, với những kích thƣớc, trọng lƣợng, hình dáng, màu sắc,
mùi vị, âm thanh nhất định. Chẳng hạn nhƣ những công trình kiến trúc lâu
đời, đƣợc bảo vệ và duy trì nhƣ một lòng biết ơn tƣởng nhớ đến ngƣời có
công cho đất nƣớc, nó cũng mang nét đẹp văn hóa của đất nƣớc đó và trở
thành một sản phẩm du lịch, góp phẩn quảng bá cho đất nƣớc. Ngƣợc lại, văn
hóa tinh thần là những sáng tạo thuộc lĩnh vực tri thức, tâm linh, hiểu biết,
tình cảm, suy tƣ của con ngƣời. Nói cách khác, văn hóa tinh thần thuộc lĩnh
vực tƣ duy trừu tƣợng mà chúng ta không thể dùng các giác quan để cầm
nắm, quan sát nó, chỉ có thể nhận biết thông qua suy nghĩ, cảm nhận và liên
tƣởng.
Trong lĩnh vực khoa học: đối tƣợng mà chúng ta cần hƣớng tới bảo
tồn là những lý luận sinh học, đa dạng sinh học các loài, những nguồn gen
động thực vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng, các loài động thực vật
có giá trị kinh tế cao đang bị khác thác, tàn phá bừa bãi. Những đối tƣợng mà
chúng ta cần bảo tồn là những nguồn gen quý hiếm, những loài động, thực vật
có nguy cơ tuyệt chủng do sự săn bắn của con ngƣời hay các yếu tố tự nhiên,
ngay cả xác các loài động vật cổ cũng là đối tƣợng bảo tồn, đó là những vật
quý cả về vật chất lẫn tinh thần. Nó có giá trị trong việc nghiên cứu tìm tòi
của con ngƣời về lịch sử, quá trình hình thành thế giới để thỏa mãn sự hiều
biết của con ngƣời.
1.1.2 Khái niệm và đối tƣợng của phát triển
a. Khái niệm phát triển
Theo quan điểm về phát triển của Các Mác về công cuộc đổi mới của
Việt Nam thì: “ Phát triển là một quá trình từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp và không bao giờ là một con đƣờng thẳng tắp, bằng phẳng cho mọi
dân tộc, trong mọi thời đại.”
14
Theo quan niệm về di truyền học, Ghenken(1960) định nghĩa: “ sự phát
triển là quá trình biến đổi về chất cần thiết xảy ra trong tế bào và quá trình
hình thành cơ quan mới mà cây phải trải qua từ khi tế bào trứng đƣợc thụ tinh
cho đên khi hình thành tế bào sinh sản mới”
Theo quan niệm về phát triển trong kinh tế: “ Phát triển là quá trình lớn
lên, tăng tiến về mọi mặt của một nền kinh tế, nó bao gồm sự hoàn chỉnh về
mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lƣợng cuộc sống.”
Trong mỗi lĩnh vực phát triển thƣờng hƣớng đến đối tƣợng, pham vi
khác nhau vì vậy theo quan điềm chung nhóm chúng tôi rút ra: Phát triển là
khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hƣớng tiến lên từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện
hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu.”
b. Đối tƣợng của phát triển
Đến đây chúng ta cần tìm hiểu xem mỗi lĩnh vực ngành nghề, khu vực
cần phát triển đối tƣợng nào? Và tại sao phải phát triển đối tƣợng đó? Mỗi địa
phƣơng có một thế mạnh, một đặc thù riêng, nên chúng ta cần phát huy thế
mạnh đặc thù ấy để phát triển, tiến bộ duy trì cái cũ có kế thừa để phát huy cái
mới hiện đại phù hợp hơn.
Trong lĩnh vực chính trị, chính sách: việc kế thừa những chính sách
cũ phù hợp là rất tốt, nhƣng chúng ta cần biết thay đổi, chỉnh sửa các chính
sách cho phù hợp với thời thế biến đổi để góp phần xây dựng đất nƣớc đi lên
theo thời đại.
Trong lĩnh vực văn hóa: luôn luôn thay đối thì việc giữ gìn là rất khó
nhƣng việc phát triển các nền văn hóa đó còn khó hơn khi vừa phải phát triển
vừa phải duy trì bản sắc. Theo thời gian những giá trị văn hóa đƣợc lƣu truyền
nhƣng những giá trị đó càng không phù hợp với hiện tại việc lƣu truyền càng
trở lên khó khăn, giới trẻ ngày càng xa rời với văn hóa ngày xƣa, dễ bị hiện
15
đại hóa với xã hội hiện đại, những công trình kiến trúc đình chùa theo thời
gian càng bị phá hủy đó là những giá trị văn hóa hiện vật mà chúng ta cần bảo
tồn và làm cho các giá trị ấy phát triển hơn.
Trong lĩnh vực khoa học: vấn đề phát triển luôn diễn ra, khoa học
công nghệ ngày càng phát triển nên chúng ta cũng phải không ngừng học hỏi
để phát triển ra các sản phẩm mới, những nghiên cứu mới trong các lĩnh vực
để bắt kịp với thời đại góp phần phát triển kinh tế đất nƣớc.
Tóm lại, vẫn đề bảo tồn và phát triển trong mọi lĩnh vực ngành nghề
luôn là vấn đề quá khứ, hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Trong mọi lĩnh vực,
chúng ta cần bảo tồn cái quý hiếm có giá trị để phát triển chúng cho phù hợp
tiến bộ mang lại giá trị vật chất cũng nhƣ tinh thần cho cả cộng đồng.
Việc bảo tồn và phát triển làng nghề lụa Vạn Phúc Hà đông đó là việc
bảo tồn một nét đẹp văn hóa lâu đời của ngƣời dân địa phƣơng, của xã hội
cũng nhƣ một nét đẹp văn hóa của ngƣời Việt. Làng nghề không chỉ đem lại
giá trị về mặt văn hóa mà còn có giá trị lớn lao về việc phát triển kinh tế, xã
hội cho ngƣời dân.
1.2 Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển
Bảo tồn là một vấn đề rộng lớn, đa dạng và ngƣời ta thƣờng gắn liền
vấn đề bảo tồn với các đối tƣợng cụ thể nhƣ: bảo tồn văn hóa vật thể, bảo tồn
văn hóa phi vật thể; bảo tồn sự đa dạng sinh học; bảo tồn làng nghề truyền
thống; bảo tồn di sản văn hóa.
Bảo tồn không phải là hoạt động cản trở quá trình vận động, không
kìm hãm sự phát triển của sự vật, hiện tƣợng, mà trong một chừng mực nào
đó còn là cơ sở cho sự phát triển sự vật, hiện tƣợng theo đúng hƣớng. Trong
nội tại bản thân sự vật, hiện tƣợng luôn tồn tại, một mặt là những đặc điểm
riêng có, mang bản sắc độc đáo, đó là nét đẹp, là giá trị, là điểm khác biệt để
phân biệt sự vật, hiện tƣợng này với sự vật hiện tƣợng khác; mặt kia là những
16
yếu tố lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với hiện thực khách quan. Bởi vậy,
nhiệm vụ của bảo tồn phải nhận biết, tìm ra những điểm lỗi thời, lạc hậu,
thậm chí đi ngƣợc lại với quy luật khách quan của sự vật hiện tƣợng. Thông
qua đó, định hƣớng một cách đúng đắn cho quá trình phát triển: yếu tố nào
của sự vật, hiện tƣợng cần đƣợc giữ nguyên giá trị của nó, yếu tố nào cần
đƣợc thay đổi, phát huy nhằm tăng thêm giá trị cho nó và sẽ phải phát huy nó
nhƣ thế nào, bằng cách nào cho phù hợp, nhất quán với giá trị hiện tại của sự
vật, hiện tƣợng.
Bản thân quá trình phát triển sẽ có sự đào thải yếu tố lỗi thời, lạc hậu,
không phù hợp với hiện thực khách quan. Thế nhƣng việc coi bảo tồn triệt
tiêu sự phát triển và ngƣợc lại phát triển sẽ triệt tiêu bảo tồn là hoàn toàn sai
lầm. Bảo tồn và phát triển có thể coi là thúc đẩy nhau; trong đó bảo tồn giữ
vai trò là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển. Mọi hoạt động liên quan đến bảo
tồn nhƣ bảo vệ, duy trì, giữ gìn, lƣu trữ và truyền dạy những gì tồn tại trong
thực tế, mang tính chất tiến hóa, mang tính chất duy trì và tồn tại đều có ảnh
hƣởng lớn đến hoạt động phát triển; bởi bảo tồn là cơ sở cho sự phát triển
đúng hƣớng, công tác bảo tồn có hoàn thiện sẽ thúc đẩy kế hoạch phát triển
đƣợc thực hiện đúng phƣơng hƣớng và nhu cầu hiện tại của thực tế xã hội. Và
ngƣợc lại, khi hoạt động phát triển sự vật, hiện tƣợng đƣợc tiến hành có hiệu
quả tạo điều kiện về cả yếu tố tinh thần và kinh tế, giúp cho công tác bảo tồn
ngày càng đƣợc quan tâm và thực hiện có kế hoạch cụ thể hơn, quy mô hơn.
Bên cạnh đó thông qua phát triển, con ngƣời nhận thức và thực hiện
hoạt động bảo tồn nhằm thể hiện bản sắc riêng. Phân tích một lĩnh vực tiêu
biểu là văn hóa, từ hoạt động phát triển văn hóa gắn liền với tiếp thu tinh hoa
văn hóa nhân loại, để khẳng định bản sắc dân tộc, thể hiện cái độc đáo, cái
riêng có của nền văn hóa nƣớc nhà, mỗi ngƣời dân phải có ý thức nhận biết và
tự ý thức bảo tồn giá trị nét đẹp văn hóa của dân tộc, và tất nhiên, bài trừ
những hủ tục, những tập quán cản trở sự phát triển của đất nƣớc. Quá trình
vận động của sự vật hiện tƣợng, cho dù là tự bản thân nó vận động hay do sự
17
tác động của con ngƣời, vẫn diễn ra liên tục, hàng ngày, không ngừng nghỉ và
thay đổi theo một hƣớng xác định. Song song cùng quá trình phát triển theo
xu hƣớng vận động của thế giới khách quan, con ngƣời cũng cần nhận thức
đƣợc vai trò của hoạt động bảo tồn. Để không bị mai một giá trị, không bị
đồng hóa sự vật, hiện tƣợng này với sự vật, hiện tƣợng khác, hay nói cách
khác, để giữ gìn giá trị, giữ gìn bản sắc độc đáo của sự vật, hiện tƣợng tƣợng
trong lộ trình phát triển và hành trình hội nhập với văn minh nhân loại diễn ra
hàng ngày, con ngƣời phải nhận thức đƣợc đâu là nét độc đáo, đâu là điểm
riêng biệt có giá trị cao cần đƣợc giữ gìn và lƣu giữ của một sự vật, hiện
tƣợng nhằm nâng nó lên thành bản sắc riêng, mà khi nhắc đến nó nhƣ là một
cách gọi khác cho sự vật, hiện tƣợng đó vậy.
Cũng bởi tầm quan trọng của việc bảo tồn mà trong quá trình phát triển
chứa đựng sự đánh giá, xác lập vị thế mới của đối tƣợng dựa trên nền tảng giá
trị đã đƣợc bảo tồn. Bảo tồn không đơn thuần chỉ là bảo vệ, hay lƣu giữ
những giá trị đặc sắc của sự vật hiện tƣợng, mà bảo tồn còn là cơ sở, là căn cứ
cho sự phát triển, giúp cho quá trình phát triển của sự vật hiện tƣợng dƣới sự
tác động của con ngƣời không bị chệch hƣớng và tuân theo lộ trình vận động
hợp lí của thế giới khách quan mà sự vật, hiện tƣợng đó đang tồn tại. Hơn thế
nữa, song hành cùng quá trình phát triển là sự đánh giá, nhận xét những giá trị
mới đƣợc xây dựng, so với nền tảng giá trị đã đƣợc bảo tồn và giá trị của sự
vật hiện tƣợng khác trong cùng một lĩnh vực. Và kết quả của một bƣớc phát
triển là xác lập vị thế mới của sự vật, hiện tƣợng.
1.3 Ý nghĩa của bào tồn và phát triển
Bảo tồn, theo nghĩa thực của nó là giữ gìn, lƣu trữ giá trị. Vậy hệ giá trị
đƣợc hiểu nhƣ thế nào? Tùy theo từng đối tƣợng, với mỗi hệ giá trị khác nhau
mà bảo tồn có thể đƣợc thực hiện ở các dạng hành động khác nhau: bảo vệ đối
với hệ sinh thái, sự đa dạng sinh học; lƣu trữ vật dụng mang giá trị văn hóa
cao, mang ý nghĩa nhân chứng lịch sử; hay bảo tồn còn thể hiện qua việc dạy
18
nghề, truyền nghề lại cho thế hệ sau đối với các làng nghề truyền thống. Mục
đích của hoạt động bảo tồn là khác nhau với mỗi đối tƣợng khác nhau. Việc
bảo tồn các khu rừng nguyên sinh sẽ ổn định đƣợc về môi trƣờng, hình thành
các vùng vành đai điều hòa tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu; bảo tồn
biển không chỉ đơn thuần là bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là các hệ sinh
thái nơi cƣ trú thƣờng xuyên quan trọng đối với các loài sinh vật biển, nhất là
các loài đang bị khai thác mạnh, bị đe dọa và có nguy cơ bị diệt vong mà còn
mang lại lợi ích kinh tế, tận dụng đƣợc tối đa và lâu dài lợi ích từ nguồn tài
nguyên biển cũng nhƣ tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy nhanh sự phát triển
kinh tế - xã hội. Nhƣ vậy, dù là đối tƣợng nào hay bảo tồn dƣới hình thức nào
thì công tác bảo tồn không chỉ đơn giản giữ lại mà còn thể hiện cốt cách, khí
phách, tƣ chất và sức mạnh khẳng định sự khác biệt giữa sự vật này với sự vật
khác, khẳng định bản sắc độc đáo, riêng có của nó, để từ đó không chỉ tạo ra
giá trị văn hóa, giá trị phi vật thể mà còn tạo ra giá trị, tiềm lực về kinh tế từ
chính sự khác biệt độc đáo của nó.
Về mặt lí luận, “phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết
mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện tƣợng; là quá trình thống nhất
giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự
vật, hiện tƣợng cũ trong hình thái của sự vật, hiện tƣợng mới”.
Bảo tồn hình thành nên cơ sở cho sự phát triển, thúc đẩy quá trình phát
triển theo đúng định hƣớng. Nhƣ vậy, phát triển sự vật, hiện tƣợng còn là một
phƣơng thức bảo tồn chính giá trị đặc biệt của sự vật, hiện tƣợng đó. Phát
triển tạo ra một sự đa dạng, phong phú trong nội tại bản thân sự vật hiện
tƣợng dựa trên tảng những giá trị vốn có của nó - phát triển nội tại. Phát triển
cũng có thể chuyển sự vật, hiện tƣợng sang một hệ thống khác, nhằm thích
ứng với điều kiện môi trƣờng lịch sử - xã hội. Phát triển theo đúng nghĩa của
nó không chỉ đáp ứng các nhu cầu hiện tại của sự vật, hiện tƣợng, đáp ứng
nhu cầu hiện tại của con ngƣời trong xã hội hiện tại mà còn không gây trở
ngại đáp ứng nhu cầu của các thế hệ sau – phát triển bền vững. Nếu nhƣ bảo
19
tồn lƣu trữ lại những giá trị vốn có của sự vật, hiện tƣợng thì phát triển nhằm
mục đích làm tăng thêm giá trị ấy, khẳng định và xác lập vị thế dựa trên nền
tảng giá trị đƣợc bảo tồn.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển có ý nghĩa to lớn và
quan trọng trong công tác thực hiện các hoạt động bảo tồn và phát triển các sự
vật, hiện tƣợng khác nhau một cách có hiệu quả. Mối quan hệ giữa bảo tồn và
phát triển giúp ta xác định đƣợc phƣơng hƣớng hành động của các hoạt động,
nhận biết đƣợc đâu là giá trị cần phải giữ gìn, là cơ sở, là nền tảng cho sự phát
triển của sự vật, hiện tƣợng. Hơn nữa, việc xác định rõ ràng và chính xác hiện
trạng, vị thế của sự vật hiện tƣợng trong thế giới khách quan, trong sự tƣơng
quan với các sự vật hiện tƣợng khác là một điều kiện cần để xác định và xây
dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị tận gốc chứ không chỉ đơn thuần là
các chƣơng trình mang tính chất thông báo, giới thiệu, hay những kế hoạch
chỉ trên giấy tờ mà không mang tính khả thi trong khi triển khai thực hiện.
Công tác bảo tồn gắn liền với phát triển giúp tạo ra các “sản phẩm” vừa chứa
đựng những yếu tố văn hóa truyền thống, những yếu tố tự nhiên, vốn có của
sự vật hiện tƣợng hay những “sản phẩm” chứa đựng yếu tố lịch sử dân tộc,
chứa đựng linh hồn của dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại mà còn đáp ứng
đƣợc nhu cầu của con ngƣời, của xã hội hiện tại. Nhƣ vậy, bảo tồn và phát
tiển không chỉ là giữ gìn, lƣu trữ mà còn là đa dạng hóa, thích ứng và gắn kết
các sự vật, hiện tƣợng với nhau; không chỉ nhằm tới giá trị về văn hóa, giá trị
về tinh thần mà còn hƣớng tới giá trị thƣơng mại hóa, mang lại lợi ích kinh tế,
xã hội, nâng cao mức sống con ngƣời và phát triển bền vững.
2. Lý luận chung về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống
2.1 Tổng quan về làng nghề truyền thống
2.1.1 Khái niệm và đặc trƣng của làng nghề truyền thống
a. Khái niệm về làng nghề truyền thống
20
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, “Làng” đƣợc định
nghĩa là: “một khối dân cƣ nông thôn làm thành một đơn vị có đời sống riêng
về nhiều mặt, cùng tiến hành một nghề”.(1) Nhƣ vậy, làng là một vùng đất
của dân cƣ nông nghiệp có đời sống tinh thần và phƣơng thức lao động khá
giống nhau.Khi mùa vụ nông nhàn, những cƣ dân nông nghiệp đã nghĩ đến
những hoạt động sản xuất khác ngoài nông nghiệp và chăn nuôi. Nghề phụ đã
xuất hiện ở các làng xã nông thôn, cùng với sự thay đổi cơ cấu kinh tế thì các
làng nghề thủ công ngày càng phát triển và chiếm một tỷ lệ quan trọng trong
cơ cấu mỗi làng. Và “ làng nghề” ra đời từ đó.
“Làng nghề” là một không gian lãnh thổ nông thôn, ở đó tồn tại một
hoặc một số nghề thủ công đóng vai trò quan trọng đối với đời sống vật chất,
tinh thần của ngƣời dân địa phƣơng.
b. Đặc trƣng của làng nghề truyền thống
Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nƣớc ta đƣợc hình thành
và phát triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm
đáp ứng nhu cầu phát triển, nó chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam với những đặc trƣng của nền văn hóa lúa nƣớc và nền kinh tế
hiện vật, sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc.
Xét về mặt định lƣợng, làng nghề là những làng, mà ở đó có số ngƣời
chuyên làm nghề thủ công và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó
chiểm một tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số của làng. Thông thƣờng, tỷ lệ các
hộ gia đình lao động làm nghề chiếm từ 35% trở lên, giá trị sản xuất và thu
nhập từ làm nghề chiếm trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập của
làng trong năm. (2- Sở du lịch Hà Tây..))
Tuy nhiên những tiêu chí trên chỉ mang tính tƣơng đối về định lƣợng,
bởi mỗi làng nghề luôn có sự khác nhau về quy môn sản xuất, quy trình sản
xuất, tính chất sản phẩm và số lƣợng lao động tham gia vào quá trình sản
21
xuất. Do đó, sự phát triển của các làng nghề thƣờng khác nhau và cũng biến
động khác nhau trong từng thời kỳ.
Tóm lại, ngày nay, làng nghề đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn, không
còn bó hẹp trong phạm vi hành chính một làng nữa. Các ngành nghề phi nông
nghiệp mà làng nghề kinh doanh cũng đƣợc mở rộng, bao gồm các hoạt động
kinh tế phi nông nghiệp nhƣ: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,các dịch vụ
với quy mô và thành phần kinh tế đa dạng.
Do đó, khái niệm làng nghề cần đƣợc hiểu là những làng ở nông thôn có các
ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ƣu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng
thu nhập so với nghề nông (3 – Du lịch làng nghề - HVC)
2.1.2 Vai trò của làng nghề truyền thống trong nền kinh tế hiện đại
Việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề đem lại lợi ích
nhiều thì phát triển mạnh, ngƣợc lại có xu hƣớng phát triển thấp hoặc không
phù hợp sẽ bị tự đào thải, mai một dần. Đến này nƣớc ta vẫn còn một số
lƣợng rất lớn các làng nghề truyền thống có lịch sử tồn tại và phát triển hàng
nghìn năm, chứng tỏ sức sống của nó với thời gian. Vì vậy, có thể nhận thấy
các làng nghề truyền thống có một vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện
đại.
Thứ nhất, Góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống
Việt Nam là một quốc gia rất đa dạng về văn hóa và truyền thống.
Làng nghề đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo tồn các đặc
điểm văn hóa đa dạng của đất nƣớc thông qua việc sử dụng và phát huy các
sản phẩm truyền thống của làng nghề nhằm đáp ứng các yêu cầu hiện đại,
đồng thời vẫn duy trì đƣợc những nét đặc trƣng vốn có của chúng. Làng nghề
truyền thống không chỉ là biểu hiện của văn hóa Việt Nam mà các sản phẩm
của làng nghề truyền thống còn đƣợc coi nhu hàng hóa có giá trị thƣơng mại
rất tiềm năng.
22
Thứ hai, Tạo ra công ăn việc làm, tạo thêm thu nhập
Nƣớc ta là một nƣớc đang phát triển, tỷ lệ ngƣời trong độ tuổi lao động
cao, và có một lƣợng không nhỏ lao động luôn sẵn sàng tham gia vào thị
trƣờng lao động. Do đó, một hoạt động kinh tế sẽ rất ý nghĩa nếu giải quyết
vấn đề thiếu việc làm này. Đặc biệt, ở nông thôn hiện nay, khi mà quá trình
đô thị hóa ngày càng cao, nông dân mất đất canh tác, do đó tình trạng thất
nghiệp ở nông thôn ngày càng đáng lo ngại. Và làng nghề vốn đã làm đƣợc rất
tốt vai trò tạo việc làm cho lao động nông thôn. Việc làm tăng, và theo đó là
thu nhập tăng, đô thị hóa mới cho nông thôn để nông dân có thể làm giàu trên
chính mảnh đất quê hƣơng mình. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giảm áp
lực lƣợng ngƣời nhập về các thành phố lớn ngày một đông để kiếm việc làm.
Mặt khác, làng nghề không những tạo việc làm và thu nhập ổn định cho ngƣời
dân địa phƣơng và còn tác động lan tỏa đến các vùng lân cận cùng phát triển.
Khoảng cách giàu nghèo giữa nông dân nông thôn và ngƣời dân thành thị sẽ
đƣợc giảm bớt.
Thứ ba, Xuất khẩu các sản phẩn làng nghề đẩy mạnh xuất khẩu và tăng thu
ngoại tệ
Các sản phẩm làng nghề không những giải quyết đƣợc vấn đề lao động
không có việc làm, mà còn kéo theo những nguyên vật liệu cung cấp cho quá
trình sản xuất. Đa phần các sản phẩm làng nghề truyền thống sử dụng nguyên
liệu trong nƣớc và máy móc trong nƣớc có thể chế tạo đƣợc, do đó không phải
mất ngoại tệ để đi nhập khẩu nguyên liệu, máy móc. Nhiều sản phẩm làng
nghề của Việt Nam vốn khá đƣợc ƣa chuộng ở nƣớc ngoài, vì các sản phẩm
thể hiện sự tài hoa khéo léo của những nghệ nhân, và mang đậm bản sắc dân
tộc. Nhất là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ hiện nay đƣợc coi là một trong
những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu từ măt
hang này tăng đáng kể góp phần tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam, góp phần cải thiện cán cân thƣơng mại. Mặt khác, với tỷ lệ thực thu
23
ngoại tệ đạt rất cao, có thể lên tới 98-99%, thì có thể thấy làng nghề truyền
thống đã có một đóng góp rất quan trọng.
Thứ tƣ, Mối liên kết với các khu vực kinh tế khác
Kinh tế làng nghề truyền thống có mối liên hệ quan trọng với các khu
vực kinh tế khác nhƣ công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp. Công nghiệp cung
cấp máy móc cho quá trình sản xuất sản phẩm, hay cũng chính là làng nghề
truyền thống là một bộ phận tiêu thụ sản phẩm máy móc của công nghiệp.
Nông nghiệp cung cấp những nguyên liệu và công cụ sản xuất. Còn dịch vụ là
một lĩnh vực đƣợc xem xét khá mật thiết với làng nghề truyền thống, bởi tính
chất của làng nghề. Một định hƣớng phát triển khá phổ biến hiện nay là phát
triển làng nghề gắn với du lịch. Hoạt động du lịch khá phát triển ở làng nghề,
khi mà nhu cầu tham quan tìm hiểu về làng nghề, về quy trình sản xuất của
con ngƣời có xu hƣớng tăng, cả ngƣời trong nƣớc và ngƣời nƣớc ngoài. Du
lịch cũng có tác động tích cực đến làng nghề, khi du lịch tại một làng nghề
phát triển, nó cũng kéo theo sự phát triển hoạt động sản xuất. Bởi lẽ, du lịch
phát triển kéo theo hoạt động mua bán sản phẩm, và các hoạt động kinh tế
khác liên quan.
Làng nghề có vai trò khá quan trọng trong việc gắn kết các khu vực
kinh tế, và tạo sự những động lực phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân
dân. Bên cạnh đó, điểm nổi bật khác của làng nghề, đó chính là quảng bá và
giữ gìn những bản sắc dân tộc.
2.2 Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống
2.2.1 Khái niệm bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống
Vấn đề bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống đƣợc đề cập tới
trong các chƣơng trình, dự án, chính sách của các địa phƣơng, nhà nƣớc trong
quá trình phát triển công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) nông thôn,
phát triển ngành nghề nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh
24
tế, nâng cao thu nhập. Tuy nhiên, không có bất kỳ một định nghĩa rõ ràng về
khái niệm “bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống”.
Từ những lý luận về bảo tồn, phát triển và làng nghề truyền thống,
nhóm nghiên cứu đƣa ra khái niệm “bảo tồn và phát triển làng nghề truyền
thống” nhƣ sau: bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống chính là việc giữ
gìn và phát huy những giá trị của làng nghề truyền thống về văn hóa, kinh tế,
xã hội và làm cho nó không bị mai mốt hay thất truyền.
Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống chính là đảm bảo
đƣợc yêu cầu kết hợp hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội. Đó là việc đảm
bảo giải quyết việc làm ngày càng đầy đủ cho lực lƣợng lao động hiện có và
các lực lƣợng lao động đƣợc bổ sung thƣờng xuyên với quy mô ngày càng lớn
ở nông thôn. Đó là chính sách hiệu quả để giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội,
giảm tệ nạn xã hội, giảm bớt sự di cƣ từ khu vực nông thôn ra thành thị khi
mà quá trình đô thi hóa đang ngày càng tăng cao, điều này tạo ra những tác
động tích cực đối với xã hội.
Bên cạnh đó, bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống chính là giữ
gìn yếu tố truyền thống của làng nghề, bảo vệ các giá trị văn hóa đặc sắc của
dân tộc. Yếu tố truyền thống cũng có vai trò ảnh hƣởng đối với sự phát triển
của các làng nghề truyền thống. Đây là nhân tố quan trọng không chỉ chi phối
các hoạt động sản xuất mà chi phối cả tiêu dùng và đời sống của cƣ dân nông
thôn. Yếu tố truyền thống có tác dụng bảo tồn những nét đặc trƣng văn hóa
của làng nghề, của dân tộc, làm cho sản phẩm làng nghề có tính độc đáo và có
giá trị cao. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trƣờng đang ngày càng phát triển,
công nghê-kỹ thuật ngày càng phát triển. Việc sử dụng công nghệ khoa học
tiên tiến để tăng năng suất lao động, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, nhƣng
yếu tố truyền thống dần mất đi trong các sản phẩm đó. Làm sao để vừa có thể
đƣa đƣợc những tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại vào trong các sản
phẩm làng nghề và vừa giữ đƣợc những yếu tố truyền thống mang đậm bản
25
sắc dân tộc và những sản phẩm làng nghề đó phải đƣợc tiếp nhận trên thị
trƣờng hiện nay, đây luôn là một câu hỏi khó cho vấn đề bảo tồn và phát triển
các làng nghề truyền thống.
Tóm lại, bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống đóng một vai trò
quan trọng trong nền kinh tế hiện đại. Chỉ khi chúng ta bảo tồn và phát triển
đƣợc các làng nghề truyền thống thì làng nghề truyền thống mới phát huy
đƣợc những vai trò của nó đối với kinh tế, văn hóa, xã hội.
2.2.2 Các quan điểm cơ bản về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống
Theo TS. Tôn Gia Hoá – Phó Chủ tịch Hiệp hội LNVN, trong bài tham
luận “Bảo tồn và phát triển nghề truyền thống – rất cần một hệ thống chính
sách đồng bộ của Nhà nƣớc”, ông cho rằng “Nghề truyền thống” vốn dĩ hình
thành từ nhu cầu đời sống của ngƣời dân và đã trải qua hàng thập kỷ, thậm chí
hàng thế kỷ. Chính vì lý do đó mà Bảo tồn và phát triển nó cũng phải do
chính nhu cầu của các nghệ nhân, cộng đồng làng nghề đó tự quyết định. Từ
lý lẽ này mà xét thì Chính sách của Nhà nƣớc trong lĩnh vự này phải phù hợp
với nguyện vọng của Ngƣời dân, đáp ứng đƣợc lợi ích thực sự của các nghệ
nhân, thợ thủ công, những ngƣời “thổi hồn” cho các sản phẩm để tạo nên
“Nghề truyền thống”.
Để bảo tồn hay phát triển một làng nghề truyền thống nào đó, không
đơn giản là lo xây dựng cơ sở hạ tầng, đƣờng xá… mà cốt lõi là phải làm cho
sản phẩm làng nghề có chỗ đứng trên thị trƣờng, có nghĩa là Ngƣời nghệ nhân
phải sống đƣợc bằng nghề truyền thống nhƣ hàng trăm năm trƣớc đây cha ông
họ đã vì kiếm sống mà sản sinh ra nghề.
Trong cuốn sách “Bảo tồn và phát triển làng nghề trong quá trình Công
nghiệp hóa”, tác giả TS. Dƣơng Bá Phƣợng đã đƣa ra năm quan điểm cơ bản
nhƣ sau:
26
Một là, bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trên quan
điểm đánh giá đúng vai trò và vị trí mới của làng nghề trong quá trình CNH,
HĐH,
Hai là, bảo tồn và phát triển các làng nghề phải trên quan điểm toàn
dụng lao động nông thôn và thực hiện phƣơng châm “ly nông bất ly hƣơng”,
Ba là, bảo tồn và phát triển các làng nghề phải trên quan điểm kết hợp
yếu tố truyền thống với hiện đại, kết hợp phát triển tiến hóa tuần tự với phát
triển rút ngắn nhảy vọt và sự kết hợp các loại trình độ công nghệ trong quá
trình CNH, HĐH nông thôn,
Bốn là, bảo tồn và phát triển các làng nghề phải trên quan điểm huy
động tối đa mọi nguồn vốn trong dân vào phát triển kinh tế và đa dạng hóa
các hình thức tổ chức sản xuất – kinh doanh trong các làng nghề,
Năm là, bảo tồn và phát triển các làng nghề phải trên quan điểm phát
triển kinh tế với bảo vệ môi trƣờng sinh thái và phát triển toàn diện nông thôn.
Theo nhƣ quyết định số: 2636/QĐ-BNN-CB về việc phê duyệt Chƣơng
trình bảo tồn và phát triển làng nghề cũng đã đề cập tới bốn quan điểm rõ ràng
về vấn đề bảo tồn và phát triển làng nghề.
Một là, Bảo tồn và phát triển làng nghề trên cơ sở phát triển hài hòa
giữa sản xuất hàng hóa với bảo vệ môi trƣờng và gìn giữ, phát huy giá trị văn
hóa truyền thống theo hƣớng bảo tồn để phát triển và phát triển để bảo tồn,
Hai là, bảo tồn và phát triển làng nghề phải kết hợp phát triển hài hòa
các cơ sở ngành nghề quy mô vừa và nhỏ, đa dạng hóa các hình thức tổ chức
sản xuất kinh doanh trong các làng nghề, chú trọng phát triển các hợp tác xã,
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn ở làng quê,
Ba là, bảo tồn và phát triển làng nghề trên cơ sở phát huy sự tham gia
của cộng đồng gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
27
nghiệp, nông thôn, từng bƣớc hình thành các thị trấn, thị tứ và phát triển nông
thôn mới,
Bốn là, bảo tồn và phát triển làng nghề phải gắn với thị trƣờng, và hội
nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu, phù hợp phát triển kinh tế xã hội
và phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi địa phƣơng, góp phần tạo việc
làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, giảm dần khoảng cách thu nhập giữa
thành thị và nông thôn.
Ngoài ra, cũng có rất nhiều quan điểm khác liên quan đến vấn đề này.
Những quan điểm này đã đƣợc đề cập trong các đề án nghiên cứu của các cá
nhân, tổ chức. Cụ thể nhƣ sau:
Bảo tồn và phát triển nghề và làng nghề trên cơ sở phát triển hài hòa
giữa sản xuất với bảo vệ môi trƣờng và giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa
truyền thống của từng địa phƣơng.
Bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề phải phát huy sự tham gia của
cộng đồng gắn với sự hỗ trợ của Nhà nƣớc và các tổ chức quốc tế, góp phần
tạo việc làm tại chỗ, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông.
Bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn với hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn và xây dựng nông thôn
mới.
Lựa chọn để phát triển một số ngành nghề và làng nghề theo hƣớng
bền vững, thân thiện với môi trƣờng, mang những nét văn hoá độc đáo riêng
của địa phƣơng và sử dụng nguồn lao động tại chỗ. Do đó phải bảo tồn và
phát triển các nghề, làng nghề truyền thống mà sản phẩm đòi hỏi chuyên môn
và thợ thủ công có tay nghề cao, có giá trị kinh tế, giá trị văn hóa, có thị
trƣờng tốt cả trong và ngoài nƣớc nhƣ các mặt hàng thủ công mỹ nghệ: gốm
sứ, sơn mài, khảm trai, thêu ren, mây tre đan, điêu khắc, kim hoàn…bên cạnh
28
việc phát triển các làng nghề kết hợp với du lịch thông qua việc cải thiện khả
năng tiếp cận các khu du lịch, các tuyến du lịch đƣợc quy hoạch và xây dựng.
Đầu tƣ đồng bộ từ việc đào tạo bồi dƣỡng nâng cao trình độ cho cán bộ
quản lý, cán bộ kỹ thuật để sáng tác mẫu mã, nâng cao trình độ tay nghề cho
thợ trẻ, gắn với đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn và đầu tƣ
xử lý môi trƣờng làng nghề đảm bảo phát triển bền vững.
Hỗ trợ phát triển sản phẩm mới sử dụng công nghệ, kỹ thuật truyền
thống, sử dụng nguyên vật liệu, lao động tại chỗ kết hợp với tổ chức khai thác
nguồn nguyên liệu sẵn có trong nƣớc.
Tổ chức lại một số làng nghề gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng
bằng cách tập trung đầu tƣ xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề phù hợp
với quy hoạch tổng thể của Thủ đô và các quy hoạch liên quan tạo mặt bằng
cho các cơ sở và các tổ chức dịch vụ làng nghề, đồng thời xử lý ô nhiễm môi
trƣờng tập trung.
Nhƣ vậy, các quan điểm về bảo tồn và phát triển làng nghề đƣợc đƣa ra
đã rõ ràng và phù hợp với xu thế phát triển hiện nay. Tuy nhiên, việc bảo tồn
và phát triển làng nghề nói chung và làng nghề truyền thống nói riêng không
dễ và để thực hiện đƣợc trên cơ sở những quan điểm này cần có một sự linh
hoạt trƣớc hết ở bộ máy quản lý nhà nƣớc, địa phƣơng, cơ quan ban hành
chính sách sau đó là cần sự hỗ trợ từ cộng động, quan trọng đó là ngƣời dân
làng nghề - những ngƣời trực tiếp tham gia giữ nghề và phát triển nó.
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG LỤA
TRUYỀN THỐNG HÀ ĐÔNG
I. Lịch sử hình thành làng lụa truyền thống Hà Đông
1. Lịch sử hình thành
29
Làng Vạn Phúc vốn có tên là Vạn Bảo, nhƣng sau đổi thành Vạn Phúc,
là làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng có từ ngàn năm trƣớc. Có khá nhiều
tƣơng truyền về lịch sử ra đời của làng lụa Vạn Phúc. Thuyết đƣợc nhiều
ngƣời tƣơng truyền nhất, nói rằng bà tổ làng Lụa Vạn Phúc vốn ngƣời Hàng
Châu (Trung Quốc) theo chồng chinh chiến Bắc Nam, rồi neo lại làng này,
làm nghề dệt, lâu ngày nghề dệt thành nghề truyền thống của làng Vạn Phúc.
Thêm một thuyết khác nói rằng, cách đây khoảng 1200 năm, bà A Lã
Thị Nƣơng, một ngƣời con gái ở Cao Bằng nổi tiếng đảm đang và có tay nghề
dệt lụa khéo léo về làm dâu làng Vạn Phúc.
Một số thuyết khác, có nói rằng truyền thuyết nghề dệt lụa ở Vạn Phúc
có từ hơn ngàn năm trƣớc, do một vị tổ sƣ tên Lã Thị Nga, dòng dõi Hùng
Vƣơng, truyền dạy. Bà là ngƣời địa phƣơng thuộc tỉnh Tuyên Quang. Vào
năm 865, bà cùng chồng là tiết độ sứ đi lấy kinh, thấy đại danh Vạn Bảo là đất
lành bà xin ở lại lập ấp và hƣớng dẫn ngƣời dân cấy cày, xe tơ dệt lụa. Để ghi
nhớ công ơn, dân làng tôn bà làm Thành Hoàng làng, tổ sƣ nghề dệt, thờ tại
đình Vạn Phúc, lấy ngày mùng 10 tháng Tám âm lịch, ngày sinh của bà và 25
tháng Chạp âm lịch, ngày mất của bà, làm ngày tế lễ và giỗ tổ hàng năm. Từ
khi có go võng 9 thế kỷ 16) nghề dệt vạn Phúc đƣợc cải tiến, phát triển mạnh
mẽ và cho ra đời nhiều mặt hàng độc đáo, cao cấp nhƣ gấm, lụa, the, lĩnh với
nhiều hoa văn sinh động tinh tế.
Làng Vạn Phúc từ đó trải qua thăng trầm lịch sử, làng vẫn còn tồn tại
và phát triển đến ngày nay. Đối với ngƣời dân Vạn Phúc, nghề dệt và những
sản phẩm làm từ Lụa là một niềm tự hào của ngƣời dân trong vùng, nó là kết
tinh của nền văn hóa, là xƣơng máu, là tâm hồn, là lối sống và truyền thống
của ngƣời dân.
2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tê, xã hội phát triển đến sự phát triển của làng lụa
truyền thống Hà Đông
2.1 Vị trí địa lý và ranh giới
30
Làng vạn Phúc nằm ở phía Tây bắc thị xã Hà Đông (nay là phƣờng
Vạn Phúc), cách trung tâm thị xã Hà Đông 1km và cách trung tâm Hà Nội
10km, là một dải đất hình thoi:
Phía Tây giáp với xã Văn Khê.
Phía Đông giáp với sông Nhuệ và xã Văn Yên.
Phía nam giáp với hai phƣờng Quang Trung và Yết Kiêu.
Phía Bắc giáp với làng Ngọc Trụ và Đại Mỗ huyện Từ Liêm-Hà Nội.
Xã Vạn Phúc nằm trên trục đƣờng 430 nối thị xã Hà Đông với tuyến
đƣờng Láng Hòa Lạc (đoạn đầu quốc lộ Bắc Nam 1B) và đƣờng 32.
Với những thuận lợi về địa lý và giao thông đó, Vạn Phúc sẽ có điều
kiện phát triển kinh tế thực mạnh mẽ trong thời gian tới.
Xã Vạn Phúc có mối liên hệ với con song Nhuệ cho nên có thuận lợi
về giao thông đƣờng thủy.
Đặc biệt nơi đây gần đƣờng 430 là con đƣờng lớn thông với đƣờng Nguyễn
Trãi đi qua trung tâm thành phố Hà Nội cho nên rất thuận tiện cho giao thông
buôn bán và các hoạt động dịch vụ khác.
2.2 Địa hình
Địa hình xã Vạn Phúc đồng nhất đƣợc ngăn cách bởi con song Nhuệ và
tuyến đƣờng 430.
Có độ cao đồng đều và tƣờng đối bằng phẳng có độ cao từ 5,0 đến 6,0
m, là khu vực đất trũng thấp hơn các vùng xung quanh từ 1 đến 1,5m, có
hƣớng dốc dần từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam với độ dốc từ 0,2 đến
0,3%. Đặc điểm này thuận tiện cho việc phát triển các công trình nhà ở và
công trình xây dựng khác.
2.3 Khí hậu
31
Nằm trong vùng khí hậu Hà Nội, chịu ảnh hƣởng của khí hậu nhiệt đới
gió mùa: nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 23,6oC, độ ẩm trung bình cao
82%-88%, lƣợng mƣa trung bình năm là 1707mm.
Những nơi cạnh sông Nhuệ do ảnh hƣởng của hơi nƣớc cho nên có độ
ẩm cao hơn các nơi khác vì vậy mà việc bảo quản vải đòi hỏi cẩn trọng hơn,
không cẩn thận vải rất dễ bị ẩm mốc khiến chất lƣợng vải kém đi.
2.4 Cảnh quan thiên nhiên
Đƣợc thiên nhiên ƣu đãi: nằm cạnh sông Nhuệ và đặc biệt vẫn còn giữ
đƣợc nhiều công trình cổ kính có giá trị văn hóa và lịch sử cao nhƣ đình,
chùa, cổng làng. Điều này tạo điều kiện cho Vạn Phúc phát triển giá trị văn
hóa, thu hút khách du lịch đến với làng, từ đó tạo giá trị về thƣơng mại dịch
vụ.
2.5 Đặc điểm sử dụng đất
Đƣờng 430 đi qua trung tâm xã và chia xã thành 2 phần:
Phần phía đông nam chủ yếu là làng vạn Phúc cũ và một phần là ruộng
canh tác ở phía Bắc làng.
Phần phía Tây bắc là khu vực ruộng canh tác của xã, khu vực này có
một số công ty, xí nghiệp đóng trên địa bàn, và ba khu nghĩa trang: nghĩa
trang thị xã Hà Đông, nghĩa trang Vạn Phúc và nghĩa trang liệt sĩ xã. Vạn
Phúc xƣa bao gồm năm xóm nhỏ: xóm Ngoài, xóm Trong, xóm Giữa, xóm
Lẻ, xóm Quán. Ngày nay đổi thành Đoàn Kết, Quyết Tiến, Bạch Đằng, Hồng
Phong, Hạnh Phúc, Chiến Thắng và Độc Lập.
Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 143,9744 ha, trong đó:
Đất Nông nghiệp: 62,1259 ha (chiếm 43,1%)
Đất chuyên dùng: 46,3029 ha (chiếm 32,2%)
Đất ở: 30,8835 ha (chiếm 21,5%)
32
Đất chƣa sử dụng: 4,662 ha (chiếm 3,2%)
2.6 Không gian cảnh quan
Một trong nhứng đặc trƣng tạo ra sự khác biệt giữa đô thị và nông
thôn, giữa làng này với làng khác, đó chính là những yếu tố khác nhau tạo nên
không gian cảnh quan tạo nên từng làng. Vạn Phúc là một làng nghề truyền
thống vùng Bắc Bộ đã hình thành và phát triển từ lâu đời. Hệ thống cảnh quan
làng bao gồm các yếu tố đặc trƣng nhƣ: cổng làng, hệ thống đƣờng làng, đình,
chùa, đền, miếu, quán lá, cây đa, giếng nƣớc, ao chuôm, cánh đồng làng và
không gian ở.
Tuy nhiên với tác động của xu hƣớng đô thị hóa, làng Vạn Phúc đang
chuyển đổi cơ cấu, chức năng và không gian cảnh quan mạnh mẽ với những
mặt tích cực lẫn tiêu cực. Hệ quả của sự chuyển đổi cấu trúc một cách tự phát
do nền kinh tế thị trƣờng và tốc độ đô thị hóa ồ ạt, thiếu kiểm soát về không
gian cƣ trú, mật độ xây dựng, ngành nghề, lối sống, chất lƣợng môi trƣờng
sống. Nét đẹp của cảnh quan làng Vạn Phúc và mội trƣờng sống bị xâm hại
nặng nề không chỉ do các yếu tố áp lực bên ngoài mà do chính các yếu tố bên
trong gây ra, bản thân Vạn Phúc đang chịu ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố do
chính mình tự điều chỉnh:
Những năm gần đây, diện tích mặt nƣớc bị thu hẹp rất nhanh bởi một
số ao, hồ, sông ngòi bị lấp và lấn chiếm dẫn đến tình trạng lụt úng vào mùa
mƣa làm mất đi vẻ đẹp cảnh quan và ô nhiễm môi trƣờng.
Không gian cảnh quan trở nên chật hẹp bởi mật độ xây dựng rất cao
mang tính tự phát tạo ra sự lộn xộn trong không gian cảnh quan. Hiện tƣợng
lấn chiếm, lấp đầy không gian xanh và không gian trống diễn ra phổ biến.
Cảnh quan xung quanh lấn át nên giữa các công trình mất dần sự cách
ly cần thiết, mất dần đi chất ảo và sự thoáng đãng của không gian mặt nƣớc,
mất đi những không gian lớn, thiếu điểm nhìn.
33
2.7 Kinh tế
Hiện nay sản xuất nông nghiệp chỉ đóng góp tỷ trọng nhỏ (3%) cho
kinh tế Vạn Phúc và đang có xu thế giảm dần vì thu hẹp đất canh tác.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp rất cao (97%), nghề dệt lụa thủ công và
dịch vụ hiện nay đang rất phát triển, tạo ra nguồn thi nhập chính cho cƣ dân
trong xã.
Hoạt động thƣơng mại rất phát triển do kể từ khi chuyển sang dệt bằng
máy, số lao động chân tay giảm, thay vào đó họ chuyển sang hoạt động dịch
vụ vì mỗi năm ở đây thu hút khoảng 10.000 lƣợt khách nƣớc ngoài và khoảng
20.000 lƣợt khách trong nƣớc tới đây tham quan và mua hàng.
Làng Vạn Phúc nằm trong tour du lịch của công ty du lịch Hà Tây (nay
là Hà Nội) và công ty du lịch Hà Nội.
Thu nhập bình quân trong xã vào khoảng 2 triệu đồng/ngƣời/tháng, khá
cao so với mức thu nhập bình quân cả nƣớc.
3. Những điều kiện và tiềm năng để thúc đẩy sự phát triển của làng nghề
truyền thống
Làng lụa Vạn Phúc là một trong 6 khu vực trọng điểm về phát triển du
lịch của Hà Nội, việc bảo tồn và phát triển làng lụa truyền thống Hà Đông có
vai trò quan trọng.
Thứ nhất, Lụa vẫn được sự quan tâm đặc biệt của người tiêu dùng, địa
phương
Lụa Hà Đông đƣợc vua chúa triều Nguyễn chọn làm sắc phục. Lụa hà
Đông khi xƣa đã từng đƣợc triển lãm tại Mareilles (1931), Paris (1938),
Jakarta (1931-1941). Hiện tại , có rất nhiều ngƣời dành tình cảm đặc biệt đến
lụa Hà Đông. Nhiều du khách nƣớc ngoài có thể họ chỉ nghe bạn bè giới
thiệu, chỉ đƣợc đọc qua sách vở báo chí, nhƣng họ vẫn muốn đƣợc tận mắt
34
nhìn thấy một tấm lụa Hà Đông. Khi họ đến Việt Nam, họ đều phải đến mua
tấm lụa Hà Đông về làm quà.
Thứ hai, Tiềm năng du lịch lớn
Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc đã có cả nghìn năm. Trong quá khứ, trong
sách báo và trong những câu ca dao, tên lụa Vạn Phúc có một sức hút đặc
biệt. Làng nằm bên bờ sông Nhuệ, vẫn giữ đƣợc ít nhiều nét cổ kính quê ngày
xƣa nhƣ hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nƣớc, sân đình, buổi chiều ngƣời dân
vẫn họp chợ dƣới gốc đa trƣớc đình. Nhiều địa điểm mới cũng đƣợc tôn tạo
lại để chào đón kỉ niệm 1000 năm Thăng Long (năm 2010).
Lụa Vạn Phúc có nền văn hóa lâu đời, con ngƣời nơi đây thật thà hiền
lành, dễ mến. Các nếp sống và văn hóa vẫn còn lƣu lại hình ảnh cổ xƣa.
Do nằm cách trung tâm Hà Nội không xa, lại nằm trên trục đƣờng
chính cạnh quốc lộ 6A, và nằm trên đƣờng đi một số địa điểm du lịch nổi
tiếng khác của Hà Nội nhƣ Chùa Thầy, Chùa Hƣơng, Đƣờng Lâm nên làng
lụa Vạn Phúc rất thuận lợi khi tạo các tour du lịch dài ngày cũng nhƣ ngắn
ngày.
Làng có chùa Tiên Linh, tên Nôm là chùa Trắng hay chùa Bụt Mọc.
Trong làng Vạn Phúc cũng có một miếu thành làng, thờ bà Lã Thị Nƣơng, tổ
sƣ của nghề dệt lụa.
II. Quá trình phát triển của làng nghề từ năm 2000 đến nay
1. Thực trạng hoạt động kinh doanh tại làng nghề
1.1 Cơ sở sản xuất
a. Thực trạng sản xuất
Ông Nguyễn Văn Hùng, Chủ nhiệm hợp tác xã Dệt lụa Vạn Phúc cho biết
Vạn Phúc vào năm 2008 có 750 hộ sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ nghề
dệt xuống còn 700 hộ vào năm 2012 với khoảng 400 máy dệt đang hoạt động.
Hiện có 1 số hộ sản xuất chính nhƣ: Ông/bà Liên Hiếu với 16 máy dệt và
35
mắc, gia đình Ông Mão trên 10 máy dệt, hợp tác xã Anh Hiển gần 20 máy, và
hộ Anh Chiến Thƣợng khoảng 10 máy dệt. Do cũng bị ảnh hƣởng chung xu
thế toàn cầu hóa, khủng hoảng kinh tế thế giới, số hộ sản xuất, kinh doanh sản
phẩm lụa giảm khoảng 50 hộ so với thời điểm trƣớc 2008, và số máy dệt giảm
một cách đáng kể, giảm 600 máy từ 1000 máy vào thời điểm trƣớc đó.
b. Thực trạng về máy dệt
Phần lớn máy dệt của làng đều là máy cũ với tuổi đời khoảng từ mƣời đến ba
mƣơi tuổi hoặc hơn. Giá một máy dệt lúc mới mua tầm hai mƣơi đến ba mƣơi
triệu một chiếc.
Máy dệt ngày nay không còn là máy thủ công toàn phần đều là những máy
bán thủ công, giúp ngƣời dệt có thể tăng năng suất lao động, và giảm công
sức ngƣời dệt. . Năng suất lao động tƣơng đối là 10m/máy/ngày/ngƣời (đối
với tơ tằm), và 1 ngƣời có thể đứng 2-3 máy 1 lúc.
1.2 Lực lƣợng lao động
Năm 2012, lực lƣợng lao động tham gia vào sản xuất kinh doanh làng nghề
trên 1200 lao động, chỉ chiếm khoảng 10% dân số trong vùng là 12.500
ngƣời. Ngoài ra, nhiều ngƣời vùng ngoài đƣợc thuê về để trực tiếp bán hàng ở
những gian hàng trong vùng. Độ tuổi lao động phổ biến từ 18 tuổi đến hơn 60
tuổi đối với tất cả các công đoạn liên quan tới nghề. Tuy nhiên theo một thực
tế khách quan, do thu nhập bình quân khá thấp, chỉ khoảng 2 triệu/ngƣời lao
động đối với những ngƣời trực tiếp dệt, nên, đa phần những ngƣời dân trong
vùng nếu có khả năng thì đều đã chuyển sang ngành nghề khác hoặc đi thoát
ly.
Với lực lƣợng sản xuất nhƣ vậy, hàng năm Vạn Phúc dệt đƣợc khoảng 2
triệu mét vải phục vụ nhu cầu mua sắm của du khách và xuất bán đi các địa
phƣơng khác.
36
1.3 Sản phẩm
a. Đặc trƣng sản phẩm
Mặt hàng dệt tơ lụa Vạn Phúc có nhiều loại: Lụa, là, gấm, vóc, vân, the, lĩnh, bằng, quế, đoạn, sa, kỳ, cầu, đũi. Khổ vải thƣờng là 90–97 cm.[3] Theo ca dao
truyền miệng, nổi tiếng nhất trong các loại lụa Vạn Phúc là lụa vân - loại lụa
mà hoa văn nổi vân trên mặt lụa mƣợt.
Lụa Vạn Phúc thuần chất thƣờng chỉ trắng ngà chứ ít khi có màu trắng tinh,
do dệt từ tơ tằm. Lụa trắng tinh thƣờng do chất liệu pha.
Lụa Vạn Phúc nổi tiếng trƣớc hết là lụa Vân. Vân nghĩa là mây, nhìn trên lụa
nhƣ thấy có mây. Đây là một kỹ thuật tinh tế mà trƣớc kia chỉ làng Vạn Phúc
mới dệt đƣợc. Lụa Vạn Phúc hiện nay có đủ hoa văn trang trí trên vải lụa rất
đa dạng nhƣ mẫu Song hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý, các loại hoa: Hoa
triện, hoa hồng, có hoa tròn, hoa vuông, hoa mây, hoa song.
Cao cấp nhất trong lụa Vạn Phúc có lẽ là sa tanh, chất lấp lánh nhƣ thuỷ tinh.
Sa tanh có hoa hƣớng dƣơng, hoa triện viền quanh mặt lụa, càng trở thành
quý phẩm.
Áo lụa Vạn Phúc Hà Đông khoác lên ngƣời thấy mềm mại và nhẹ nhàng, có
đặc điểm ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè, để may áo dài càng
quyến rũ.
Tuy các sản phẩm làm từ lụa có giá trị thẩm mỹ cao, nhƣng theo một nhà may
tại Hà Nội thì chúng khá “kén” ngƣời dùng và phải biết cách dùng.
Một số chủ cửa hàng bán lụa chính gốc Vạn Phúc cho biết, lụa và đũi
thậm chí có thể giặt bằng xà phòng và giặt máy mà không sợ bị hỏng, vải
không nhăn và không có hiện tƣợng bị phai màu.
b. Một số sản phẩm chính
Lụa tấm khăn
37
- Lụa 70% có 70% chất liệu lụa với chiều rộng 95cm có giá là 100k/mét dài,
rất thích hợp cho may áo dài và áo.
- Lụa trơn 100% lụa có hiều rộng là 95cm với giá 150k/mét dài, thích hợp
may áo
dài, quần áo.
-Lụa kẻ 100% lụa có chiều rộng là 95cm với giá: 180k/mét dài, cũng thích
hợp may áo
dài, quần áo.
-Lụa hoa văn đẹp 100% lụa với chiều rộng: 95cm, giá: 200k/mét dài, thích
hợp may áo dài, quần áo.
Khăn
- Khăn thổ cẩm loang là hàng pashina 70%lụa, với kiểu dáng đẹp, ấm, giá:
95k/khăn, với nhiều màu sắc trẻ trung. Điểm đặc biệt của khăn là màu đậm ở
2 bên, nhạt dần ở giữa.
- Khăn thổ cẩm là hàng pashina 70%lụa, với kiểu dáng đẹp, ấm, giá:
85k/khăn.
Cravat
- Cavat Ý, kiểu kẻ sọc, thích hợp đi ăn hỏi, giá: 25k/cái có nhiều màu sắc.
- Cavat Điểm là cavat dạng các điểm, giá: 35k/cái, thích hợp ngƣời trung tuổi.
- Cavat Lụa là chất liệu lụa, thích hợp ngƣời trung tuổi, giá 30k/cái
- Cavat hộp là cavat hộp kèm cả cài áo và đính cúc, thích hợp khi mặc vest,
giá: 80k/hộp
Tùy theo chất lƣợng, mẫu mã mà lụa Hà Đông đƣợc bán với nhiều mức giá
khác nhau: Loại lụa sa tanh 100% tơ tằm, độ phân sợi dày 80 sợi/cm, dày và
bóng, giá dao động từ 250.000 – 280.000 đồng/m, loại mỏng hơn một
chút nhƣng vẫn là 100% tơ tằm, lụa đƣợc bán với mức giá khoảng 170.000 –
38
200.000 đồng/m. Loại lụa pha 50 – 70% sợi cotton, tổng hợp, độ phân sợi là
40 sợi/cm có giá từ 80.000 – 100.000 đồng.
1.4 Thị trƣờng các yếu tố đầu vào và Thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm
a. Nguyên liệu
Nguyên liệu đầu vào gồm:
-Tơ tằm-mua trong nƣớc, nhập từ nơi khác, chủ yếu: Bảo Lộc, Lâm Đông,
Vĩnh Phúc; Nam Hà; giá hiện này: 1tr/1kg tơ tằm.
-Tơ bóng nhập khẩu từ nƣớc ngoài, chủ yếu Liên Xô, Trung Quốc; giá hiện
nay là 150k/1kg tơ bóng.
Hiện nay, nƣớc ta vẫn có nhiều vùng trồng dâu nuôi tằm nhƣ ở Hà Nội, Thái
Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Ninh Bình, tuy nhiên nguồn cung cho ngành lụa
luôn không ổn định, chất lƣợng sản phẩm không đồng đều, có thời điểm giống
kén không đảm bảo, cho ra tơ chất lƣợng xấu, sản lƣợng kém. Giá nguyên liệu
những năm gần đây nhiều biến động càng gây sức ép lớn với sản phẩm lụa
Vạn Phúc.
b. Thị trƣờng đầu ra
Trong thời kì kinh doanh khá khó khăn, nhiều ngƣời thích hàng rẻ nên chọn
mua lụa Trung Quốc thay vì lụa Vạn Phúc. Số lƣợng khách đặt hàng chất
lƣợng cao nhỏ cộng thêm với số lƣợng hang đặt ít, yêu cầu sản phẩm cao: hoa
văn cầu kỳ, thƣờng là loại tơ 3, tơ 4, hàm lƣợng lao động thủ công nhiều, một
ngày chỉ có thể dệt khoảng 2 – 3m, trong khi đó cùng thời gian lụa thông
thƣờng có thể dệt đƣợc 8 – 9m. Mỗi mét lụa phải tốn đến 1,5 lạng tơ mà giá tơ
tốt lại cao và biến động, khi ra thành phẩm rất đắt nên nhiều khi nhận xong
vừa làm vừa lo lỗ vốn.
Có 2 kênh phân phối sản phẩm lụa Vạn Phúc:
+ Bán lẻ
Chính là các gian hàng ngay tại làng lụa Vạn Phúc. Hoạt động kinh doanh tại
Làng, không những là kênh phân phối trực tiếp sản phẩm, mà còn có mở rộng
39
và phát triển kinh tế du lịch. Bên cạnh nhu cầu mua sắm Lụa của ngƣời dân
nội địa, ngƣời ngoại quốc cũng có nhu cầu tƣơng đƣơng về sản phẩm với
những mục đích sử dụng.
+ Bán buôn
Ngoài hình thức sản xuất và phân phối ngay tại Làng, một số lƣợng sản phẩm
lớn đã đƣợc đặt hàng bởi các nhà buôn trên cả nƣớc. Đa phần là đƣợc phân
phối ở các thành phố lớn, và rải rác trên cả nƣớc. Ở Hà Nội, lụa Vạn Phúc có
thể mua đƣợc ở Phố Cổ, và nhiều cửa hàng may mặc lớn.
2. Sự hình thành và phát triển những giá trị văn hóa tiêu biểu của làng nghề
Mỗi làng nghề truyền thống đều mang những giá trị văn hóa đặc sắc
riêng. Giá trị văn hóa đó là các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, nó gắn
liền với đời sống của ngƣời dân làng bao gồm: các công trình kiến trúc, các di
tích lịch sử, lễ hội truyền thống, các sản phẩm đặc sắc của làng nghề, và sự
lƣu truyền dạy nghề của các nghệ nhân. Theo thời gian các giá trị văn hóa của
làng Vạn Phúc ngày càng đƣợc hình thành đầy đủ đa dạng hơn.
Giai đoạn thứ nhất, từ xa xƣa khi bắt đầu hình thành làng nghề
Giá trị văn hóa phi vật thể đƣợc thể hiện thông qua sản phẩm phong
phú, đa dạng nhƣ gấm, lụa, the, sa, xuyến, băng quế, lĩnh, đoạn, đũi, sa tanh,
vải…, đặc biệt là lụa vân, loại lụa mỏng có hoa văn nổi và chìm. Các sản
phẩm đều là những sản phẩm thủ công đặc biệt, gắn liền với trí thông minh,
bàn tay khéo léo và kỹ thuật tinh xảo của các nghệ nhân giỏi. Và giá trị văn
hóa đƣợc thể hiện trong các sản phẩm của làng nghề đó chính là tinh thần dân
tộc, tinh hoa của lịch sử và truyền thống quý báu của dân tộc qua bàn tay khéo
léo của các nghệ nhân tạo ra sản phẩm đó.
40
Và con người là một nhân tố quan trong giữ nét đẹp văn hóa truyền thống của
dân tộc trong điều kiện mới. Nghệ nhân là những ngƣời có vai trò quyết định
trong việc truyền lại nghề và bảo tồn nghề cho các thế hệ sau.
Điều đó đƣợc thể hiện qua việc có nhiều gia đình truyền thống làm
nghề - từ thế hệ này sang thế hệ khác cha truyền con nối luôn duy trì đƣơc
những nét đẹp của sản phẩm lụa. Theo những ngƣời cao niên ở trong làng
Vạn Phúc kể lại, từ thời vua Lê, cả nƣớc chỉ có Vạn Phúc dệt đƣợc gấm và
tƣơng truyền lúc đó ở làng có một ngƣời thợ dệt tài ba tên Đỗ Văn Sửu vào
dịp vua Tự Đức mừng thọ 50 tuổi nghệ nhân này tự tay làm một bức tƣợng
dâng vua với dòng chữ thêu 4 chữ vàng” Hoàng vƣơng thọ khảo” và đƣợc vua
rất ƣng ý khen ngợi. Khi ông qua đời sớm thì đến khoảng những năm 1912
con trai ông lại tiếp tục mày mò, nghiên cứu, tìm tòi, khôi phục lại nghề dệt
gấm, rồi những năm sau đó, con cháu ông lại tiếp tục nghiên cứu để phát triển
hơn nữa nghề dệt gấm với những hoa văn họa tiết độc đáo, để duy trì nghề
truyền thống đáng quý này. Gia đình ông Đỗ Văn Sửu hay bản thân ông là
nghệ nhân ngƣời còn lƣu trữ tinh hoa văn hóa dân tộc đồng thời không ngừng
sáng tạo để làng nghề văn hóa có thêm nhiều sản phẩm mới vừa phát huy
truyền thống văn hóa dân tộc vừa thể hiện sức sáng tạo của nghệ nhân trong
điều kiện mới.
Đối với giá trị văn hóa vật thể nhƣ các công trình kiến trúc làng vạn
phúc đã có từ xa xƣa; đó là đình làng nơi thờ thành hoàng làng.
Giai đoạn 2, những năm thế kỉ XV khi sản phẩm lụa phát triển ổn định
Giá trị văn hóa vật chất nổi bật đó là sản phầm lụa; Lụa Việt Nam đã
đƣợc các thƣơng nhân mang đi bốn phƣơng và lụa Vạn Phúc đƣợc giới thiệu
lần đầu ra quốc tế tại các hội chợ Marseille (1931) và Paris (1932), đƣợc
ngƣời Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dƣơng thuộc
Pháp. Từ 1958 đến 1988, sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết đƣợc xuất sang các
41
nƣớc Đông Âu; từ 1990 xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên thế giới, thu ngoại tệ
về cho Việt Nam.
Ngoài ra lụa cũng mang nét đẹp tinh thần, Lụa Vạn Phúc đã đi vào từng câu
thơ, câu hát, hay cả trong bộ phim nhƣ trong bộ phim Áo lụa Hà Đông của
đạo diễn Lƣu Huỳnh- bộ phim đã đạt đƣợc một số giải thƣởng tại liên hoan
phim của châu Á, những câu thơ ca về lụa trong bài thở của Nguyên Sa có
đoạn:
“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng.”
Giai đoạn 3, ‘Thời kì hƣng thịnh’
Giai đoạn này khoa học kĩ thuật phát triển, kĩ thuật máy bán thủ công
đƣợc ứng dụng nên năng suất sản xuất cao hơn, lụa đƣợc sản xuất hàng loạt,
nhƣng vẫn tốt, và mang đúng bản sắc sản phẩm lụa Vạn Phúc chắc, bền, dai,
mẫu mã, màu sắc đẹp không những đƣợc bán ở thị trƣờng trong nƣớc mà còn
đƣợc xuất khẩu nhiều nƣớc khác.
Đời sống của ngƣời dân trở lên tốt hơn, các hoạt động sinh hoạt làng xã đƣợc
tổ chức thƣờng xuyên và chu đáo, đông vui hơn.
Ngôi làng là nơi hội tụ nhiều nghệ nhân giỏi, họ có khả năng vẽ hoa đẹp, khâu
hoa khéo, dệt lên những hàng hoa rát giống nhƣ thật.
Lúc này, lụa Vạn Phúc qua các thế hệ, những nghệ nhân và thợ dệt đã không
ngừng cải tiến, nâng cao kỹ thuật sản xuất. Bởi thế, lụa Vạn Phúc dù ở loại
nào cũng đạt tới mức hoàn mỹ, mịn móng, mềm mại với màu sắc óng ánh,
đƣờng nét tinh tế khi nổi khi chìm, có loại trang nhã, có loại rực rỡ. Trải qua
42
bao thế hệ, lụa Vạn Phúc vẫn luôn giữ đƣợc những thủ pháp nghệ thuật truyền
thống. Hoa văn bao giờ cũng trang trí đối xứng, đƣờng nét trang trí không
rƣờm rà, phức tạp mà luôn mềm mại, phóng khoáng, dứt khoát. Bởi vậy, lụa
Vạn Phúc không chỉ đƣợc ƣa chuộng ở trong nƣớc mà đã vƣợt ra ngoài lãnh
thổ Việt Nam tới tay những ngƣời sành điệu bốn phƣơng.
Ông Mão là một trong những nghệ nhân rất tâm huyết với nghề trong giai
đoạn hiện nay, ông còn là chủ tịch hiệp hội làng nghề Vạn Phúc và đƣợc trao
tặng nhiều danh hiệu. Sản phẩm của ông đƣợc trao tặng nhiều giải thƣởng
đáng quý nhƣ Tại Lễ hội văn hóa các dân tộc Việt Nam năm 2005, độc chiêu
làm lụa Vân của ông Mão đã đƣợc trao giải Quả cầu vàng và Tinh hoa Việt
Nam. Hiện nay, gia đình ông là gia đình duy nhất còn sản xuất lụa vân tại
làng lụa Vạn Phúc, Festival Huế năm 2006 cũng đã chọn những bộ trang phục
cung đình Huế mà ông Mão phục chế bằng độc chiêu lụa Vân để trƣng bày,
giới thiệu với khách quốc tế. Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Dân tộc học...
cũng trƣng bày, sử dụng nhiều sản phẩm lụa của ông. Ông là một trong những
nghệ nhân còn tâm huyết với làng nghề và muốn duy trì bảo tồn phát triển
làng nghề quê hƣơng, chính vì vậy con cháu ông hiện tại cũng đang kinh
doanh trong lĩnh vực này, gia đình ông cũng có một xƣởng dệt lớn và chúng
ta vừa tới làng có thể nhận thấy cửa hàng “Mao silk” của ông. Tại cửa hàng
cũng nhƣ xƣởng sản xuất ông còn đón tiếp khách du lịch và những ngƣời
tham quan để giới thiệu sản phẩm cũng nhƣ quy trình dệt lụa,các công đoạn
làm ra các tấm lụa cho những ngƣời quan tâm bời vậy rất đƣợc sự chú ý của
khách, và khách thấy thú vị hơn.
Giai đoạn từ năm 2009 cho đến gần đây,
Sản phẩm làng nghề nơi đây vẫn còn các sản phẩm chất lƣợng mang bản chất
và đặc trƣng của làng nghề, từ những ngƣời thợ giàu tâm huyết sản xuất ra,
tuy nhiên với những sản phẩm chất lƣợng và đẹp nhƣ thế chỉ là các sản phẩm
cấp cao đƣợc đặt hàng, đƣợc xuất khẩu, chứ không còn là sản phẩm đại trà
43
nhƣ trƣớc kia nữa, vì sản phẩm này thƣờng có giá đắt hơn rất nhiều so với các
sản phẩm đƣợc bày bán tại chợ lụa
Những nghệ nhân có tâm huyết với nghề không còn nhiều, nên sản phẩm
không đƣợc nghệ nhân chú trọng sáng tạo, thay đổi, làm cho giá trị đặc biệt
của nó không còn nữa.
Những công trình dự án đƣợc xây dựng để góp phần thúc đẩy, quảng bá phát
triển sản phẩm nhƣ việc xây dựng khu trƣng bày giới thiệu sản phẩm vừa để
quảng bá sản phẩm vừa có vai trò phát triển du lịch của làng nghề. Đó là các
công trình kiến trúc nhƣ: Đình làng, Miếu; Chùa; và nhà lƣu niệm bác Hồ.
3. Tác động của sự phát triển nghề truyền thống tới các vấn đề an sinh xã hội
của ngƣời dân làng nghề
Việc phát triển làng nghề truyền thống đang ngày càng đƣợc sự quan
tâm của Đảng và nhà nƣớc chính vì vậy nó tác động không nhỏ đến đời sống
của ngƣời dân nhất là vấn đề thu nhập, việc làm, cơ cấu kinh tế, môi trƣờng
và tỷ lệ giàu nghèo.
Thứ nhất là nguồn thu nhập và việc làm: việc bảo tồn và phát triển làng nghề
truyền thống nhằm moucsj đích chủ yếu là tạo công ăn việc làm và tạo thêm
nguồn thu nhập cho ngƣời lao động.
Theo thông kê năm 2005, Vạn phúc có 785 hộ làm nghề dệt, chiếm 60 % tổng
số hộ của làng. Hàng năm làng sản xuất ra đƣợc 2,5 đến 3 triệu m2 vải chiếm
63% doanh thu từ cơ cấu thu nhập của xã. Đến năm 2010 tuy chỉ còn 200 hộ
tham gia làm nghề dệt chiếm 40% tổng số hộ với 250 máy với khoảng 2 triệu
m2 vải đạt doanh thu 20 tỷ đồng. Năm 2012 sản lƣợng vải lụa toàn phƣờng
đạt trên 1,5 triệu m2 lụa doanh thu ƣớc tính là 42,8 tỷ đồng. Điều đó chứng tỏ
dệt lụa là một phần không thể thiếu trong việc tạo thu nhập và việc làm cho
ngƣời dân phƣờng Vạn Phúc.
44
Việc bảo tồn và phát triển nghề lụa không chỉ tạo thu nhập cho ngƣời dân
trong việc kinh doanh lụa mà còn phát triển ngành du lịch và một số dịch vụ
khác liên quan của phƣờng; với các công trình kiến trúc văn hóa- lịch sử trở
thành điểm hấp dẫn du lịch.
Thứ hai là phát triển làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Phát triển làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hƣớng từ lao động nông nghiệp năng suất thấp sang lao động ngành nghề
năng xuất và chất lƣợng cao hơn. Ban đầu lao động trong phƣờng chỉ có nghề
duy nhất là làm nông nghiệp, khi dệt lụa đƣợc biết đến đa số ngƣời dân
chuyển sang làm lụa nhất là thời kì hung thịnh, khi đó lụa còn đƣợc xuất khẩu
nhiều nơi góp phần quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu của cả nƣớc.
Tuy nhiên thu nhập từ hoạt động thƣơng mại và du lịch thuần túy đang bị thu
hẹp do cơ cấu ngành nghề và cơ cấu lao động, nhƣ từ năm 2005 đến 2010 lao
động trong ngành dệt truyền thống giảm tử 60% xuống 40 %, lƣợng khách
quốc tế đến ngày càng ít dẫn đến thu nhập thực cũng bị cắt giảm đáng kể
Thứ ba là tác động về mặt môi trƣờng
Dong sông Nhuệ êm đềm từ xa xƣa giờ đã trở thành dòng kênh đen kịt và bị ô
nhiễm, bốc mùi nặng nề trong mùa khô. Trƣớc kia, vấn đề môi trƣờng cần
quan tâm ở đây là hệ thống xả thải và xử lý hóa chất do làng nghề xả ra môi
trƣờng thì ngày nay vấn đề đó càng trở lên nghiêm trọng hơn. Dòng sông
Nhuệ đã trở thành một kênh xả thải của hàng loạt nhà máy và các hoạt động
công nghiệp khác ở đầu nguồn, sức ép dân số làm lƣợng thải rác lớn hơn và
rác thải từ các công trình đầu tƣ ngày càng nhiều ở địa phƣơng. Chính vì vậy
việc phát triển làng nghề kèm bảo vệ môi trƣờng đáng đƣợc quan tâm và chú
ý của chính quyền địa phƣơng khi mà địa phƣơng. Ủy ban phƣờng đã tuyên
truyền, vận động việc thực hiện, giữ gìn môi trƣờng xanh, sạch, đẹp.
Thứ tƣ là vấn đề giảm tỷ lệ hộ nghèo
45
Phát triển làng nghề góp phẩn cải thiện thu nhập cho ngƣời dân, tao việc làm
cho thanh thiếu niên ngoài việc học hành có thể tham gia vào công việc dệt từ
nhỏ, từ đó tạo thu nhập tăng lên, do đó đời sống ngƣời dân đƣợc cải thiện hơn.
Thêm vào đó là chính sách của ủy ban nhân dân phƣờng về vấn đề y tế, dân
số cũng góp phần cải thiện tỷ lệ hộ nghèo. Do đó năm 2013 chính quyển địa
phƣơng đã đƣa chỉ tiêu phấn đấu từ 18 hộ nghèo xuống còn 16 hộ nghèo.
III. Thực trạng bảo tồn và phát triển làng lụa truyền thống Hà Đông
1. Quá trình bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa đặc sắc của làng nghề
1.1 Hoạt động liên quan tới kinh tế
Hoạt động phát triển kinh tế đóng vai trò mắt xích trong quá trình bảo
tồn và phát triển làng nghề Vạn Phúc. Không chỉ góp phần quảng bá các sản
phẩm truyền thống, phát huy các giá trị văn hóa làng nghề, mà hoạt động kinh
tế còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, nâng cao nguồn thu
nhập cải thiện đời sống nhân dân địa phƣơng.
Ban lãnh đạo làng Vạn Phúc đã chủ trƣơng lên kế hoạch định hƣớng
phát triển kinh tế làng nghề kết hợp với du lịch văn hóa. Kế hoạch đã đƣa ra
những định hƣớng phát triển rõ nét.
Thứ nhất, đó là tuyên truyền củng cố đội ngũ lao động lành nghề, tạo
ra đƣợc các dòng sản phẩm thủ công độc đáo, tinh xảo, hƣớng tới xuất khẩu
trực tiếp. Thị trƣờng xuất khẩu đang ngày càng khắt khe hơn đối với các sản
phẩm thủ công mỹ nghệ. Các sản phẩm cần đạt đƣợc sự tinh xảo và mang tiêu
chuẩn nhất định. Do đó, việc không ngừng sáng tạo các mẫu mã sản phẩm
đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, đội ngũ tạo ra các sản phẩm lụa
độc đáo này chủ yếu vẫn là những nghệ nhân cao tuổi, đã gắn với nghề dệt cả
cuộc đời, trong khi đó lực lƣợng trẻ biết nghề và có tâm huyết với nghề còn ít.
Chính vì thế mà hiện nay Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc cũng đã tiến hành các
buổi truyền dạy nghề và chia sẻ kinh nghiệm cho thế hệ trẻ với sự tham gia
của các nghệ nhân đã gắn bó lâu dài với nghề nhƣ Nghệ nhân Nguyễn Hữu
46
Chỉnh – ngƣời đã có nhiều những đóng góp lớn cho sự phát triển của nghề dệt
lụa Vạn Phúc, nhƣng hiện nay số lƣợng buổi diễn ra còn rất ít và chƣa thu hút
đƣợc đông đảo thế hệ trẻ tham gia.
Thứ hai, kế hoạch cũng định hƣớng việc quy hoạch xây dựng khu sản
xuất để lắp đặt một số máy sản xuất sản phẩm truyền thống, phục vụ trình
diễn quy trình sản xuất để cho du khách xem hoặc thao tác làm theo.
Trong năm 2013, làng Vạn Phúc cũng đã lên kế hoạch cho việc xây
dựng khu trƣng bày giới thiệu sản phẩm uy tín chất lƣợng, triển khai Nhà
truyền thống làng nghề Vạn Phúc. Đây sẽ là nơi trƣng bày các công cụ sản
xuất của nghề dệt, sự thay đổi của các mẫu lụa từ thời kỳ trƣớc cho tới nay.
Dự án đang đƣợc triển khai và nhận đƣợc sự hỗ trợ về vốn của Nhà nƣớc và
một tổ chức của Pháp – theo bác ..Hùng – chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn
Phúc.
Để thực hiện xúc tiến thƣơng mại, cùng với sự phát triển không ngừng
của thƣơng mại điện tử, một số website về lụa Vạn Phúc đã đƣợc xây dựng để
giới thiệu mẫu mã sản phẩm, cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho
ngƣời tiêu dùng trong nƣớc cũng nhƣ ngoài nƣớc nhƣ website
http://www.vanphucsilk.com.vn/, http://luavanphuc.com/. Các website này có
lƣợng truy cập khá cao nhƣ đối với website http://luavanphuc.com/ tổng
lƣợng truy cập tính tới thời điểm ngày 25/2/2013 là 493275 lƣợt.
Một trong những dự án tiêu biểu cho chủ trƣơng bảo tồn và phát triển
làng lụa Vạn Phúc đó là dự án Chợ Lụa. Dự án này đƣợc đề xuất vào năm
2010, và đã đi vào hoạt động vào năm 2012. Khu chợ lụa đƣợc xây dựng trên nền của khu chợ nông sản hiện tại với tổng diện tích 1.700 m2, do UBND
phƣờng Vạn Phúc làm chủ, với nguồn kinh phí xây dựng đƣợc huy động xã
hội. Hiện nay chợ lụa vẫn đang đƣợc triển khai và hoàn thiện, dự kiến khi
hoàn thiện, khu chợ hai tầng sẽ có sức chứa cho hơn 50 gian hàng với hành
lang thông thoáng, thuận lợi cho việc mua bán, quảng bá sản phẩm lụa.
47
1.2 Hoạt động liên quan tới văn hóa – du lịch
Vạn Phúc luôn đƣợc các chuyên gia đánh giá là một khu vực tiềm
năng về du lịch đặc biệt là du lịch làng nghề. Nằm gần trung tâm thành phố
Hà Nội, có khả năng thu hút khách du lịch tới tham quan, Làng nghề Vạn
Phúc luôn coi du lịch là một trong những hƣớng phát triểjn chính.
Làng nghề Vạn Phúc mang đậm dấu ấn những tinh hoa, truyền thống
của dân tộc. Thế mạnh của làng Vạn Phúc là có lịch sử hình thành và phát
triển lâu đời, có sản phẩm thủ công độc đáo, mang đậm dấu ấn và tình cảm
của ngƣời thợ dệt; bên cạnh đó là các quần thể công trình kiến trúc kèm theo.
Nhận thức đƣợc những tiềm năng này, các cơ quan chức năng đã tiến hành
các hoạt động văn hóa – du lịch nhằm bảo tồn và phát huy những tiềm năng
này của làng Vạn Phúc.
Vạn Phúc đã nỗ lực thu hút khách hàng dựa vào thƣơng hiệu, vào những sản
phẩm chất lƣợng cao và vào sự tâm huyết của những nghệ nhân xứ lụa. Vạn
Phúc đã tổ chức và tham gia nhiều sự kiện, nhằm quảng bá hình ảnh của lụa
Hà Đông.
Đầu tiên, có thể kể tới là chƣơng trình Lễ hội du lịch làng nghề hàng
năm do Sở Du lịch Hà Nội phối hợp nhiều công ty du lịch trong và ngoài
nƣớc thực hiện. Đó chính là một ngày hội lớn, là cơ hội để ngƣời dân xứ lụa
giới thiệu với bạn bè và du khách quốc tế về nét đặc sắc, độc đáo và tinh tế
của sản phẩm lụa Hà Đông.
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về với thiên nhiên, về với những nét
văn hóa truyền thống ngày càng tăng cao. Vạn Phúc ngày nay cũng đang cố
gắng tập trung phát triển những thế mạnh, nhằm phát huy tiềm năng du lịch
một cách hợp lý và xứng tầm. Thêm vào đó, hiệp hội làng nghề cũng đang kết
hợp các hãng du lịch nhƣ Vinatour tổ chức đƣa khách du lịch tham quan quê
lụa, phối hợp thực hiện các chƣơng trình truyền hình quảng bá nét độc đáo,
đặc sắc của làng nghề tới công chúng. Đầu tƣ phát triển du lịch và thực hiện
những phƣơng thức tiếp thị hiệu quả góp phần không nhỏ trong quá trình phát
48
triển và giới thiệu sản phẩm lụa Vạn Phúc tới bạn bè trong khu vực và quốc
tế.
Trong thời gian tới, Sở Du lịch Hà Nội sẽ hoàn thành bài thuyết minh
chuẩn về tuyến du lịch này, từ đó phổ biến đến các doanh nghiệp lữ hành, đội
ngũ hƣớng dẫn viên du lịch trên địa bàn thành phố.
Sở VHTTDL Hà Nội sẽ lựa chọn một số cơ sở mua sắm để xếp hạng
“Dịch vụ mua sắm đạt chuẩn” phục vụ khách du lịch; bồi dƣỡng nghiệp vụ
đón tiếp khách du lịch tại các cơ sở sản xuất và các cửa hàng phục vụ khách
du lịch tại làng; tuyên truyền, quảng bá về du lịch - dịch vụ của làng.
Năm 2012 làng Vạn Phúc đƣợc tổ chức kỷ lục Việt Nam đề cử vào
TOP 10 làng nghề truyền thống lâu đời nhất, nếu đƣợc bình chọn làng nghề
Vạn Phúc sẽ nằm trong “Hành trình quảng bá điểm hấp dẫn nhất Việt Nam”.
Cũng trong năm 2012, làng Vạn Phúc đã đón 1247 đoàn với 10.352 lƣợt
khách quốc tế và hàng vạn lƣợt khách trong nƣớc đến tham quan và mua sản phẩm làng nghề1.
Hình 1: Thống kê lƣợng khách du lịch quốc tế tới tham quan làng Vạn
2010
2011
2012
5000
10000
15000
20000
Phúc (Đơn vị: Ngƣời)
Nguồn: Tự tổng hợp từ bác Hùng – chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn
Phúc hiện nay
1 Theo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 (Báo cáo của Ủy ban Nhân dân phƣờng Vạn Phúc
49
Khách du lịch tới làng Vạn Phúc gồm cả khách du lịch trong và ngoài
nƣớc. Khách tới du lịch Vạn Phúc thƣờng do các công ty lữ hành tổ chức về
tham quan và do khách tự tới. Họ tới đây nhằm mục đích chủ yếu là đi xem và
lựa chọn các sản phẩm lụa tơ tằm. Việc tham quan các quy trình sản phẩm,
tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển làng nghề còn đƣợc ít ngƣời quan
tâm.
Bên cạnh đó, Nhằm thúc đẩy hoạt động xúc tiến thƣơng mại, quảng bá
sản phẩm làng nghề, đồng thời tôn vinh các nghệ nhân, thợ thủ công, khuyến
khích khả năng sáng tạo; tạo điều kiện phát triển du lịch, bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống ngƣời
dân, làng Vạn Phúc thƣờng xuyên tham dự các hội chợ triển lãm trong và
ngoài nƣớc. Ngay từ năm 1931- 1942, sản phẩm lụa Vạn Phúc đã tham dự
triển lãm tại Pháp, Indonesia và Hội chợ Đấu Sảo Hà Nội đƣợc chọn là mặt
hàng thủ công độc đáo của Việt Nam, có 18 nghệ nhânđƣợc tặng thƣởng bằng
danh dự. Làng lụa Vạn Phúc còn tích cực quảng bá hình ảnh của làng nghề
qua ba lần tham gia “Hội du lịch làng nghề truyền thống Hà Tây”, do ngành
du lịch tỉnh tổ chức vào tháng 11/2001, 12/2003 và 12/2005 và các hội chợ
lớn ở Nhật Bản, Pò Chài Trung Quốc; các hội chợ tại Hà Nội, Vinh, Huế, Đà
Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh…Ở những lần tham gia đó, lụa Vạn Phúc đều
đƣợc đánh giá cao về chất lƣợng và thƣơng hiệu trên thị trƣờng trong nƣớc và
quốc tế. Nhiều đoàn quan chức, ngoại giao, thƣơng mại, du lịch và cả các
nguyên thủ quốc gia của một số nƣớc cũng đã đến thăm làng dệt lụa Vạn
Phúc.
2. Đông”Quá trình bảo tồn và phát triển thƣơng hiệu “Lụa Hà
Xây dựng thƣơng hiệu cho làng lụa Vạn Phúc
Từ năm 2006, Hiệp hội làng nghề dệt lụa tơ tằm Vạn Phúc phối hợp cùng hợp
tác xã lụa Vạn Phúc đăng ký bảo vệ thƣơng hiệu với Cục Sở hữu trí tuệ cho
sản phẩm lụa Vạn Phúc mang tên “Lụa Hà Đông” (đƣợc cấp giấy chứng nhận
50
đăng ký nhãn hiệu hàng hóa ngày 13/5/2005) làm cơ sở chống cạnh tranh
trên thị trƣờng với những sản phẩm sản xuất cùng loại. Ngoài ra Hiệp hội làng
nghề tham gia cùng với hợp tác xã xây dựng trang website riêng mang tên
htpp://www.luavanphuc.com.vn để đƣa thông tin lên mạng, giới thiệu với
khách hàng về sản phẩm và địa chỉ, các sự kiện văn hóa truyền thống, quảng
bá sản phẩm lụa, tạo thuận lợi trong quan hệ kinh doanh trong nƣớc và quốc
tế với tôn chỉ hoạt động của website là “tôn chỉ hoạt động của chúng tôi là:
Giúp đỡ người tiêu dùng đến mức tối đa. Chúng tôi xin cam kết chỉ bán hàng
chất lượng, nếu phát hiện được chúng tôi bán lụa Tàu, lụa rởm, chúng tôi sẽ
xin lỗi, bồi thường 1 tỷ đồng và không bao giờ bán lụa nữa”.
Thêm vào đó, Vạn Phúc đã tổ chức và tham gia nhiều sự kiện, nhằm quảng bá
hình ảnh của lụa Hà Đông. Kể tới đầu tiên là chƣơng trình Lễ hội du lịch làng
nghề năm 2004 do Sở du lịch Hà Tây (nay là Sở du lịch Hà Nội) phối hợp
nhiều công ty du lịch trong và nƣớc ngoài thực hiện. Đó chính là một ngày
hội lớn, là cơ hội để ngƣời dân xứ lụa giới thiệu với bạn bè và du khách về nét
đặc sắc, độc đáo và tinh tế của sản phẩm lụa Hà Đông. Năm 2008, Vạn Phúc
với hơn 300 ngƣời đã tham gia tích cực vào chƣơng trình lễ hội tiến tới kỷ
niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Hai năm 2011 và 2012, Lụa Vạn Phúc
đều là đại diện của Việt Nam mang thƣơng hiệu lụa Vạn Phúc tham dự triển
lãm Di Sản Lụa ASEAN (ASEAN Silk Heritage) mang tầm vóc quốc tế do
Thái Lan tổ chức tại Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia Queen Sirikit thủ đô
BangKok từ ngày 5 đến ngày 10/12/2012. Trong đợt triển lãm này, Lụa Vạn
Phúc cũng đã mang nhiều sản phẩm nhƣ ví, túi xách, áo quần, cavat, khăn vân
rồng để giới thiệu. Mới đây nhất, từ ngày 19-2 đến ngày 25-2 năm 2013,
phƣờng Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã tổ chức sự kiện
“Tuần văn hóa-du lịch làng nghề dệt lụa Vạn Phúc” và “Lễ công bố cây di sản
Việt Nam”. Đây là hoạt động văn hóa hƣởng ứng “Năm du lịch Quốc gia
Đồng bằng Sông Hồng 2013”, thúc đẩy giao lƣu văn hóa, bảo tồn và phát
triển nét đẹp, tinh hoa trong sản phẩm của các làng nghề thủ công, mỹ nghệ
51
truyền thống khu vực hƣởng ứng. Quan trọng hơn, đó chính là dịp để Vạn
Phúc phát huy giá trị văn hóa của một địa danh lịch sử giàu truyền thống văn
hóa, có nghề dệt lụa nổi tiếng lâu đời; quảng bá, giới thiệu sản phẩm và văn
hóa làng nghề tới du khách trong và ngoài nƣớc, xúc tiến phát triển thƣơng
mại, du lịch; phát triển sản xuất và thu hút lao động, việc làm cho nhân dân
địa phƣơng.
Để thƣơng hiệu lụa Vạn Phúc nổi tiếng hơn nữa không chỉ trong nƣớc mà còn
cả nƣớc ngoài thì cần nhiều biện pháp thiết thực, Hiệp hội làng nghề chủ
trƣơng phối hơp với hợp tác xã vận động các gia đình đăng ký dệt thƣơng
hiệu “Lụa Hà Đông” lên biên vải trên từng mét vải, ngoài mục đích khẳng
định thƣơng hiệu lụa, ngƣời sản xuất lụa phải nâng cao trách nhiệm của mình
với chất lƣợng của mỗi sản phẩm lụa đƣợc sản xuất ra, đồng thời tổ chức
kiểm tra chất lƣợng máy dệt của toàn thể các hộ gia đình và các cơ sở sản xuất
để có kế hoạch hỗ trợ tu bổ sửa chữa để nâng cao chất lƣợng hàng dệt, dù tiêu
chuẩn đƣợc gắn thƣơng hiệu lụa Vạn Phúc - Hà Đông lên biên vải.
Khi sản xuất bị thu hẹp, các hộ dân làng lụa Vạn Phúc đã nhập nhiều loại lụa
từ nơi khác về kinh doanh nhƣ lụa Nha Xá, lụa Trung Quốc để đáp ứng nhu
cầu ngày càng đa dạng của du khách. Trong khi bán hàng ngƣời dân không
giải thích cho du khách về xuất xứ nguồn gốc hàng hóa, mập mờ về sản phẩm,
gây nhầm lẫn về các sản phẩm lụa. Ngành du lịch Hà Nội sẽ lựa chọn một số
cửa hàng tại vạn Phúc để thẩm định, sau đó công nhận điểm bán hàng đạt
chuẩn phục vụ khách du lịch. Những đơn vị này sẽ đƣợc cấp biển hiệu đạt
chuẩn bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó giúp du khách dễ dàng lựa chọn
khi tham quan và mua sắm. Địa phƣơng cũng vận động các chủ cửa hàng lụa
cần phân loại rõ đâu là sản phẩm làng nghề và đâu là sản phẩm liên kết với
các làng nghề khác, rõ ràng về xuất xứ hàng hóa để tiện cho khách hàng lựa
chọn sản phẩm, tránh tình trạng mua giả, bán đắt.
52
Theo bác Hùng – chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc ,hợp tác xã sẽ tổ chức
các lớp hƣớng dẫn, tập huấn về kỹ thuật chuội nhuộm, quy trình sử dụng các
loại hóa chất, thuốc nhuộm, đồng thời phát triển thêm một số xƣởng nhuộm tơ
tằm bền màu. Trong năm 2012, địa phƣơng đã mở lớp nâng cao tay nghề về
nhuộm do bác Nguyễn Hữu Chỉnh hƣớng dẫn, giúp nâng cao và đảm bảo chất
lƣợng lụa trong mọi khâu của quy trình sản xuất.
IV. Đánh giá hoạt động bảo tồn và phát triển làng lụa truyền thống Hà
Đông
1. Đánh giá hoạt động bảo tồn và phát triển liên quan tới lĩnh vực kinh tế
Các hoạt động kinh tế mà UBND cũng nhƣ chính quyền địa phƣơng
làng Vạn Phúc thực hiện đã đem lại những hiệu quả tích cực cũng nhƣ tiêu
cực đối với việc bảo tồn và phát triển làng lụa truyền thống.
Việc xây dựng các lớp truyền dạy nghề là một giải pháp tốt để những
nghệ nhân có nhiều kinh nghiệm truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ, tuy nhiên có
thể nhìn thấy một hạn chế đó là các buổi truyền dạy nghề vẫn chƣa thu hút
đông đảo ngƣời trẻ tham gia, chủ yếu là vẫn là những ngƣời trung tuổi tham
gia.
Dự án Chợ Lụa chƣa thực sự đem lại hiệu quả nhƣ kỳ vọng. Phần lớn
các gian hàng trong chợ đều do tƣ nhân từ bên ngoài vào thuê mặt bằng kinh
doanh nên việc có lẫn các mặt hàng nhái kém chất lƣợng là điều không thể
tránh khỏi. Du khách tới đây khó có thể tìm đƣợc lụa thật, trong khi đó mục
đích của việc xây dựng Chợ Lụa là giúp ngƣời tiêu dùng tìm đƣợc mặt hàng
lụa thật. Việc bài trí lụa tại các gian hàng chƣa có tình thẩm mỹ cao, không có
tính riêng biệt.
Việc xây dựng các website về lụa Vạn Phúc đã tạo điều kiện cho ngƣời
tiêu dùng cũng nhƣ khách du lịch – những ngƣời chƣa từng tới làng Vạn Phúc
hay biết về lụa Vạn Phúc có thể tìm hiểu và có một cái nhìn tổng quan về làng
lụa. Đây cũng là cách kích thích tính tò mò của ngƣời xem sau khi xem trên
53
mạng internet và họ sẽ tới trực tiếp làng Vạn Phúc để thăm quan và mua sắm.
Tuy nhiên, việc xây dựng các website là do những cá nhân, nhóm cá nhân,
không phải do chính quyền địa phƣơng hay Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc,
chính vì vậy mà những thông tin trên website có thể không chính xác và sai
lệch so với thực tế. Một hạn chế nữa đó là, thông tin làng nghề sẽ ít đƣợc cập
nhật thƣờng xuyên, website không đƣợc đầu tƣ để làm nổi bật nội dung, giao
diện nhằm thu hút khách du lịch.
2. Đánh giá hoạt động bảo tồn và phát triển liên quan tới lĩnh vực văn hóa –
du lịch
Du lịch làng nghề hiện đang là một sản phẩm du lịch tiềm năng. Theo
ông Trƣơng Minh Tiến- PGĐ Sở VH,TT &DL Hà Nội cho biết: “Những năm
gần đây, lƣợng khách du lịch tới Hà Nội tăng mạnh, trong đó nhu cầu tới tham
quan làng nghề của khách rất cao. Họ thích thú với các sản phẩm mang tính
đặc trƣng của văn hóa Việt Nam trên các sản phẩm của làng nghề, từ biểu
tƣợng khuê Văn Các, hay biểu tƣợng trống đồng, rồng phƣợng… Đây là một
động lực để giữ chân khách”. Làng Vạn Phúc cũng không phải là một ngoại
lệ. Tuy nhiên, việc phát triển du lịch làng nghề tại Vạn Phúc đang gặp phải
nhiều bất cập.
Theo ông Lê Quang Đạo- Phó giám đốc Công ty du lịch tầm nhìn Việt-
cho biết, hiện khách hàng của công ty có rất ít khách yêu cầu đi tour về làng
lụa Vạn Phúc, một số khách đi về rồi phàn nàn là đọc thông tin trên mạng,
xem hình ảnh làng lụa rất đẹp nhƣng khi đến rồi thì không đƣợc nhƣ những gì
đã hình dung về một làng nghề truyền thống. Hầu hết du khách đến Vạn Phúc
đều không thỏa mãn vì không có các địa điểm để tham quan, ngoài mua sắm
quanh làng lụa. Thái độ bán hàng thiếu chuyên nghiệp cũng làm du khách thất
vọng, không chỉ có khách nƣớc ngoài mua phải hàng Trung Quốc mà thậm
chí khách nội còn khó phát hiện đâu là lụa “made in Vietnam”. Hơn nữa,
Theo sơ đồ 1, lƣợng khách du lịch nƣớc ngoài tới Vạn Phúc đều trên 10.000
ngƣời, tuy nhiên đang có xu hƣớng giảm dần.
54
Nguyên nhân chủ quan của vấn đề này đó là: Làng Vạn Phúc chƣa thực
sự xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch và chƣa hoàn thiện hệ thống giao
thông đƣờng làng, điện, nƣớc…cơ sở hạ tầng còn thiết yếu chƣa đủ đáp ứng
các nhu cầu của khách du lịch. Một số đình chùa, khu trƣng bày máy dệt cổ
vẫn chƣa đƣợc chỉnh chu hoàn thiện và thẩm mỹ cao. Bên cạnh đó, dịch vụ du
lịch chƣa đƣợc chú trọng phát triển. Tình trạng chung của ngƣời dân ở các
làng nghề là thiếu kiến thức về du lịch và không biết ngoại ngữ. Ngƣời dân
không hiểu biết về tiếp thị, không đƣợc học cách tiếp khách du lịch... Kết quả
là khách du lịch đến tham quan nhƣng không biết phải tham quan cái gì,
không hiểu gì về văn hóa cũng nhƣ tập quán sản xuất của nơi tham quan vì
không có cơ hội tiếp xúc với ngƣời dân và công việc của họ.
Hơn nữa, Đến với làng nghề Vạn Phúc hiện nay, chúng ta có thể dễ
dàng nhận thấy những sản phẩm làng nghề chính thống ở đây đang dần bị
thay thế hoặc bị áp đảo bởi các sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc. Ngoài ra,
theo khảo sát của nhóm nghiên cứu, phần lớn các sản phẩm lụa đƣợc sản xuất
ra tại làng đều bị pha trộn với tỷ lệ lớn những chất liệu công nghiệp để giảm
giá thành đầu vào. Nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến hiện tƣợng này là
giá mặt hàng tơ tằm quá cao – đây là nguyên liệu tạo ra lụa chính thống của
làng nghề. Vấn đề đáng quan tâm ở đây đó là thái độ của ngƣời dân đối với sự
xuất hiện những mặt hàng từ bên ngoài tại những cửa hàng mang thƣơng hiệu
Vạn Phúc. Chính việc chấp nhận sự có mặt của các mặt hàng ngoại lai nhằm
tăng lợi nhuận đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là làm mất lòng tin của khách
du lịch, ngƣời tiêu dùng khi họ không thể mua đƣợc hàng Vạn Phúc chính
hiệu trên chính mảnh đất quê hƣơng của làng nghề. Hiện tƣợng này làm cho
hình ảnh du lịch – văn hóa của làng nghề bị mai một dần trong con mắt những
công ty du lịch và khách du lịch quốc tế.
Một trở ngại lớn nữa đối với việc phát triển du lịch tại làng nghề Vạn
Phúc đó là sự ô nhiễm môi trƣờng làng nghề. Dòng sông Nhuệ chảy qua địa
phận làng Vạn Phúc đã trở thành dòng sông đen kịt và bị ô nhiễm nghiêm
55
trọng, bốc mùi nặng nệ trong mùa khô. Nguyên nhân chính ở đây chính là
việc hóa chất sau quá trình nhuộm lụa của làng Vạn Phúc đã đƣợc xả thẳng ra
sông Nhuệ. Không chỉ vậy, dòng sông Nhuệ đã trở thành một kênh xả thải của
hàng loạt nhà máy và các hoạt động công nghiệp khác ở đầu nguồn. Chất thải
xây dựng cũng là một vấn đề nan giải đối với Vạn Phúc khi trục đƣờng vành
đai 3 Lê Văn Lƣơng đƣợc mở rộng và kéo theo đó là hàng loạt dự án xây
dựng liền kề với làng hoặc có đƣờng giao thông đi qua làng nghề.
Hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với hoạt động du lịch làng nghề
còn chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Việc quảng bá về làng nghề chƣa thực sự
là một điểm nhấn về văn hóa, lịch sử, chƣa tạo đƣợc ấn tƣợng mạnh mẽ thu
hút sự quan tâm của khách du lịch quốc tế. Trong khi đó, ngƣời dân cũng nhƣ
chính quyền địa phƣơng chƣa nhận thức rõ ràng sâu sắc những động cơ, kinh
nghiệm, sở thích của khách du lịch đối với du lịch làng nghề truyền thống.
Mong muốn của khách du lịch khi tới đây không chỉ là đƣợc chiêm ngƣỡng
cảnh quan của làng nghề, mà còn mong đƣợc tìm hiểu lịch sử hình thành và
phát triển của làng nghề thông qua hệ thống các di tích lịch sử văn hóa, hệ
thống bảo tồn của làng nghề; đƣợc các nghệ nhân, thợ giỏi của làng giới thiệu,
hƣớng dẫn tham quan các xƣởng dệt, tận mắt ngắm nhìn công nghệ tạo ra sản
phẩm lụa tinh xảo, độc đáo, đƣợc làm từ những đôi bàn tay khéo léo của các
nghệ nhân
Nguyên nhân khách quan đó là những hạn chế về cách thức tổ chức các
tour du lịch. Các tour du lịch làng nghề nói chung chƣa đƣợc khai thác triệt để
cả về nội dung và hình thức, chủ yếu vẫn dừng lại ở tham quan và tới xem
hàng. Các tour du lịch về làng Vạn Phúc mới chỉ dẫn khách du lịch tới thăm
Chợ Lụa và rất ít tổ chức một tour thăm quan tổng thể cả các công trình kiến
trúc, các khu di tích lịch sử, dó đó thƣờng gây nhàm chán cho khách du lịch.
Một vấn đề khác là hầu hết các tour du lịch làng nghề không có đội ngũ
thuyết minh cho du khách về những nét đặc sắc hay lịch sử phát triển của làng
nghề. Hƣớng dẫn viên du lịch vẫn chƣa có những bài thuyết mình chuẩn về
56
làng nghề Vạn Phúc, thụ động trong việc giới thiệu làng nghề tới khách du
lịch, chỉ có khách tự quan sát, tự tìm hiểu và hỏi các nghệ nhân họ mới hiểu
đƣợc. Các công ty du lịch chƣa thực sự nghiên cứu đánh giá tìm hiểu để nắm
đƣợc nhu cầu và mong muốn của khách du lịch.
3. Đánh giá về hoạt động bảo tồn và phát triển thƣơng hiệu “Lụa Hà Đông
Trong thời kì hội nhập kinh tế thế giới, việc giao lƣu văn hóa giữa các
quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới ngày càng mạnh mẽ, các cuộc
triển lãm, trƣng bày sản phẩm mang tầm quốc tế đƣợc tổ chức ngày càng quy
mô, Lụa Vạn Phúc đã tích cực tham dự các cuộc triển lãm khu vực và quốc tế,
tăng cƣởng quảng bá hình ảnh, chất lƣợng Lụa Hà Đông với thị trƣờng bên
ngoài thông qua các cuộc trƣng bày triển lãm này.
Hiệp hội làng nghề đã đánh giá đƣợc giá trị của sản phẩm lụa Hà Đông
trên thị trƣờng nội địa và thị trƣờng quốc tế, từ đó đã đề xuất và triển khai một
số hoạt động, dự án theo định hƣớng chung của Chính phủ về bảo tồn và phát
triển làng nghề thủ công nhằm xây dựng thƣơng hiệu “Lụa Hà Đông”. Việc
đăng ký bảo vệ nhãn hiệu, dệt nhãn hiệu “Lụa Hà Đông” lên biên vải, giúp
định vị sản phẩm, tạo sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại khác trên thị
trƣờng. Kế hoạch dệt nhãn hiệu lên biên vải đã đƣợc chính quyền đề ra và vận
động tới các hộ sản xuất lụa, tuy nhiên, công tác này hiện chƣa đƣợc thực hiện
triệt để. Thực tế, chỉ có một vài cơ sở sản xuất lớn trong làng thực hiện kế
hoạch này. Tinh thần hƣởng ứng phát động này của ngƣời dân làng lụa chƣa
cao bởi nhiều nguyên do mà chủ yếu là bởi tính kinh tế của việc sản xuất lụa,
việc buôn bán lụa. Công tác kiểm soát hiện tƣợng bán hàng giả hàng nhái
thƣơng hiệu “Lụa Hà Đông” chƣa đƣợc thực hiện, các mặt hàng lụa Trung
Quốc giá rẻ, chất lƣợng thấp vẫn đƣợc bày bán la liệt, lừa gạt du khách tham
quan; hiện tƣợng này đã làm phai mờ dần thƣơng hiệu Lụa Hà Đông. Kế
hoạch phân loại gian hàng bán các loại lụa khác nhau: lụa truyền thống, lụa
Trung Quốc hay lụa nhập từ các nơi khác chƣa đƣợc triển khai và trong tình
57
trạng khó thực hiện đƣợc triệt để tại tất cả các cửa hàng trên phố chợ lụa tại
làng Vạn Phúc.
Chịu ảnh hƣởng của giai đoạn ứng dụng thƣơng mại điện tử vào kinh
doanh, Website http://www.luavanphuc.com.vn chính thức của làng lụa cũng
đã đƣợc tạo lập, tranh thủ tác động tích cực của thƣơng mại điện tử, thúc đẩy
quảng bá hính ảnh sản phẩm truyền thống, văn hóa đất nƣớc rộng khắp đất
nƣớc và quốc tế. Về bản thân website, trang web đã cung cấp cho khách ghé
thăm những thông tin cơ bản nhất về lịch sử hình thành và sự phát triển của
làng Vạn Phúc, các dòng sản phẩm hiện làng đang sản xuất và có khả năng
cung ứng, cũng nhƣ tất cả các hoạt động liên quan đến sản phẩm truyền thống
của làng. Tuy nhiên, qua theo dõi của nhóm nghiên cứu, các danh mục tin tức,
sự kiện trên website không đƣợc cập nhật thƣờng xuyên. Website chỉ dừng lại
ở chức năng cung cấp thông tin, chƣa kết hợp với mua bán trực tuyến, do đó
chƣa tận dụng đƣợc đƣợc lợi ích của việc ứng dụng thƣơng mại điện tử vào
bán hàng trực tuyến với việc góp phần giảm giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó,
việc xây dựng hình ảnh và quảng bá website chƣa thực sự đƣợc đƣợc chú
trọng. Bởi những tồn tại trên mà website chƣa thực sự phát huy đƣợc hết giá
trị thực và chức năng của nó.
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG LỤA
TRUYỀN THỐNG HÀ ĐÔNG
I. Định hƣớng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống của Đảng và
Nhà nƣớc ta giai đoạn hiện nay (đến năm 2020)
Theo Quyết Định số 2636/QĐ-BNN-CB ngày 31 tháng 10 năm 2011
của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc phê duyệt Chƣơng trình
Bảo tồn và phát triển làng nghề, chƣơng trình bảo tồn và phát triển làng nghề
với những nội dung chủ yếu sau đây:
1. Quan điểm
58
Bảo tồn và phát triển làng nghề trên cơ sở phát triển hài hòa giữa sản xuất
hàng hóa với bảo vệ môi trƣờng và gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa truyền
thống theo hƣớng bảo tồn để phát triển và phát triển để bảo tồn.
Bảo tồn và phát triển làng nghề phải kết hợp phát triển hài hòa các cơ sở
ngành nghề quy mô vừa và nhỏ, đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh trong các làng nghề, chú trọng phát triển các hợp tác xã,
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn ở làng nghề
Bảo tồn và phát triển làng nghề trên cơ sở phát huy sự tham gia của cộng
đồng gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn, từng bƣớc hình thành các thị trấn, thị tứ và phát triển nông thôn
mới.
Bảo tồn và phát triển làng nghề phải gắn liền với thị trƣờng và hội nhập
kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu, phù hợp phát triển kinh tế xã hội và
phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi địa phƣơng, góp phần tạo việc
làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, giảm dần khoảng cách thu nhập
giữa thành thị và nông thôn.
2. Mục tiêu
a. Mục tiêu chung
Mục tiêu của Chƣơng trình Bảo tồn và phát triển làng nghề là phát triển
làng nghề, ngành nghề, dịch vụ, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông
thôn, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông
thôn mới.
b. Mục tiêu cụ thể
Phấn đấu đến năm 2015 đạt
Thu nhập tăng từ các hoạt động phi nông nghiệp từ 2-4 lần so với sản xuất
thuần nông;
59
Tỷ lệ xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ hàng năm tăng 15-17%, đạt kim
ngạch 1,5 tỷ USD;
Giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng ở các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề
chế biến lƣơng thực thực phẩm, sản xuất thủ công mỹ nghệ, kim khí;
Bảo tồn 30-40 làng nghề truyền thống theo hƣớng vào bảo tồn các làng
nghề truyền thống, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc
Phát triển 50-70 làng nghề mới và làng nghề gắn với du lịch; chú trọng
phát triển nghề truyền thống, làng nghề mới ở những nới bị thu hồi đất
nông nghiệp, khu vực ngƣời dân tộc thiểu số
Phấn đấu đến năm 2020 đạt
Tỷ lệ lao động nông thôn đƣợc đào tạo nghề: 80%
Tỷ lệ xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ hàng năm tăng 17-20%, dạt kim
ngạch 2-2,5 tỷ USD;
Không còn hộ nghèo tại các làng nghề;
Cơ bản giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trƣờng làng nghề;
Bảo tồn 455 làng nghề truyền thống;
Phát triển 300 làng nghề phát triển mới và làng nghề du lịch
3. Định hƣớng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống
a. Khôi phục, bảo tồn các làng nghề truyền thống từ lâu đời đang có nguy
cơ bị mai một, thất truyền
Đối với những làng nghề đang trong quá trình suy vong và có khả năng
mất đi, xác định bảo tồn là chính, coi đó là tài sản văn hóa quốc gia; tiến hành
điều tra, xác định và xây dựng dự án để duy trì một vài hộ hoặc nhóm nghề,
nghệ nhân hoạt động “trình diễn” nghề nhằm phục vụ yêu cầu du lịch, văn
hóa.
60
Đối với những làng nghề có khó khăn, phát triển theo hƣớng sản xuất sản
phẩm đơn chiếc (đặc trƣng), có giá trị kinh tế và hàm lƣợng văn hóa cao làm
hàng dân dụng phổ thông, hàng phục vụ du lịch.
Tăng cƣờng công tác thu nhập, bảo tồn và lƣu trữ tƣ liệu về giá trị truyền
thống của làng nghề, hỗ trợ xây dựng các phòng và nhà trƣng bày, bảo tàng
nghề, làng nghề thủ công mỹ nghệ, khu trình diễn nghề truyền thống; xấy
dựng các trung tâm đào tạo nghề, trung tâm xúc tiến thƣơng mại sản phẩm
hàng thủ công mỹ nghệ.
Chuyển đổi một số ngành nghề, làng nghề khó khăn về thị trƣờng thông
qua sự hỗ trợ về vốn đầu tƣ, đào tạo nghề, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm, tạo điều kiện cho các làng nghề đƣợc phục hồi và phát triển.
Những làng nghề phát triển mạnh, có sự lan tỏa sang các khu vực lân cận
Khôi phục sản xuất tại những làng nghề sắp và đang bị mai một nhƣng
trên thị trƣờng có nhu cầu; chú trọng một số nghề truyền thống, làng nghề
truyền thống có từ lâu đời, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Phát triển mạnh các nghề truyền thống, làng nghề truyền thống, chú
trọng phát triển sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu lớn và giá trị kinh tế cao;
khuyến khích sự lan tỏa, cấy nghề truyền thống ra vùng xung quanh và đẩy
mạnh hỗ trợ phát triển sản phẩm mới.
Quan tâm phát triển các làng nghề chế biến lƣơng thực, thực phẩm, chú
trọng sản xuất các mặc hàng có chất lƣợng cao, mẫu mã đẹp, phù hợp với nhu
cầu và thị hiếu của ngƣời tiêu dùng.
Sử dụng công nghệ truyền thống kết hợp áp dụng cơ khí hóa một số
công đoạn sản xuất thủ công mà không ảnh hƣởng đến giá trị nghệ thuật, thẩm
mỹ và giá trị truyền thống của sản phẩm.
Những làng nghề phát triển cầm chừng, không ổn định
61
Khuyến khích và tạo điều kiện cho các nghệ nhân, thợ tay nghề cao và
các cơ dở sản xuất làm một số loại sản phẩm cao cấp, đáp ứng thị hiếu khách
hàng.
Chú trọng bảo tồn một số công nghệ cổ truyền tinh xảo, độc đáo và có
hƣớng đổi mới, phát triển công nghệ tiên tiến, hiện đại, phù hợp với sản xuất
tại các làng nghề.
Bảo tồn và phát triển nghề truyền thủ công truyền thống của các dân tộc
Nghiên cứu, ban hành hệ thống chính sách đồng bộ về bảo tồn và phát
triển làng nghề truyền thống ở vùng đồng bào dân tộc.
Tiến hành điều tra, khảo sát các nghề thủ công truyền thống và xây
dựng, thực hiện Dự án bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống của
đồng bào dân tộc.
Hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ, cải tiến mẫu mã, kiểm tra chất
lƣợng sản phẩm; tìm kiếm thị trƣờng trong và ngoài nƣớc thông qua các hội
trợ, triển lãm giới thiệu sản phấm, cung cấp thông tin thị trƣờng.
Xây dựng các làng thủ công mỹ nghệ truyền thống nhằm lƣu trữ, trƣng
bày, trình diễn, nghiên cứu các nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân
tộc.
b. Phát triển làng nghề gắn liền với du lịch
Đề án Tổng thể bảo vệ môi trƣờng (BVMT) làng nghề đến năm 2020 và
định hƣớng đến năm 2013 đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt vào ngày
15 tháng 4 năm 2013 . Đề án lựa chọn, xây dựng và áp dụng thử nghiệm 6 mô
hình làng nghề truyền thống gắn với du lịch thực hiện tốt các quy định về
BVMT để định hƣớng cho việc xử lý ô nhiễm môi trƣờng làng nghề trên quy
mô toàn quốc. Trong đó đề án chọn hai mô hình làng nghề thủ công mỹ nghệ,
hai mô hình làng nghề dệt nhuộm, ƣơm tơ và hai mô hình làng nghề sản xuất
62
đồ gốm sứ để đánh giá, rút kinh nghiệm trƣớc khi phổ biến, nhân rộng ra các
địa phƣơng có các loại hình làng nghề tƣơng tự.
Bên cạnh đó, đề án này tiến hành cải tạo, nâng cấp và hoàn thiện cơ sở hạ
tầng BVMT làng nghề nhƣ hệ thống tiêu thoát nƣớc; các điểm thu gom, xử lý
chất thải rắn, lồng ghép với Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới và Chƣơng trình mục tiêu quốc gia nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng
nông thôn.
Hướng phát triển làng nghề gắn với du lịch
Thực hiện quy hoạch và xây dựng các tuyến, điểm du lịch gắn với làng
nghề trong cả nƣớc và ở từng địa phƣơng; đánh giá tình hình khai thác, tổ
chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, hiện trạng quy hoạch, kiến
trúc và hạ tầng cơ sở.
Xây dựng kế hoạch đầu tƣ, nâng cấp và phát triển làng nghề gắn với các
tuyến, điểm du lịch.
Hỗ trợ các làng nghề khôi phục, phát triển các nghề truyền thống, hoạt
động văn hóa dân gian, xây dựng môi trƣờng du lịch văn hóa, cải thiện cơ
sở hạ tầng kết hợp bảo vệ môi trƣờng du lịch sinh thái.
Phát triển làng nghề gắn với các tuyến du lịch
Tập trung quảng bá về các làng nghề, sản phẩm làng nghề, cơ sở, hộ sản
xuất và các nghệ nhân của làng nghề nằm trong các tuyến du lịch.
Tổ chức các tuyến du lịch làng nghề kết hợp với các tuyến du lịch sinh
thái, du lịch cộng đồng, du lịch vè cội nguồn, du lịch nông nghiệp và các
tuyến du lịch khác.
Xây dựng mới và nâng cấp các tuyến du lịch làng nghề đã có.
Phát triển làng nghề gắn với các điểm du lịch
63
Ƣu tiên phát triển hạ tầng, bảo vệ môi trƣờng, xúc tiến thƣơng mại, chính
sách đối với nghệ nhân, vay vốn ƣu đãi, chính sách khuyến khích nghiên
cứu, sáng tạo mẫu sản phẩm tại các làng nghề gắn với các tuyến, điểm du
lịch trên cả nƣớc, thông qua tuyến du lịch để quảng bá các làng nghề, sản
phẩm làng nghề, hộ sản xuất và các nghệ nhân của làng nghề. Hƣớng tới
mục tiêu tăng thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp từ 2-4 lần so với
sản xuất thuần nông; kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt 1,5
tỷ USD (đến năm 2015)
Hỗ trợ hoạt động tuyên truyền, phổ biến, vận động ngƣời dân trong làng
thực hiện quy định về vệ sinh môi trƣờng; xây dựng công trình thu gom và
xử lý chất thải; ứng dụng công nghệ mới ít gây ô nhiễm môi trƣờng.
Phát triển các cửa hàng bán đồ lƣu niệm tại làng nghề; tổ chức các khu
vực tập trung các cửa hàng bán sản phẩm của làng nghề.
Xây dựng các xƣởng, khu sản xuất đủ điều kiện làm điểm du lịch để tổ
chức tham quan cho du khách trong và ngoài nƣớc.
Đầu tƣ phát triển các điểm làng nghề gắn với du lịch.
c. Phát triển làng nghề mới, phấn đấu thực hiện mỗi làng một nghề
Đối với những làng đã có nghề
Khôi phục, bảo tồn, lƣu trữ nét văn hóa truyền thống trong sản phẩm, bí
quyết nghề, đồng thời thiết kế những sản phẩm mới phù hợp với thị
trƣờng, nâng cao khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Xây dựng kế hoạch, dự án để thúc đẩy phát triển nhân rộng ra nhiều hộ
trong làng; tăng cƣờng liên kết với các doanh nghiệp để cải tiến mẫu mã,
cung cấp vốn và thoogn tin thị trƣờng; đào tạo nâng cao năng lực quản lý
kinh doanh của các chủ sở cơ sở sản xuất.
Đối với các làng nghề chưa có nghề phi nông nghiệp
64
Thúc đẩy phát triển ngành nghề phi nông nghiệp với hình thức du nhạp
phát triển thông qua việc học tập, phổ biến, lan tỏa từ các làng nghề truyền
thống, làng nghề đã có sản phẩm trên thị trƣờng.
Xây dựng cấc dự án khôi phục nghề cũ (nếu có), chú trọng phát tiển các
loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nông thôn.
Những làng nghề mới cần hƣớng tập trung vào phát triển các ngành nghề
chế biến nông lâm thủy sản, công nghệ bảo quản sau thu hoạch và sản xuất
sản phẩm sơ khí phục vụ sản xuất nông nghiệp; ƣu tiên chế biến các sản
phẩm sạch.
Phát triển, kết hợp các loại hình kinh tế và tổ chức sản xuất, kinh doanh
Phát triển mối liên kết giữa doanh nghiệp xuất khẩu với gia công bán
thành phẩm ở các làng nghề
Khuyến khích mở rộng quy mô, tập trung vốn, tạo mặt bằng sản xuất
thuận lợi trong các khu/cụm công nghiệp ngành nghề tại địa phƣơng
Thu hút liên doanh, liên kết, góp vốn, xúc tiến hình thành các công ty, xí
nghiệp hoặc cá nhân tổ chức kinh tế cổ phần.
Định hướng phát triển một số làng nghề mới
Phát triển làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
Phát triển làng nghề bảo quản, chế biến nông lâm thủy sản, gây trồng và
kinh doanh sinh vật cảnh
Phát triển nghề cơ khí nhỏ ở nông thôn
Phát triển dịch vụ ở nông thôn
II. Kinh nghiệm về vấn đề bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền
thống của Nhật Bản, Thái Lan và một số quốc gia khác
Trên thế giới, nhiều nƣớc nhƣ Nhật bản, Thái Lan, trung Quốc đã xây
dựng các phong trào thi đua phát triển nghề thủ công truyền thống khác thành
công. Nhật bản và Thái lan đã có phong trào “mỗi làng một sản phẩm”, đem
65
lại nhiều lợi thế cho ngƣời sản xuất và ên kinh tế cả nƣớc trong xu thế hội
nhập kinh tế thế giới.
1. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Trong bối cảnh các ngành nghề thủ công Nhật Bản đã bị suy thoái,
Nghị viện Nhật Bản năm 1974 đã ban hành Luật Phát triển nghề thủ công
truyền thống. Chính phủ Nhật bản đã hỗ trợ phong trào “mỗi làng một sản
phẩm” tại quận Otiba vào năm 1979 với mục đích khôi phục lại các ngành
nghề thủ công truyền thống. Có hai khẩu hiệu nổi tiếng là: “Nghĩ về tổng thể,
hành động ở địa phƣơng” và “Độc lập và sáng tạo”.
Trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện nhiều mô hình phát
triển khu vực nghề thủ công truyền thống điển hình ở vùng nông thôn Nhật
Bản, phong trào “mỗi làng một sản phẩm” ở tỉnh Otiba của Nhật Bản đã đƣợc
thu hút đƣợc sự quan tâm, học hỏi và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới
nhƣ Thái Lan, Trung Quốc, Cam-pu-chia, Indonesia. Theo ông Tadashi Ando,
Giám đốc điều hành của “Ủy ban xúc tiến phát triển quốc tế của phong trào
mỗi làng một sản phẩm” tỉnh Otiba, phong trào phát triển dựa trên 3 nguyên
tắc căn bản, đó là: thứ nhất: hành động địa phƣơng nhƣng suy nghĩ toàn cầu;
thứ hai: tự tin và sáng tạo và cuối cùng là phát triển nguồn nhân lực. Mỗi địa
phƣơng, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình lực chọn ra những
sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trƣng của địa phƣơng để phát triển.
Vấn đề quan trọng then chốt, luôn đƣợc quan tâm nhất dù ở Nhật Bản
hay Việt Nam, là việc tìm kiếm thị trƣờng cho các sản phẩm, trong đó yếu tố
chất lƣợng chính là yếu tố thành công của việc tiếp thị các sản phẩm của
phong trào. Yếu tố này không chỉ thể hiện ở bản thân chất lƣợng của hàng hóa
đƣợc kết tinh ở công nghệ chế biến và bảo quản đã đƣợc giám định kỹ lƣỡng
bởi các cơ quan chức năng cũng nhƣ bởi ý thức sản xuất hàng hóa chất lƣợng
cao trong hành vi của ngƣời Nhật Bản mà còn thể hiện ở nghệ thuật bao bì,
66
đóng gói, luôn bắt mắt và thuận tiện cho việc vận chuyển, sử dụng của ngƣời
tiêu dùng.
Phƣơng thức bán hàng ấn tƣợng – Ban lãnh đạo các hợp tác xã Oyama
thay mặt các thành viên của mình để tìm kiếm thị trƣờng, tổ chức giao hàng
đến các điểm tiêu thụ. Các sản phẩm của phong trào đƣợc trƣng bày riêng
một khu vực trong các khu mua sắm, các chuỗi siêu thị lớn của Nhật Bản và
bán với hình thức các hợp tác xã đƣa hàng đến giao cho siêu thị hàng ngày.
Bên cạnh việc tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của từng
ngƣời Nhật Bản, song hành với việc phát triển mỗi làng một nghề là việc phát
triển các trung tâm nghiên cứu và đào tạo trên địa bàn các khu vực. Trung tâm
nghiên cứu và đào tạo hàng tre thủ công của tỉnh Otiba có hai nhiệm vụ chính:
thứ nhất là nghiên cứu các công nghệ sản xuất, bảo quản nhằm tạo ra các sản
phẩm có hàm lƣợng chất xám cao nhƣ vải tre, than tre, các loại tre vuông, tre
màu tự nhiên; thứ hai, Trung tâm sẽ tiến hành đào tạo đội gnux nghệ nhân và
ngƣời thợ thủ công của Nhật Bản áp dụng các công nghệ đã đƣợc nghiên cứu
vào sản xuất thực tế.
Điểm khác biệt so với nhiều mô hình đào tạo ở các quốc gia khác,
Trung tâm nghiên cứu và đào tạo hàng tre thủ công của Otiba không tiến hành
đào tạo cho mọi loại mặt hàng tre mà chỉ tiến hành đào tạo kỹ thuật sản xuất
các mặt hàng tre thực sự là sản phẩm truyền thống gắn liền với lịch sử và văn
hóa lâu đời của địa phƣơng, đồng thời có những điều chỉnh cần thiết để phù
hợp với nhu cầu hiệ tại của khách hàng. Mỗi khóa học thƣờng đƣợc tổ chức
trong một năm với kinh phí do chính quyền tỉnh hỗ trợ.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, cƣờng độ cạnh tranh gay gắt, các chuyên
gia đào tạo tại Trung tâm cho nói rằng, để chống lại sức ép của các mặt hàng
đan lát giá rẻ đến từ các nƣớc nhƣ Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia, cách
duy nhất để hàng đan lát Nhật Bản tồn tại và giữ đƣợc bản sắc văn hóa là sự
kết tinh các giá trị văn hóa trong từng sản phẩm, là việc phát huy tính sáng tạo
67
của ngƣời thợ thủ công để sản cuất ra các mặt hàng độc đáo và có giá trị kinh
tế cao.
2. Kinh nghiệm của Thái Lan và một số nƣớc khác
a. Kinh nghiệm của Thái Lan
Phong trào “One Tambon, One Product” hay còn gọi là “Thai Tambon
Project” (tiếng Thái “Tambon nghĩa là “làng”), đƣợc phát động sau khi thủ
tƣớng Thái Lan đi thăm cửa hàng “One Village, One Product” tại Nhật Bản.
Trong chƣơng trình này, Chính phủ Thái Lan hỗ trợ để mỗi làng làm ra một
sản phẩm tiêu biểu, đặc trƣng và có chất lƣợng cao, chủ yếu hỗ trợ khâu tiếp
thị, xúc tiến bán hàng, huấn luyện và chuyển giao công nghệ cho nông dan.
Chính phủ Thái Lan cho biết, nhờ vào phong trào này mà nhiều ngƣời nƣớc
ngoài đã biết đến sản phẩm thủ công của Thái Lan.
b. Một số nước khác
Một số quốc gia học tập kinh nghiệm từ những phong trào với sự giúp đỡ
của Chính phủ hoặc các tổ chức Nhật Bản. Một số phong trào tiểu biểu nhƣ:
Thƣợng Hải, Trung Quốc có phong trào “mỗi phố một sản phẩm”
Whusan, Trung Quốc có tphong trào “mỗi làng một kho báu”.
Đông Java, Indonesia có phong trào “Back to village” (trở về làng quê)
Los Angeles, Mỹ có phong trào “One Village One Product Day” (Mỗi
ngày một sản phẩm)
Lousiana, Mỹ có phong trào “One Parish One Product” (Mỗi xứ (xã)
một sản phẩm)
Koh Dach, camphuchia có phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”.
3. Bài học kinh nghiệm từ một số nƣớc khu vực Châu Á về bảo tồn và phát
triển nghề, làng nghề
Nƣớc ta tuy ngành nghề thủ công phát triển khá đa dạng, phong phú
với nhiều sản phẩm độc đáo truyền thống. Nhƣng trong quá trình phát triển và
68
hội nhập đã nảy sinh nhiều tồn tại, sự phổ biến của làng nghề ngày nay và vai
trò trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn còn hạn chế.
Nhiều làng chƣa có nghề, nhiều nghề đã và có thể còn bị mai một và mất đi.
Việc triển khai Chƣơng trình “Mỗi làng một nghề” và học hỏi kinh nghiệm từ
các phong trào thành công có ý nghĩa quan trọng trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đẩy nhanh công nghiệp hóa-hiện đại hóa,
nông nghiệp, nông thôn.
Vấn đề bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống của Việt Nam
cần giải quyết 5 vấn đề sau: vấn đề xây dựng một hệ thống chính sách và luật
về nghề thủ công truyền thống, vấn đề nâng cao nhận thức của nhân dân ta
trong việc yêu mến và bảo vệ nghề thủ công truyền thống, tin dùng sản phẩm
thủ công truyền thống, vấn đề đẩy mạnh hợp tác giữa khu vực sản xuất-cơ
quan nghiên cứu và các trƣờng đại học trong việc cải tiến kỹ thuật – công
nghệ sản xuất và tìm kiếm nguyên liệu thay thế, bảo vệ môi trƣờng, vấn đề
thúc đẩy phong trào dùng hàng thủ công truyền thống trong cuộc sống sinh
hoạt hàng ngày và vấn đề cải tiến mẫu mã trên cơ sở phát huy những yếu tố
kỹ thuật truyền thống, sản xuất ra những mặt hàng mới vừa mang tính văn hóa
truyền thống, vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội hiện đại.
Từ kinh nghiệm về bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề của các nƣớc
nhƣ: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Inđônêxia, Malayxia,
Philippin, Việt Nam cần rút ra một số bài học để bảo tồn và phát triển nghề,
làng nghề Hà Nội nhƣ sau:
Muốn khôi phục và phát triển nghề, làng nghề có hiệu quả trƣớc hết
phải có sự hỗ trợ tích cực từ phía Nhà nƣớc bằng việc ban hành những
cơ chế chính sách, tạo môi trƣờng pháp lý thuận lợi cho sản xuất kinh
doanh, đồng thời hỗ trợ về tài chính và tiếp cận nguồn vốn, trong đó
cần có cơ chế, chính sách cho các hộ tại làng nghề vay vốn không cần
thế chấp.
69
Sản xuất các loại sản phẩm phải xuất phát từ nhu cầu thị trƣờng.
Mời các chuyên gia của những nƣớc nhập khẩu chính để tƣ vấn thiết
kế, cải tiến mẫu mã sản phẩm.
Tăng cƣờng công tác đào tạo và bồi dƣỡng nâng cao trình độ tay nghề
cho ngƣời lao động làng nghề thông qua các trung tâm đào tạo, các
viện nghiên cứu.
Áp dụng công nghệ mới, hiện đại để nâng cao năng suất và chất lƣợng
sản phẩm, hạn chế ô nhiễm môi trƣờng tại các làng nghề.
Tập trung xây dựng và phát triển các sản phẩm chủ lực, sản phẩm tiểu
thủ công nghiệp tiêu biểu.
Hỗ trợ một số doanh nghiệp làng nghề trở thành doanh nghiệp đủ
mạnh, thực hiện vai trò mở rộng thị trƣờng, là đầu mối thu gom sản
phẩm xuất khẩu.
Chú trọng phát triển các làng nghề truyền thống và có sản phẩm xuất
khẩu cho ngoại tệ cao.
Chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, mặt bằng sản
xuất…) tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất phát triển.
III. Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển làng lụa truyền thống Hà Đông
1. Các giải pháp bảo tồn làng lụa truyền thống Hà Đông
1.1. Quy hoạch làng nghề với khu sản xuất và khu nhà ở riêng biệt.
Ý nghĩa :
Hiện nay trên địa bàn làng lụa Vạn Phúc- Hà Đông việc sản xuất đều
theo quy mô hộ gia đình, vì thế xƣởng sản xuất và nhà ở thƣờng gắn liền với
nhau. Trong khi, diện tích cho một máy dệt rất lớn, nên việc quy hoạch khu
sản xuất và nhà ở riêng biệc tạo điều kiện thuân lợi cho việc quản lý công tác
sản xuất và quy mô sản xuất. Hơn nữa, việc quản lý môi trƣờng đƣợc thuận
lợi hơn, thuận tiện cho việc xây dựng các hệ thống xử lý rác thải, tránh đƣợc ô
nhiễm tiếng ồn.
70
Ngoài ra, khi hoạt động quy hoạch khu sản xuất và nhà ở đƣợc tiến hành thì
hoạt động sản xuất, cung ứng đƣợc thuận tiện cho cả ngƣời sản xuất và khách
hàng cũng nhƣ khách thăm quan trong việc dễ dàng tìm nơi mua hàng cũng
nhƣ thăm quan khu sản xuất. Hàng hóa đƣợc sản xuất tập trung, có sự quan
sát, học hỏi lẫn nhau. Các hộ gia đình, cũng nhƣ công nhân làm việc cùng
nhau có động lực và có sự giao thiệp với nhau trong sản xuất.
Kế hoạch đầu tư
- Kinh phí đầu khoảng 60- 70 tỷ đồng
- Khu vực tiến hành quy hoạch: khu vực rìa làng, bên cạnh dòng sông, với
diện tích 15 ha.
- Cách thức tiến hành: chia lô cho các hộ tự xây nhà xƣởng và lắp đặt máy
móc thiết bị.
- Cách thức phân chia lô đất: chia thành hai khu vực biệt lập giành cho sản
xuất và bán hàng. Còn ngôi làng sẽ là nơi đƣợc cải tạo thành khu du lịch.
Biện pháp tiến hành quy hoạch:
- Xây dựng nhà ở và khu sản xuất riêng biệt, đảm bảo đủ diện tích, thuận lợi
cho kinh doanh- sản xuất.
- Quy hoạch các khu đất và khu đật cho phù hợp mục đích sử dụng.
- Giao đất cho các hộ gia đình hoặc nhóm hộ thuê đất tại điểm tiểu thủ công
nghiệp của làng Nghề.
- Xây dựng hệ thống xử lý rác thải chung cho các khu sản xuất, hộ gia đình
riêng biệt để thuận tiện cho việc bảo vệ môi trƣờng, công tác xã hội.
- Tuyên truyền để giúp ngƣời dân nhận thức đầy đủ, thấy lợi ích của mình
và xã hội khi thực hiện tốt Đề án quy hoạch này.
Các điều kiện chính sách địa phương và nhà nước:
- UBND phƣờng Vạn Phúc cần có chính sách chung cho việc bảo tồn
làng nghề đối với từng hộ gia đình.
71
- Cách chính sách khuyến khích thuê, mua đất để sản xuất nhằm quy
hoạch đất sản xuất và nhà ở phƣờng.
- Chính sách nhằm hỗ trợ tài chính cho các hộ gia đình tích cực đầu tƣ
cho sản xuất nhƣ cho vay dài hạn với lãi suất thấp.
- Đẩy mạnh cải các hành chính, để giảm bớt các khó khăn cho doanh
nghiệp về các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp trong việc xây dựng khu xƣởng sản xuất hay các cửa hàng
trƣng bày sản phẩm.
Những thuận lợi và khó khăn đối với giải pháp này.
Thuận lợi
- Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng đƣợc nâng
cao, nhận thức ngày càng đầy đủ hơn.
- Chính quyền địa phƣơng luôn chú trọng và tích cực triển khai sâu, rộng
Đề án để đảm bảo đề án thực hiện đúng kế hoạch đề ra, chú trọng đến
phƣơng pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả.
Khó khăn
- Địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh, địa bàn xây dựng phức tạp, đa
dạng, trong khi công tác quản lý trật tự xây dựng công việc mới, công
việc có tính chất đặc thù, các hộ xây dựng bất kể thời gian nào.
- Cán bộ quản lý phụ trách nhiều mảng công việc khác nhau; trật tự xây
dựng, môi trƣờng hạ tầng kỹ thuật, giải phóng mặt bằng, kiêm công tác
bảo vệ dân phố. Cán bộ quản lý chƣa đƣợc đào tọa nghiệp vụ Thanh tra
xây dựng, trình độ rất hạn chế hoặc chuyên môn không phù hợp.
- Cán bộ quản lý hiện nay đƣợc tuyển dụng và ký hợp đồng hàng năm,
chế độ lƣơng thấp (hệ số 1,0) dó đó phần nào không an tâm công tác và
trách nhiệm đối với công việc còn hạn chế.
72
- Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc giao đất cho ngƣời dân
thực hiện còn khó khăn nên HTX dệt lụa chƣa xây dựng đƣợc phƣơng án di
chuyển các hộ sản xuất ra khu điểm tiểu thủ công nghiệp làng nghề, chƣa hoàn thiện phƣơng án đầu tƣ tại khu 5000 m2.
1.2 Đảm bảo quá trình từ sản xuất cho tới tiêu thụ thông suốt
Để đảm bảo quá trình sản xuất cho tới tiêu thụ đƣợc thông suốt, chúng
ta cần đảm bảo từ khâu đầu vào cho tới cung ứng sản phẩm đó là: nhập
nguyên liệu, công nghệ, lao động, nguồn vốn, sản xuất, và thị trƣờng tiêu thụ.
Ý nghĩa:
Khi sản xuất và tiêu thụ đƣợc tiến hành đồng bộ, các hộ gia đình không
phải lo lắng đầu ra hay đầu vào của sản phẩm, thì họ sẽ an tâm hơn trong quá
trình sản xuất.
Tạo động lực để các nghệ nhân cũng nhƣ công nhân chuyên môn hóa,
tập trung cho sản xuất và sáng tạo sản phẩm.
Tạo sự liên kết cộng đồng, hỗ trợ trong sản xuất với tinh thần cạnh
tranh lành mạnh.
Chí phí đầu vào và đầu ra giảm thiểu đáng kể vì vậy tạo giá thành rẻ
hơn, nguồn vốn kinh tế nhiều hơn, các hộ gia đình có cơ hội mở rộng sản
xuất.
Biện pháp tiến hành
- Thứ nhất là nguyên vật liệu
Cần xác định xem nguồn nhập nguyên liệu ở đâu, chất lƣợng sản phẩm
nhƣ thế nào, giá thành ra sao và có những chính sách ƣu đãi nhƣ thế nào. Sản
xuất muốn duy trì một cách thƣờng xuyên thì viêc chủ động nguồn nguyên
liệu là hết sức quan trọng dó đó cần phải:
73
o Các cơ sở sản xuất làng nghề cần phải tìm hiểu và nắm bắt kĩ các thông
tin về các nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản phẩm đó là tìm cơ sở,
vùng trong nƣớc bán tơ tằm lớn, và có kế hoạch thu mua phù hợp.
o Để tránh sự cạnh tranh trong việc mua nguyên liệu giữa các cơ sở sản
xuất lớn và cơ sở sản xuất nhỏ thì các cở sở sản xuất nên có kho dự trữ,
bảo quản nguyên liệu.
o Để sản phẩm có chất lƣợng cần có nơi cung cấp nguyên liệu chất lƣợng
tốt.
o Các hộ gia đình thu mua qua hiệp hội để mua với số lƣợng lớn, giá
thành rẻ hơn.
- Thứ hai là công nghệ
o Việc thay thế hay cải tiến máy dệt hiện nay các hộ gia đình đang sử
dụng là rất tốn kém và khó khăn, tuy nhiên các nghệ nhân hay nhƣng
công nhân trong nghề có thể ứng dụng khoa học kĩ thuật tiến tiến trong
khâu khác của quá trình dệt để tạo sản phẩm chất lƣợng tốt mà tốn ít
thời gian công sức hơn nhƣ trong quá trình khắc hoa văn, sáng tạo họa
tiết của sản phẩm.
- Thứ ba là nguồn lao động.
o Nghề thủ công nghiệp đòi hỏi nguồn lao động cao, hơn nữa thƣờng là
do truyền lại là chính tuy nhiên hiện nay xã hội phát triển thanh niên
trong làng thƣờng không thích làm công việc này nhiều nên họ thƣờng
tìm kiếm công việc khác bên ngoài xã hội để phát triển. Vì vậy cần có
các biện pháp nhằm khuyến khích lao động trẻ không đi làm xa, làm
nghề truyền thống có ý nghĩa nhƣ thế nào.
o Nguồn lao động trẻ thì thiếu kinh nghiệm, phải mất một thời gian để
đào tạo mới có kĩ năng và biết về nghề. Hầu hết lao động thƣờng đƣợc
đào tạo theo phƣơng pháp cầm tay chỉ việc, vừa học vừa làm, từ thế hệ
này truyền dạy thế hệ khác, do dó, để đào tạo đƣợc đội ngũ lao động
trƣớc hết phải giáo dục lòng yêu nghề cho thế hệ trẻ trong làng để họ
thấy đƣợc những giá trị văn hóa truyền thống quí báu của mỗi sản
74
phẩm để từ đó họ yêu làng, yêu nghề truyền thống của quê hƣơng và
làm việc vì niềm đam mê, lòng yêu nghề muốn giữ gìn và phát huy
nghề. Chỉ có vậy họ mới có tinh thần sáng tạo và tiếp thu tinh hoa văn
hóa của làng nghề.
o Kết hợp với trung tâm giáo dục thƣờng xuyên để giảng dạy đào tạo
những công nhân thiếu kiến thức văn hóa để họ hiểu biết rộng hơn,
cũng nhƣ đào tạo thế hệ lao động mới với trình độ tay nghề cao hơn.
o Thu hút những lao động có trình độ học vấn cao để họ có khả năng ứng
dụng khoa học- kĩ thuật và công nghệ vào việc sáng tạo sản phẩm mới.
o Đào tạo thu hút nguồn lao động có trình độ trong công tác quản lý làng
nghề, tạo điều kiện thu hút lao động trình độ cao nhƣ: môi trƣờng làm
việc năng động, cơ hội thăng tiến, chính sách đãi ngộ cao.
- Thứ ba là nguồn vốn
o Vốn là yếu tố quan trọng để duy trì đầu vào, vừa đàm bảo nguyên liệu,
công nghệ cũng nhƣ nhân lực vì vậy, chính quyền cần có chính sách hỗ
trợ nguồn vốn cho các hộ gia đình sản xuất nhƣ: cho vay lãi suất thấp,
thuế đất sản xuất thấp hoặc miễn thuế trong giai đoạn đầu…
o Thành lập các hiệp hội tín dụng huy động vốn từ các hội viên và cung
cấp tín dụng cho các hội viên khác trong những lúc gặp khó khăn.
- Thứ tƣ là thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm
o Cần tìm kiếm thị trƣờng tiêu thụ rộng lớn, lâu dài và đáng tin cậy. Vì
vậy hiệp hội làng nghề cũng nhƣ đảng ủy địa phƣơng cần hỗ trợ và có
chiến lƣợc để tìm kiếm thị trƣờng tiêu thụ cho các hộ sản xuất nhỏ lẻ.
o Chính sách giá ƣu đãi cho các đối tác uy tín thông qua sự hỗ trợ của
hiệp hội làng nghề và chính quyền địa phƣơng.
o Các cá nhân hoặc cơ sở sản xuất liên kết với nhau để có nguồn hàng
phong phú, đáp ứng nhu cầu khách hàng để mở rộng quy mô sản xuất.
o Tiến hành biện pháp quảng bá, xúc tiến sản phẩm để thƣơng hiệu lụa
Vạn Phúc đƣợc biết đến rộng rãi hơn, thu hút các đối tác gần xa và
khách du lịch trong và ngoài nƣớc nhƣ: tích cực tham gia các hội chợ,
75
triển lãm, các cuộc thi về lụa trong và ngoài khu vực Đông Nam Á.
Khi thƣơng hiệu đã đƣợc khẳng định, khách hàng sẽ tự tìm đến sản
phẩm lụa Vạn Phúc.
o Hiệp hội làng nghề đóng có thể đứng ra nhận các hợp đồng lớn để tìm
kiếm thị trƣờng cho các cơ sở sản xuất, hộ gia đình, là đầu mối liên kết
giữa cơ sở sản xuất và nhà ngƣời mua.
o Nhà nƣớc cần bảo hộ và giúp đỡ làng nghề trong việc hỗ trợ một phần
chi phí hoặc thuế xuất khẩu để phát triển xuất khẩu, mở rộng thị trƣờng
ra quốc tế.
1.3 Nâng cao chất lƣợng sản phẩm lụa
Ý nghĩa
Chất lƣợng sản phẩm là yếu tố cốt lõi hình thành lên thƣơng hiệu sản
phẩm vì vậy điều quan trọng để bảo tồn và duy trì đƣợc hình ảnh sản phẩm
lụa qua các thế hệ và bốn phƣơng là phải đảm bảo chất lƣợng sản phẩm tốt,
uy tín với ngƣời tiêu dùng.
Biện pháp
- Để nâng cao chất lƣợng sản phẩm cần có nguồn nguyên liệu chất lƣợng
tốt, vì vậy hiệp hội cũng nhƣ chính quyền làng nghề cần có hợp tác với
địa phƣơng cung ứng nguồn nguyên liệu tốt cho các cơ sở sản xuất
trong làng.
- Khuyến khích các nghệ nhân sáng tạo sản phẩm mới đặc sắc những
vẫn lƣu giữ nét đẹp cổ truyền của sản phẩm lụa, về các họa tiết, hoa
văn…
- Sản phẩm cần đa dạng hóa nhƣ sản xuất với nhiều kích cỡ khác nhau,
mẫu mã khác biệt, tạo nhiều sản phẩm hơn giành cho mọi lứa tuổi, giới
tính, các sản phẩm nhƣ quần áo cần đa dạng và kiểu cách hơn, nhiều
màu sắc hơn, để thu hút sự chú ý của khách hàng.
76
- Các sản phẩm lụa chất lụa mang đặc tính tốt: mát mùa hè, ấm mùa
động tuy nhiên nhiều sản phẩm từ nguồn gốc khác làm ảnh hƣởng đến
danh tiếng sản phẩm lụa Vạn Phúc, chính vì vậy ý thức của ngƣời dân
là điều quan trong để tạo lên thƣơng hiệu sản phẩm lụa. Các hộ gia
đình cần có ý thức tạo sản phẩm độc đáo, chất lƣợng tốt, không vì mục
đích lợi nhuận trƣớc mắt mà làm ảnh hƣởng đến thƣơng hiệu làng
nghề.
- Chính quyền cần có chính sách khuyến khích ngƣời sản xuất trong quá
trình sản xuất của họ nhƣ hỗ trợ về mặt đầu vào nguyên liệu sản xuất
hay đầu ra của sản phẩm đảm bảo.
- Khuyến khích các thanh niên trong, làng học hỏi sáng tạo, ứng dụng
công nghệ để sáng tạo các mẫu mã, hoa văn độc đáo, tạo sự khác biệt
cho sản phẩm.
1.3 Xây dựng chiến lƣợc marketing cho sản phẩm lụa
1.3.1 Thi trƣờng vải may mặc nói chung tại Việt Nam
Trên thị trƣờng vải cao cấp của các nƣớc phát triển, và thị trƣờng vải
bình dân hàng Trung Quốc thống trị thị phần vải cả nƣớc, còn vải nội thì
chiếm vị trí vô cùng khiêm tốn.
Lụa Vạn Phúc cũng đang bị cạnh tranh khốc liệt bởi lụa Trung Quốc tràn lan
và giá rẻ chỉ bằng nửa đang trà trộn với hàng lụa Vạn Phúc thật. Nguyên nhân
vải nội chƣa lên ngôi ngoài quản lý chƣa tốt về việc buôn lậu tràn lan, còn có
những nguyên nhân chủ quan. Lụa Vạn Phúc có thể cạnh tranh với hàng ngoại
không chỉ bằng giá bán mà còn cần phải phát triển hệ thống phân phối, nâng
cao chất lƣợng, quảng bá thƣơng hiệu.
Theo ông Nguyễn Đăng Cƣờng, phó tổng giám đốc công ty Á Châu cho biết:
nhu cầu tiêu dung loại vải lụa cao cấp, mang tính thiên nhiên trong ngƣời Việt
đang tang rất nhanh. Còn bà Trƣơng Thị Mai, giám đốc sản xuất của lụa Toàn
Thịnh cho biết: “Mức độ ƣa chuộng và tiêu thụ vải tơ lụa của ngƣời Việt Nam
tang gấp đôi so với năm trƣớc”. Thị trƣờng đã có và hứa hẹn khả năng tang
77
trƣởng trên 30% mỗi năm. Những nhãn hiệu tơ lụa Việt Nam nổi tiếng nhƣ
Vạn Phúc. Tân Châu vẫn sản xuất theo quy mô nhỏ của từng hộ gia đình trong
khu vực. Mẫu đẹp, màu sắc cập nhật thời trang, chất lƣợng vải ngày càng tốt
hơn…. Nhƣng vẫn chƣa thoát khỏi tình trạng chất lƣợng không đồng đều giữa
các lô hàng khác nhau của một cơ sở hay giữa các cơ sở với nhay. Và tơ cao
cấp chƣa đƣợc đảm bảo đặc tính “hoàn toàn tự nhiên” đã làm giảm sức cạnh
tranh bên cạnh lụa nhập từ nƣớc ngoài.
1.3.2 Thị hiếu ngƣời tiêu dùng
a. Thị trƣờng trong nƣớc
Ngƣời Việt Nam mấy ai không biết tới lụa Vạn Phúc là một trong
những thức lụa bậc nhất của Việt Nam về chất lƣợng cũng nhƣ độ tinh xảo,
hoa văn của lụa. Nhu cầu tiêu dùng lụa của ngƣời trong nƣớc là may mặc. Với
đặc tính vốn có của lụa, mát mẻ, mềm mại, tôn thêm vẻ sang trọng của ngƣời
mặc. Lụa Vạn Phúc khá đƣợc ƣu chuộng khi lựa chọn làm vải để may trang
phục. Tuy nhiên, chỉ một số ít ngƣời dân tiêu dùng lụa trong tổng số thị phần
may mặc của Việt Nam, bởi hai lí do. Thứ nhất, ngay tới ngƣời Việt Nam
cũng chƣa quen với việc mặc lụa. Bởi lụa cũng khá khó may sản phẩm. Thứ
hai, giá một mét vải lụa khá đắt so với vải thông thƣờng, nên ít ngƣời có điều
kiện may quần áo bằng lụa.
Bên cạnh đó, một lƣợng vải ngoại quốc khá lớn tồn tại ở thị trƣờng
Việt Nam, với mẫu mã đa dạng, giá rẻ phù hợp với mức thu nhập trung bình ở
Việt Nam, đã dễ dàng chiếm lĩnh thị trƣờng và lấn át hàng nội nói chung và
lụa Vạn Phúc nổi tiếng nói riêng.
Tuy nhiên, nhìn nhận trên góc độ tổng thể, thị trƣờng Việt Nam vẫn là
1 thị trƣờng tiềm năng tiêu thụ lụa. Bởi đời sống ngƣời dân đang ngày một cải
thiện, nên giá thành không còn quá quan trọng nhƣ trƣớc đây. Thêm vào đó, ý
thức tiêu dùng hàng nội chất lƣợng cao ngày càng đƣợc nâng cao. Cùng với
sự cải tiến trong sản xuất, chất lƣợng mẫu mã của lụa Vạn Phúc ngày càng
đƣợc cải thiện. Do đó, ta hoàn toàn có thể tự tin lấy lại vị thế tại sân nhà.
78
b. Thị trƣờng nƣớc ngoài
Hiện nay, nhu cầu chính của ngƣời nƣớc ngoài về lụa Vạn Phúc chủ
yếu là dùng làm quà lƣu niệm. Còn mục đích làm hàng may mặc chƣa cao.
Bởi lẽ, hình ảnh áo dài lụa Việt Nam thì khá quen thuộc với ngƣời nƣớc
ngoài, nhƣng là hàng may mặc thì chƣa phổ biến. Họ có nhiều sự lựa chọn, và
những tiếp cận của các lụa khác trên thế giới mạnh hơn, gần gũi với họ hơn.
Chính vì vậy, lƣợng hàng tiêu thụ lụa bởi ngƣời nƣớc ngoài, hay chính là xuất
khẩu lụa ra nƣớc ngoài chƣa cao, nhƣng không phải là không có tiềm năng.
Chỉ do chúng ta chƣa có một chiến lƣợc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ra nƣớc
ngoài. Đặc biệt là khu vực EU, hay Hoa Kì, đó là những thị trƣờng mà nƣớc
ta xuất khẩu hàng hóa sang rất lớn, đặc biệt là về may mặc
c. Thị trƣờng tiềm năng
Ngoài những khu vực là đối tác chiến lƣợc. Có những thị trƣờng tiềm
năng nhƣ là các nƣớc châu Á khác, hay Nga, và các nƣớc Châu Phi mới nổi.
Thêm vào đó, không chỉ lụa với màu sắc nhƣ trƣớc, nhiều màu sắc tƣơi mới,
mẫu mã trẻ trung thích hợp với giới trẻ, và nhiều loại đối tƣợng khác.
1.3.3 Mô hình 4P
1. Lựa chọn mô hình
Mô hình 4P là mô hình cổ điển nhất trong marketing. Đây là nền tảng
của hầu hết các chiến lƣợc, giải pháp hoặc phân tích đánh giá đối với một
chiến lƣợc marketing hiện hữu. Hầu hết các giáo trình marketing hiện nay đều
sử dụng mô hình này làm nền tảng để đƣa ra những quyết định nhằm hoạch
định chiến lƣợc hay đánh giá hoạt động marketing
+ Sản phẩm (Product): Quản lý các yếu tố của sản phẩm bao gồm lập kế
hoạch và phát triển đúng nhwunxg mặt hàng/dịch vụ mà công ty sẽ đƣa ra
thị trƣờng.
+ Giá cả(Price): Xác định đúng cơ sở giá cho các sản phẩm
79
+ Phân phối ( Place): Chọn lựa và quản lý các kênh thƣơng mại để sản
phẩm chiếm lĩnh thị trƣờng mục tiêu đúng thời điểm và phát triển hệ thống
logistic và vận chuyển sản phẩm.
+ Xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh (Promotion): Giới thiệu và thuyết phục thị
trƣờng dùng sản phẩm của doanh nghiệp.
1.3.4 Áp dụng mô hình vào lụa Vạn Phúc
Sản phẩm:
Thuận lợi: Mặt hàng đã có thị trƣờng, có thƣơng hiệu nhiều ngƣời biết đến.
Sản phẩm có chất lƣợng tốt, bền đẹp.
Khó khăn: Mẫu mã còn hạn chế, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của nhiều đối
tƣợng
Kế hoạch:
- Nguyên liệu đầu vào: Tăng nuôi tằm lấy tơ ở các vùng lân cận, cung cấp cho
Vạn Phúc. Chính sách khuyến khích của chính quyền địa phƣơng các cấp,
cùng với thu mua có kế hoạch, có tổ chức. Nâng cao chất lƣợng tằm để lấy
đƣợc tơ cao cấp dệt lụa.
- Mẫu mã: Tích cực cải thiện các mẫu vẽ kĩ thuật để sản xuất ra các mẫu có
hoa văn đa dạng hơn. Tổ chức các cuộc thi về sản phẩm, khuyến khích các
nghệ nhân không ngừng sáng tạo. Không ngừng nghiên cứu về các mẫu thiết
kế cho các sản phẩm lụa bắt mắt đáp ứng thị hiếu ngƣời tiêu dùng và hợp mốt
thời trang.
Hơn thế, mẫu hoa vân cực kì nổi tiếng ở Vạn Phúc, mới đƣợc khôi phục lại,
cần phổ biến rộng rãi cho ngƣời làng nghề để tiếp tục nối truyền. Mẫu hoa
độc nhất này chính là nét độc nhất, vô cùng khác biệt của làng, vì vậy cần
phát huy.
+ Lao động: Đào tạo nâng cao tay nghề, để có thể tạo ra những sản phẩm
thuần nhuyễn, chất lƣợng tốt hơn, bằng những buổi chia sẻ bí quyết làm nghề
80
của nhũng nghệ nhân kì cựu vẫn nồng nàn tình yêu với nghề, hay những buổi
đào tạo về những kĩ thuật, phƣơng pháp dệt lụa mới học hỏi từ những khu vực
khác, hay từ các nƣớc trên thế giới.
+ Thƣơng hiệu: Có những nhận diện hàng chính hãng ở sản phẩm đƣợc coi
nhƣ tem chống hàng giả, bằng cách thuê những nét hoa văn ở đầu tấm vải độc
nhất, chỉ có ở lụa Vạn Phúc
Giá cả
- Tiến hành phân khúc thị trƣờng về giá dựa theo tiêu chí chất lƣợng sản
phẩm: Hàng cao cấp và hàng bình dân.
Đối với hàng cao cấp, chất lƣợng tơ cao cấp, hoa văn tinh xảo hơn, mũi thêu
dày hơn thích hợp với ngƣời có thu nhập từ khá trở lên, đƣợc bán với mức giá
cao.
Đối với hàng bình dân, mức giá sẽ thấp hơn để nhiều ngƣời có khả năng tiêu
dùng đƣợc
- Tuy nhiên, cố gắng giảm giá để có thể cạnh tranh tốt hơn, bằng một số biện
pháp:
+ Nguyên liệu đầu vào: Một nguyên nhân chính khiến giá lụa khá cao bởi giá
tơ – nguyên liệu dệt nên lụa ngày càng tăng, bởi vì số lƣợng hộ dân nuôi tằm
lấy dâu ngày giảm. Khuyến khích, hỗ trợ ngƣời dân trồng dâu, nuôi tằm để
gia tăng sản lƣợng tơ. Đƣa dâu về những vùng đất mới, canh tác thêm những
vụ mùa xen kẽ, tạo thêm thu nhập cho ngƣời nông dân. Chăm sóc tằm, và
chọn phƣơng pháp kén tơ tạo ra lƣợng tơ tăng nhiều hơn.
+ Kĩ thuật: Cải tiến máy móc để tăng năng suất, năng suất lao động tăng thì
giá thành sẽ giảm. Máy móc là máy bán công nghiệp, nhiều máy đã cũ và
năng suất kém, cần thay thế sửa chữa để tăng năng suất.
81
+ Thợ thủ công: Nâng cao năng suất, để giá thành có thể giảm, bằng cách học
hỏi các phƣơng pháp mới dệt nhanh hơn.
Phân phối
Phân phối truyền thống
a. Thị trƣờng nội địa:
- Tiêu thụ tại chỗ: Đầu tƣ nâng cao hệ thống các gian hàng ngay tại làng Vạn
Phúc để giới thiệu, quảng bá và bán hàng trực tiếp. Hiệp hội, và Ủy ban làng
nghề Vạn Phúc cần tổ chức các buổi tuyên truyền phổ biến nhằm nâng cao ý
thức của ngƣời dân trong vùng về giá trị văn hóa cũng nhƣ kinh tế của làng
nghề.
Tích cực đem lụa đi những hội chợ để không những quảng bá hình ảnh về sản
phẩm mà còn có thể bán hàng ngay tại hội chơ.
- Tiêu thụ từ xa: Tạo ra nhiều kênh phân phối rộng mở khác. Tạo chuỗi hệ
thống cung cấp nguồn hàng thƣờng xuyên. Với các đầu mối tại các chợ cao
cấp, siêu thị, để bán vải nhƣ tại phố Cổ Hà Nội. Ngoài ra, còn có thể cung cấp
cho các công ty may mặc để tiến hành sản xuất trang phục.
Ngoài ra, thành lập các gian hàng bán lụa Vạn Phúc chính hãng khắp các địa
phƣơng. Gian hàng sẽ đƣợc cấp giấy chứng nhận thành lập. Các sản phẩm là
sản phẩm chính gốc tự Vạn Phúc có những kí hiệu để phân biệt với hàng giả.
Khi khách hàng tới đây mua, sẽ không bị lo ngại bởi chất lƣợng lụa
b. Thị trƣờng nƣớc ngoài
Các hộ kinh doanh cá thể cung cấp nguồn hàng cho công ty chuyên xuất khẩu
lụa Vạn Phúc sang các thị trƣờng nƣớc ngoài. Bởi những công ty này có kinh
nghiệm, khả năng để tiến hành các thủ tục xuất khẩu, cũng nhƣ am hiểu về thị
trƣờng quốc tế, nên sẽ dễ dàng hơn trong việc cung cấp tại thị trƣờng đó.
82
Các hộ kinh doanh sẽ đƣợc cung cấp thông tin về sở thích, thị hiếu của riêng
những bộ phận khách hàng để tiến hành tạo ra những sản phẩm phù hợp với
nhu cầu của họ.
Phân phối hiện đại
- Công nghệ thông tin là một bƣớc tiến nhảy vọt, thay đổi diện mạo thế giới
rất nhiều. Thƣơng mại điện tử ngày càng trở nên phổ biến và vô cùng hữu ích
so với việc bán hàng truyền thống.
Thành lập một website bán hàng trên internet là một điều mà lụa Vạn Phúc
cũng sẽ dần tiến đến. Với internet, mọi thứ sẽ không bị giới hạn bởi không
gian và thời gian. Dù là ngƣời tiêu dùng trong nƣớc hay nƣớc ngoài, đều có
thể đặt hàng trên mạng. Hệ thống giao nhận đảm nhận cả việc giao hàng quốc
tế.
Tất cả các sản phẩm, hình ảnh, giá cả và thông tin đều đƣợc hiển thị rõ tên
website bằng tiếng việt và tiếng anh.
Website đƣợc thiết kế sáng sủa, dễ nhìn đẹp mắt. Cách thức mua hàng dễ
dàng. Những điều khoản về giao nhận và thanh toán cần chỉnh chu và cụ thể,
tạo điều kiện cho ngƣời mua hàng, tránh những phát sinh sau này.
- Sản phẩm lụa trên website
Dù là phân phối theo kênh nào thì sản phẩm lụa đều chỉ là một - sản phẩm lụa
Vạn Phúc chính gốc.
Ban quản trị website sẽ đƣợc sự hỗ trợ của làng nghề, và sự hợp tác của các
hộ sản xuất. Họ sẽ cung ứng hàng cho website, và nhờ bán hàng qua kênh
website với một mức giá thấp hơn mức giá thông thƣờng đƣợc ghi trên
website. Nhƣ vậy, ngƣời làm nghề sẽ rất có lợi, vì họ sẽ có thêm một kênh
phân phối hàng rất thuận tiện qua kênh thƣơng mại điện tử. Còn ban quản trị
83
website sẽ hƣởng lợi từ dịch vụ vận chuyển và một khoản chênh lệch trong
mức cho phép của giá bán sản phẩm.
Nhƣ vậy, hiện nay chƣa thấy xuất hiện một trang web bán lụa Vạn Phúc chính
hãng trên mạng, nhƣng đây chắc chắn là một hƣớng đi đúng đắn sự phát triển
của làng lụa khi hội nhập kinh tế thế giới.
Xúc tiến
Xây dựng hệ thống nhận diện
a. Hệ thống truyền thông thị giác của sản phẩm hầu nhƣ là không có. Hệ
thống logo, slogan hầu nhƣ thƣờng không tập trung, thống nhất vì
thƣờng là do các doanh nghiệp tƣ nhân tự xây dựng.
Trang web luavanphuc.com đƣợc sáng lập bởi những ngƣời tự phát có tình
yêu với lụa Vạn Phúc, và có mong muốn lụa Vạn Phúc không bị mai một và
ngày càng phát triển hơn nữa. Trang web ra đời với mục tiêu ban đầu là phi
lợi nhuận giới thiệu các cửa hàng bán lụa uy tín, chất lƣợng.
Tuy nhiên, việc thiết kế hệ thống nhận diện của lụa Vạn Phúc còn đang rất rời
rạc và nhỏ lẻ. Chỉ có một số nhỏ các doanh nghiệp, cửa hàng tƣ nhân có thể
làm đƣợc tuy nhiên cũng chƣa đạt tới mức nghệ thuật và truyền tải đƣợc hết
bản sắc của thƣơng hiệu lụa Vạn Phúc.
b. Xây dựng bản sắc hệ thống nhận diện thƣơng hiệu
+ Bản sắc thƣơng hiệu
- Lựa chọn yếu tố khác biệt hóa:
Hiện nay, trên thị trƣờng xuất hiện khá nhiều các thƣơng hiệu lụa. Chính vì
vậy, để có thể khẳng định đƣợc thƣơng hiệu lụa Vạn Phúc thì việc xác định
yếu tố khác biệt hóa là rất quan trọng. Và chất lƣợng sản phẩm chính là sự
khác biệt hóa lớn nhất, rõ nét nhất. Lụa Vạn Phúc bền, đẹp, khoắc lên ngƣời
84
có cảm giác mát mẻ, nhẹ nhàng mà mềm mại, mềm mỏng, nhẹ thoáng mát
nhƣng không nhăn, rạn, phai màu qua thời gian. Thêm đó, dáng vẻ thanh tao,
sang trọng quý phái, tôn them vẻ đẹp của ngƣời mặc. Đây là yếu tố quan trọng
giúp cho việc xây dựng hệ thống nhận diện thƣơng hiệu cũng nhƣ trong việc
cạnh tranh với các sản phẩm lụa khác.
- Lựa chọn tính cách cho thƣơng hiệu: Sang trọng, hiện đại nhƣng vẫn bình
dân với nét đẹp văn hóa truyền thống.
Tập trung xây dựng hình ảnh một thƣơng hiệu tơ lụa có chất lƣợng sản phẩm
rất cao, mẫu mã đa dạng, phong phú. Thể hiện sản phẩm vải lụa đẳng cấp
sang trọng, hiện đại nhƣng không kém phần giản dị, truyền thống/ Tất cả phải
thể hiện đƣợc sự khác biệt, thể hiện đƣợc giá trị lụa Vạn Phúc so với các sản
phẩm lụa khác.
+ Xây dựng câu định vị
“Lụa Vạn Phúc, dệt truyền thống, bền đẹp tƣơng lai” hay “Never forget you”
Lụa Vạn Phúc vừa là những tinh hoa, nét đẹp của văn hóa, đƣợc dệt nên từ
những truyền thống tốt đẹp ngàn năm lịch sử, vừa khẳng định đƣợc sự chất
lƣợng, đẳng cấp, sự tồn tại mãi với thời gian.
Lƣu giữ và duy trì hệ thống nhận diện
Xây dụng một quyển catalog hƣớng dẫn về thƣơng hiệu lụa Vạn Phúc bao
gồm:
- Tên thƣơng hiệu và mẫu logo của thƣơng hiệu lụa Vạn Phúc. Có nhƣ vậy, sẽ
tạo đƣợc sự nhận biết ban đầu và ấn tƣợng cho những ngƣời đến với làng lụa
Vạn Phúc. Những yếu tố về thƣơng hiệu này phải đúng với những mẫu thiết
kế đƣợc đƣa ra thị trƣờng và đƣợc đăng kí bản quyền.
85
- Miêu tả đặc tính của sản phẩm và các yếu tố liên quan đến đặc tính của sản
phẩm nhƣ kinh nghiệm chọn lụa tốt và sử dụng lụa nhƣ thế nào cho đúng?
Cách phân biệt lụa thật và lụa giả?
- Các yếu tố bên trong hệ thống nhận diện thƣơng hiệu.
Xây dựng các tài liệu chỉ dẫn cho từng phƣơng tiện truyền thông:
- Với các kênh truyền hình, internet, và các báo chí: Các yếu tố nhƣ logo hình
ảnh địa chỉ, đều phải thống nhất và đƣợc chỉ dẫn rõ rang nhằm tạo đƣợc sự
nhận biết thống nhất và đúng đắn cho khác hàng, tránh đƣợc sai sót, nhầm lẫn
về hình ảnh thƣơng hiệu khi mua hàng.
- Tài liệu đƣợc in ấn và lƣu trữ dƣới dạng file cứng và file mềm để có thể lƣu
giữ và bảo quản.
2. Các giải pháp phát triển
2.1 Nâng cao phát triển du lịch làng nghề
Ngành du lịch là cầu nối giúp khám phá các giá trị văn hóa, tinh thần
của một quốc gia. Du lịch tại các làng nghề truyền thống, mang nặng các giá
trị văn hóa tinh thần, đang đƣợ các quốc gia khai thác, nhất là các quốc gia
đang phát triển. Hiện nay, khách du lịch có xu hƣớng thiên về loại hình du
lịch văn hóa. Mô hình chung cho du lịch làng nghề ở các quốc gia là cho phép
khách du lịch đƣợc thăm quan khu vực sản xuất, nơi họ có thể cảm nhận đƣợc
“gía trị văn hóa truyền thống” trong mỗi sản phẩm đƣợc sản xuất ra. Khách du
lịch cũng có cơ hội đƣợc tham gia vào quá trình sản xuất để tự sáng tạo các
sản phẩm cho riêng mình, nhờ đó mang lại cho họ nhiều kinh nghiệm, khám
phá thú vị trong chuyến du lịch. Du lịch làng nghề đóng vai trò quan trọng
trong việc phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam nói chung và làng lụa
Vạn Phúc nói riêng. Để thúc đẩy du lịch làng nghề phát triển mạnh mẽ hơn
nữa cần có sự phối hợp và liên kết giữa chính quyền, ngƣời dân địa phƣơng
và các công ty lữ khách
86
2.1.1 Về phía chính quyền, cơ quan lãnh đạo địa phƣơng
Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch
Hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch là nền tảng cho sự phát triển du lịch tại
làng nghề Vạn Phúc. Hiện nay, làng Vạn Phúc đang trong quá trình trung tu
lại hệ thống đƣờng sá giao thông, điện nƣớc cũng nhƣ nhà truyền thống – nơi
trƣng bày các sản phẩm làng nghề, các cửa hàng. Tuy nhiên, đƣờng sá tại làng
Vạn Phúc vẫn chƣa đƣợc xây dựng đồng bộ, vẫn còn nhiều đoạn đƣờng là
đƣờng đất; hệ thống nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn vẫn chƣa có, chƣa có hệ
thống bãi đỗ xe. Chính vì vậy, chính quyền địa phƣơng cần có những kiến
nghị lên các cấp lãnh đạo cao hơn để đƣợc hỗ trợ vốn để hoàn thiện và xây
dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch
Xây dựng các dịch vụ ăn uống hấp dẫn, đảm bảo an toàn vệ sinh thực
phẩm
Du lịch là một chuỗi dịch vụ tổng hợp. Thế nhƣng, làng Vạn Phúc mới
tạm thời đáp ứng đƣợc khâu đi đâu, xem gì, mua gì; còn ăn gì, nghỉ ngơi ở
đâu thì chƣa đƣợc chú trọng. Ông Vũ Quyết Thắng, Giám đốc Công ty CP
Đầu tƣ vận tải du lịch Hoàng Việt cho biết, khách hàng của đơn vị này từng phản ánh việc khó tìm đƣợc địa điểm ăn thích hợp trong làng Vạn Phúc. 2
Các địa điểm ăn uống tại làng Vạn Phúc chủ yếu vẫn là để phục vụ
ngƣời dân trong làng với những đồ ăn thiết yếu hàng ngày. Nhóm nghiên cứu
đề xuất chính quyền địa phƣơng cần thiết phải xây dựng các cửa hàng ăn uống
đảm bảo chất lƣợng, vệ sinh an toàn thực phẩm và phục vụ những món ăn mà
ngƣời nƣớc ngoài thích. Bên cạnh đó, có thể xây dựng thêm các cửa hàng hay
một khu riêng biệt bán các món ăn đặc sắc tại làng nghề. Đây có thể vừa là
một điểm tham quan trong làng nghề cũng vừa làm cho môi trƣờng du lịch
2 http://thethaovietnam.vn/du-lich/lang-nghe/20130/Huong-phat-trien-cho-lang-nghe-Van-Phuc- 280002/
87
làng nghề trở nên sống động, đồng thời giới thiệu tới khách du lịch quốc tế
nét văn hóa cộng đồng của ngƣời Việt vốn đã tồn tại lâu đời.
Tuyên truyền, tập huấn, trang bị kiến thức cho người làng nghề về du
lịch
Chính quyền địa phƣơng cần tổ chức các buổi sinh hoạt thƣờng xuyên
để truyền dạy cho ngƣời dân những kiến thức liên quan tới du lịch, giúp ngƣời
dân nhận thức rõ vai trò vị trí của du lịch làng nghề, cách giới thiệu sản phẩm
làng nghề tới khách du lịch, cách marketing cho sản phẩm đó và đặc biệt cách
giao tiếp, thái độ của ngƣời dân với khách du lịch. Điều này đặc biệt quan
trọng bởi vì sự thân thiện, nhiệt tình của ngƣời dân sẽ tạo sự hài lòng, thích
thú cho khách du lịch.
Thƣờng xuyên tổ chức các cuộc hội thảo có sự tham gia của các
chuyên gia, các trƣờng đại học cho ngƣời dân trong làng, đặc biệt là các hộ
sản xuất lớn. Nội dung của cuộc hội thảo có thể đề cập tới những lợi ích của
du lịch, vai trò của bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống, những rủi ro có thể
nếu chỉ tập trung vào sản xuất hàng thủ công trong một xã hội công nghiệp…
Đẩy mạnh công tác xúc tiến và khuyến khích phát triển du lịch làng
nghề
Tiếp tục duy trì các lễ hội truyền thống của làng nghề, ngày hội làng
nghề và tham gia vào các hội chợ triển lãm trong và ngoài nƣớc vì đây chính
là những cơ hội để Vạn Phúc quảng bá hình ảnh làng nghề, giá trị văn hóa lâu
đời tới khách du lịch trong và ngoài nƣớc.
Chính quyền địa phƣơng cần xây dựng một đội ngũ riêng để cập nhật
những thông tin về làng nghề Vạn Phúc trên các cổng thông tin của Bộ văn
hóa thể thao và du lịch hay các cổng thông tin làng nghề truyền thống Việt
Nam, Sở Văn hóa du lịch Hà Nội hay những thông tin về hội chợ, triển lãm về
sản phẩm làng nghề...Điều này sẽ tạo sự chủ động trong việc đăng ký tham
88
gia các hội chợ hay triển lãm liên quan tới làng nghề, có đƣợc những kế
hoạch, định hƣớng rõ ràng.
Liên kết với các làng nghề truyền thống khác để học hỏi và trao đổi
kinh nghiệm và cùng phát triển du lịch làng nghề
Theo số liệu của Sở Công Thƣơng Hà Nội, toàn thành phố hiện có
1.350 làng nghề, trong số đó có khoảng 200 làng nghề truyền thống và có đến
¼ trong số các làng nghề truyền thống đó có tuổi đời trên 100 năm đƣợc kết
tinh biết bao giá trị văn hóa, lịch sử của đất nghìn năm văn hiến kinh kỳ
Thăng Long. Chính quyền địa phƣơng nên tổ chức các chuyến đi khảo sát
thực tế trao đổi, học hỏi kinh nghiệm của các làng nghề khác đã thành công
trong việc phát triển hoạt động du lịch ở làng nghề, có thể kể tới làng gốm Bát
Tràng.
2.1.2 Về phía các công ty du lich, các công ty lữ hành
Công ty du lịch là đầu mối quan trọng đƣa du khách đến với các làng
nghề truyền thống. Họ là những ngƣời tiếp xúc trực tiếp với khách du lịch, họ
tạo ra các chƣơng trình du lịch, quảng bá và thu hút khách tới làng nghề.
Xây dựng và phát triển các tour du lịch dài ngày
Việc xây dựng các tour du lịch dài ngày tạo điều kiện cho khách du
lịch có thể ở lại tại gia đình ngƣời dân ở các làng nghề, để giao lƣu hiểu sâu
sắc hơn về đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân làng nghề. Mô hình
du lịch này hƣớng tới việc thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong việc tìm
kiếm sự thoải mái về tinh thần, cân bằng trạng thái tâm lý, khám phá những
giá trị đích thực của cuộc sống
Chủ động trong việc liên hệ với chính quyền địa phương làng nghề về
những thông tin liên quan tới làng nghề
89
Việc xây dựng các tuyến du lịch, các chƣơng trình du lịch, giới thiệu
nét đặc sắc của làng nghề truyền thống đòi hỏi sự phối hợp giữa công ty lữ
hàng và làng nghề. Các công ty lữ hành cần tiến hành khảo sát và xây dựng
tour trên cơ sở tham khảo ý kiến của chính những ngƣời quản lý làng nghề.
Ngoài ra, đối với mỗi đối tƣợng khách du lịch khác nhau, công ty cũng phải
giúp cho các làng nghề hiểu rõ hơn những yếu tố nào sẽ mang lại sự hài lòng
về tinh thần cho du khách. Sau những cuộc khảo sát, điều tra hay lấy thông tin
từ làng nghề, công ty lữ hành sẽ nắm chắc đƣợc những thông tin về làng nghề
nhƣ lịch sử hình thành, quy trình sản xuất lụa, các loại lụa. Nhờ đó, các công
ty du lịch có thể đƣa trƣớc những nội dung này cho khách du lịch để kích
thích sự tò mò của họ, đồng thời cũng giúp cho các công ty lữ hành chủ động
hơn khi làm hƣớng dẫn viên cho khách du lịch của mình.
Mô hình quản lý du lịch làng nghề
Cơ quan quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc đinh hƣớng các
hoạt động nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề
Để tổ chức quản lý làng nghề du lịch một cách hiệu quả, mô hình công ty
trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và công ty cổ phần (CP) cần đƣợc chú trọng và
ƣu tiên phát triển. Với mô hình tổ chức quản lý này, các hoạt động phối hợp
sẽ trở nên dễ dàng hơn do năng lực đàm phán, năng lực quản lý đƣợc cải thiện
hơn các mô hình hộ gia đình hay hợp tác xã. Với mô hình công ty TNHH hay
công ty CP, làng nghề có điều kiện giải quyết đƣợc tình trạng thiếu vốn và
công nghệ thông qua thu hút vốn đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, hay tổ chức các
hình thức liên doanh, liên kết trong sản xuất và cung cấp dịch vụ du lịch.
Ngoài ra, công tác đào tạo nhân lực, tìm kiếm thị trƣờng đầu ra, tiếp cận với
khách hàng mục tiêu cũng sẽ đƣợc giải quyết một cách hiệu quả hơn so với
các hình thức tổ chức quản lý khác.
Cơ chế quản lý làng nghề
90
Các bên chủ yếu tham gia vào cơ chế quản lý làng nghề Vạn Phúc hiện
nay là các cấp chính quyền từ trung ƣơng đến địa phƣơng đặc biệt là các
ngành văn hóa và du lịch; các doanh nghiệp sản xuất, hộ gia đình, hợp tác xã,
ngƣời dân tại làng nghề; các doanh nghiệp và tổ chức lữ hành, chủ thể thiết kế
các tour du lịch và khách du lịch. Để các bên tham gia vào mô hình phát huy
chủ động các vai trò của mình cũng nhƣ có sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả với
các chủ thể khác, cơ chế quản lý làng nghề du lịch có sự phân định rõ trách
nhiệm, quyền hạn và cơ chế phối kết hợp của các bên tham gia nhằm phát huy
tối đa những tiềm năng du lịch của làng nghề. Ngoài ra, vai trò của Hiệp hội
làng nghề Vạn Phúc cũng cần đƣợc phát huy trong quá trình xây dựng và phát
triển làng nghề du lịch.
2.2 Đào tạo nguồn nhân lực trẻ biết nghề và tâm huyết với nghề và nâng cao
chất lƣợng quản lý của hiệp hội làng nghề
2.2.1 Mở rộng ngành nghề lao động, thu hút nguồn nhân lực trẻ
Trong bất kỳ lĩnh vực nào, con ngƣời bao giờ cũng là trung tâm, là yếu
tố quyết định sự thành, bại của mọi công việc. Theo khảo sát của nhóm
nghiên cứu, trong 300 đƣợc khảo sát có 76 hộ còn làm nghề dệt và tất cả các
hộ những ngƣời đảm nhận chính việc sản xuất ra lụa là ông bà và bố mẹ.
Hiện nay, nguồn nhân lực trẻ làm nghề lụa đang rất ít tại Vạn Phúc. Một trong
những nguyên nhân là vì ông bà, bố mẹ không muốn truyền lại nghề lụa cho
con cháu. Kết quả điều tra của nhóm về vấn đề này đƣợc thể hiện dƣới đây;
Hình 2: Nguyên nhân mà thế hệ cha ông không muốn con cái họ tiếp nối nghề
dệt lụa truyền thống
91
23.33%
Nghề này vất vả, thu nhập thấp
Hại sức khỏe
10.00%
66.67%
Khác
Nguồn: tự tổng hợp từ phiếu điều tra
Trong 300 hộ dân đƣợc điều tra tại làng Vạn Phúc, có 200 hộ trả lời rằng nghề
này vất vả, thu nhập thấp, chiếm 66.67% nên không muốn truyền lại nghề cho
con cháu, 30 hộ gia đình đồng tình với lý do hại sức khỏe, chiếm 10% và còn
lại là lí do khác chiếm 23.33%
Nguồn nhân lực trẻ với trình độ cao thƣờng bị thu hút bởi các công việc,
ngành nghề khác trên thị trƣờng. Tại các làng nghề truyền thống nói chung và
làng Vạn Phúc nói riêng, ngƣời trẻ phần lớn làm những công việc khác mà
không mặn mà gì với nghề truyền thống của làng. Do vậy, chính quyền địa
phƣơng cần đa đạng hóa ngành nghề liên quan tới nghề lụa, phù hợp với
những lĩnh vực mà giới trẻ thích thú hiện nay.
Chính quyền địa phƣơng cần phải tổ chức chuyên biệt hóa từng quy
trình trong quá trình sản xuất lụa từ khâu sản xuất đến tiêu thụ. Với giải pháp
này, các ngành nghề liên quan sẽ đƣợc mở rộng và thu hút nguồn nhân lực trẻ.
Đặc biệt, cần tập trung phát triển bộ phận marketing cho sản phẩm và phát
triển sản phẩm. Đây đƣợc coi là hai quy trình quan trọng để phát triển thƣơng
hiệu lụa Vạn Phúc.
92
Bên cạnh đó, chính quyền địa phƣơng làng Vạn Phúc cần xây dựng
chƣơng trình đào tạo những ngƣời dân những ngƣời đang trực tiếp làm nghề
lụa những kỹ năng nhƣ: kỹ năng giao dịch trên thị trƣờng, đàm phán và năng
lực quản lý cho cán bộ quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tại làng nghề, thợ
thủ công thƣờng đồng thời là ngƣời quản lý các cơ sở sản xuất nhỏ, do đó
nâng cao kiến thức cho thợ thủ công không nên chỉ giới hạn ở kỹ thuật sản
xuất, mà còn phải nâng cao cả kiến thức quản lý kinh doanh theo các chƣơng
trình bồi dƣỡng nguồn nhân lực cho làng nghề.
Triển khai chiến lƣợc tiếp cận thị trƣờng là việc làm cần thiết để phát
triển sản phẩm. cũng cần phải có năng lực điều phối để kết nối việc phát triển
sản phẩm với thị trƣờng, đồng thời bồi dƣỡng những cá nhân có năng lực thực
hiện.
Liên kết với các cơ sở đào tạo để đào tạo thế hệ trẻ về phát triển sản
phẩm. Việc xây dựng một hệ thống và cơ chế hỗ trợ nhƣ hỗ trợ về tài chính
của Chính phủ cho hoạt động phát triển nguồn nhân lực cũng rất quan trọng.
2.2.2 Kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực của Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc
Hiệp hội làng nghề đƣợc thành lập nhƣ là một cầu nối giữa các tổ chức
sản xuất, kinh doanh, các nghệ nhân trong làng nghề đối với cơ quan nhà
nƣớc, qua đó mà biểu đạt tâm tƣ, nguyện vọng của mình với cơ quan nhà
nƣớc; truyền đạt, định hƣớng những chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà
nƣớc cho ngƣời dân trong làng nghề liên quan tới sự tồn tại và phát triển của
nghề truyền thống hay những vấn đề liên quan tới lợi ích làng nghề.
Hiện nay, Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc chƣa thực sự phát huy hết vai trò của
mình.
Hình 3: Nhận xét của ngƣời dân làng Vạn Phúc về hiệp hội làng nghề Vạn
Phúc (nhiệm kì…)
93
Có, giúp chúng tôi rất nhiều
Không, chả thấy giúp gì
Không quan tâm, có hay không cũng không ảnh hưởng tới chúng tôi
Nguồn: Tự tổng hợp từ phiếu điều tra
Có tới 62% trong 300 hộ dân đƣợc hỏi đều nhận xét rằng: hoạt động của hiệp
hội làng nghề không giúp đƣợc gì nhiều cho ngƣời dân làng nghề
Kiện toàn lại bộ máy tổ chức và quản lý của làng nghề
Việc xây dựng một mô hình quản lý khoa học, chuyên biệt hóa từng
phòng ban, phụ trách từng mảng khác nhau sẽ làm cho quá trình sản xuất lụa
từ khâu đầu vào tới tiêu thụ đƣợc trơn tru và hiệu quả hơn.
Nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý của Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc
94
Hình 3: Đề xuất mô hình quản lý của Hiệp hội làng nghề
Chủ tịch Hiệp Hội
Phó Chủ tịch
Phó Chủ tịch
(Quản lý bộ phận sản xuất lụa)
(Quản lý bộ phận phát triển hình ảnh lụa)
Tổ quản lý khâu sản xuất
Tổ quản lý các sáng tạo sản phẩm
Tổ quản lý quá trình tiêu thụ
Tổ quản lý Nguyên vật liệu đầu vào
Tổ quản lý các hoạt động xúc tiến thƣơng mại
Ngƣời dân làng nghề
Ngƣời dân làng nghề
Nguồn: Đề xuất của nhóm nghiên cứu
Chủ tịch Hiệp hội làng nghề sẽ là ngƣời bao quát toàn bộ hoạt động của Hiệp
Hội. Sau đó sẽ là hai phó chủ tịch Hiệp hội quản lý hai mảng đó là sản xuất
lụa và phát triển hình ảnh lụa.
Trong bộ phận quản lý sản xuất lụa gồm:
Tổ quản lý nguyên vật liệu đầu vào: Hiệp hội sẽ tìm ra các nguồn
nguyên liệu đầu vào tiềm năng cho ngƣời dân làng nghề, cung cấp
95
thông tin đầy đủ về giá cả, các ƣu đãi, điều kiện mua bán cho ngƣời
dân…Ngoài ra có thể đại diện cho các hộ gia đình mua với khối lƣợng
nguyên vật liệu lớn để đƣợc giảm giá, giúp giảm chi phí nguyên vật
liệu đầu vào, đồng thời giúp ngƣời dân tiếp cận đƣợc với những chủ
hàng tin cậy, uy tín.
Tổ quản lý khâu sản xuất: Hiệp hội sẽ giúp các hộ gia đình làm nghề
trong quá trình sản xuất có bất kỳ khó khăn nào, ví dụ nhƣ: vấn đề về
máy moc thiết bị, vấn đề về nhân công…
Tổ quản lý quá trình tiêu thụ: Hiệp hội sẽ giúp ngƣời dân cung cấp
thông tin về các thị trƣờng tiêu thụ tiềm năng, khả năng cạnh tranh tại
các thị trƣờng.
Trong bộ phận phát triển hình ảnh lụa gồm:
Tổ quản lý các hoạt động xúc tiến thƣơng mại: Hiệp hội sẽ chủ động
cung cấp những thông tin liên quan tới các hội chợ, triển lãm, lễ hội
truyền thống mà làng nghề Vạn Phúc sẽ tham gia tới ngƣời dân làng
nghề để họ có một sự chuẩn bị tốt về sản phẩm, đáp ứng lƣợng cầu có
thể tăng trong các dịp này; kêu gọi sự tham gia của những gia đình làm
nghề tiêu biểu
Tổ quản lý các sáng tạo cho sản phẩm: Tổ này sẽ gồm những nghệ
nhân có kinh nghiệm, kỹ năng để cùng cán bộ của Hiệp hội sáng tạo ra
những kiểu cách mới, đa dạng hóa sản phẩm cho làng nghề
Ngƣời dân làng nghề và các tổ quản lý của Hiệp hội phải luôn có sự tƣơng tác
với nhau về thông tin cần cung cấp.
Liên kết với các Hiệp Hội làng nghề khác, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm
lẫn nhau
Việc liên kết với các Hiệp hội làng nghề khác không những giúp cho Vạn
Phúc học tập đƣợc những kinh nghiệm cũng nhƣ thành công của các làng bạn
96
mà còn góp phần phát triển làng nghề, đặc biệt liên quan tới lĩnh vực du lịch,
mở rộng việc quảng bá hình ảnh làng nghề tới bạn bè trong nƣớc và quốc tế.
KẾT LUẬN
Việt Nam là một dân tộc có bề dày lịch sử hàng ngàn năm với nền văn
hóa lấy cộng đồng làng làm đơn vị tổ chức xã hội cơ bản và làng nghề thủ
công truyền thống với các bí quyết nghề nghiệp riêng chính là sản phẩm độc
đáo của nền văn hóa Việt Nam. Các làng nghề truyền thống đã tạo ra rất nhiều
sản phẩm không chỉ đơn thuần là trao đổi thƣơng mại mà còn có mặt giá trị về
văn hóa và lịch sử.
Đánh giá đúng vị trí, vai trò của nghề thủ công trong công cuộc công nghiệp
hóa và hiện đại hóa đất nƣớc rồi đƣa ra những chủ trƣơng, chính sách phù
hợp, có tính liên ngành không chỉ giúp cho việc hỗ trợ cho nghề thủ công
đƣợc phát triển một cách bền vững mà còn góp phần vào việc thúc đẩy sự
phát triển ổn về kinh tế, xã hội. Nghề thủ công truyền thống không chỉ là tài
sản vô giá do cha ông để lại mà còn là động lực cho phát triển kinh tế, xã hội.
Hà Nội là thành phố tập trung nhiều làng nghề nhất cả nƣớc, hệ thống
làng nghề vô cùng phong phú với nhiều nghề thủ công truyền thống: làng lụa,
làng cốm, làng nón, làng gốm… Các làng nghề truyền thống còn tồn tại đến
ngày nay, trong đó có làng lụa Vạn Phúc-Hà Đông có giá trị đặc biệt quan
trọng trong kho tàng văn hóa Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung, là kết
tinh của sự sáng tạo, của sự nhiệt huyết và niềm đam mê với nghề của biết
bao thế hệ ngƣời Việt cho vùng đất này. Các sản phẩm lụa Vạn Phúc độc đáo
với nhƣng đặc điểm khác biệt và nổi bật so với các sản phẩm lụa khác trong
nƣớc cũng nhƣ trên thế giới đã tạo một nét đẹp văn hóa và giá trị kinh tế cho
thƣơng hiệu lụa Việt Nam cho đến hiện tại. Việc bảo tồn và phát huy làng
nghề truyền thống lụa Vạn Phúc là một điều cần thiết và quan trọng, nhất là
97
khi nghề lụa đang trong nguy cơ bị mai một dần. Bảo tồn làng nghề thủ công
truyền thống còn đặt ra yêu cầu bảo lƣu và giải quyết hài hòa các loại nguồn
vốn để làng nghề có thể tiếp tục phát triển bền vững, đó là:
Vốn kinh tế (đất đai, nhà xƣởng, thiết bị, dụng cụ sản xuất);
Vốn văn hóa (di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, công nghệ truyền thống, bí
quyết, kỹ năng nghề nghiệp và ngƣời nắm giữ các bí quyết nghề nghiệp.v.v.);
Vốn xã hội (sự liên kết cộng đồng, sự hợp tác tƣơng trợ, chữ tín giữa các
thành viên trong cộng đồng).
Trên thực tế, nhiều công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về vấn
đề này và đã đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề, nhƣng vẫn
chƣa thực sự giải quyết triệt để những tồn tại. Việc đƣa ra định hƣớng của
Nhà nƣớc, của thành phố Hà Nội và các giải pháp quản lý bảo tồn và phát huy
giá trị làng nghề truyền thống là một việc không hề đơn giản. Vì vậy, bên
cạnh các giải pháp cụ thể để bảo tồn và phát triển làng nghề nhƣ xây dựng các
mô hình bảo tồn, xây dựng chiến lƣợc marketing cho sản phẩm, để giải quyết
những hạn chế và nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn và phát triển
làng nghề trƣớc tiên cần phải giải quyết vấn đề nhận thức. Từ cấp vĩ mô là
Chính phủ và các Bộ, ngành ở trung ƣơng tới vi mô là các cấp chính quyền
địa phƣơng và cộng đồng dân ở cơ sở.
Công tác bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống nói chung, làng
lụa Vạn Phúc-Hà Đông nói riêng là vấn đề khó nghiên cứu, hiện vẫn là một
vấn đề thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học. Nhóm
nghiên cứu chƣa có nhiều kinh nghiệm nên chắc chắn bài nghiên cứu còn
nhiều khiếm khuyết. Rất mong nhận đƣợc sự góp ý của các nhà quản lý, các
nhà khoa học. Nhóm nghiên cứu xin trân trọng cảm ơn.
98
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu Tiếng Việt
1. Vũ Quốc Tuấn (2011), Làng nghề trong công cuộc phát triển đất nước,
Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội.
2. Trƣơng Minh Hằng và nhóm tác giả (2011), Tổng tập nghề và làng
nghề truyền thống Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
3. Nguyễn Hữu Khải và Đào Ngọc Tiến (2007), Thương hiệu hàng thủ
công mỹ nghệ truyền thống, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
4. Nguyễn Quang Việt và nhóm tác giả (2010), Định hướng đào tạo nghề
cho lực lượng lao động trong các làng nghề truyền thống, Nhà xuất
bản Lao động xã hội, Hà Nội.
5. Phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề thủ công nhằm đẩy mạnh
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế, Nguyễn Hữu Thắng 2010.
6. Chiến lƣợc marketing đối với hàng thủ công mỹ nghệ của các làng
nghề Việt Nam đến năm 2010, Trần Đoàn Kim 2010.
7. Phát triển làng nghề trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn ở Hà Tây, Đỗ Quang Dũng 2006.
8. Hồ Hoàng Hoa, Nguyễn Huy Dũng (2004), Vấn đề bảo tồn và phát
triển nghề thủ công truyền thống ở Nhật Bản, Nhà xuất bản Khoa học
xã hội, Hà Nội.
9. Phạm Côn Sơn (2004), Làng nghề truyền thống Việt Nam, Nhà xuất
bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
10. Nguyễn Kiên (2001), Vạn Phúc xưa và nay, Nhà xuất bản Hội nhà
văn.
11. Lại Hồng Khánh, Hà Tây đẩy mạnh phát triển du lịch làng nghề, Du
lịch Việt Nam, số 1/2005, tr 11, 30 (Lại Hồng Khánh, 2005).
12. Cầm Vỹ, Làng Vạn Phúc làm gì để phát triển bền vững, Tạp chí
thƣơng mại, số 45/2004, tr 20 (Cầm Vỹ 2004).
99
13. Lê Hải, Môi trường làng nghề với việc phát triển du lịch bền vững, Du
lịch Việt Nam, số 3/2006, tr 51-52, (Lê Hải2006).
14. Vũ Quốc Tuấn, 2011, Làng nghề trong công cuộc phát triển đất nước,
Nhà xuất bản Tri Thức.
15. Trần Quốc Vƣợng (chủ biên), 1997, Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nhà
xuất bản Giáo dục.
16. Hoàng Vinh, 1997, Một số vấn đề bảo tồn và phát triển di sản văn hóa
dân tộc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Trần Ngọc Thêm, 2006, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nhà xuất
bản Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh.
18. Nguyễn Duy Quý, Oscar Salemink, 2002, Tính đa dạng của văn hóa
Việt Nam những tiếp cận về sự bảo tồn, Trung tâm khoa học xã hội và
nhân văn Việt Nam, Hà Nội.
19. Quyết định số 2636/QĐ-BNN-CB, 31/10/2011, của Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn về việc phê duyệt Chƣơng trình Bảo tồn và Phát
triển làng nghề.
20. Cục Di sản văn hóa, 2009, Văn hóa Óc Eo-nhận thức và giải pháp bảo
tồn phát huy giá trị di tích, Nhà xuất bản Cục Di sản văn hóa
Website
1. Cục di sản văn hóa, Lê Thị Minh Lý (2003), “Làng nghề và việc bảo
tồn các giá trị văn hóa phi vật thể”.
(http://www.dch.gov.vn/pages/news/preview.aspx?n=389&c=%2063)
2. Hiệp hội làng nghề Việt Nam ViCrafts, Phạm Quốc Sử, Tháng 6/2012,
“Các làng nghề Hà Tây trong khung cảnh hội nhập thủ đô Hà Nội”.
(http://vicrafts.com/cac-lang-nghe-ha-tay-trong-khung-canh-hoi-nhap-
thu-do-ha-noi/)
3. Tổng Cục Du lịch, “Vạn Phúc (Hà Nội): Sẽ là tâm điểm du lịch làng
nghề”.
100
(http://www.baomoi.com/Home/DuLich/www.dulichvn.org.vn/Van-
Phuc-Ha-Noi-Se-la-tam-diem-du-lich-lang-nghe/9303287.epi)
4. Báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, Hiền Hòa, tháng 4/2012, “Bảo
tồn và phát triển làng nghề truyền thống”.
(http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_
id=30701&cn_id=515957)
5. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, LS, Tháng 8 năm 2010, “Hà Nội sẽ
chú trọng phát triển du lịch làng nghề”.
(http://www.cinet.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=52251&sitepage
id=29)
6. Diễn đàn kinh tế Việt Nam, Hung Ninh, 2012, “Nghề làm quạt giấy
siêu sang ở Trung Quốc”.
(http://vef.vn/2012-07-30-nghe-lam-quat-giay-sieu-sang-o-trung-quoc)
7. Thế giới và Việt Nam, Vũ Thị Hƣơng, 2012, “Môi trƣờng làng nghề”.
(http://www.tgvn.com.vn/Item/VN/BAICHU/2012/6/81F17578EFDA2
D5C/)
8. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, CN, 2012, “Hội nghị “Phát triển du
lịch tại làng nghề truyền thống Lụa Vạn Phúc”.
(http://www.cinet.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=69040&sitepage
id=29)
9. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, TD, 2012, “Giá trị văn hóa, du lịch
của sản phẩm làng nghề truyền thống”.
(http://www.cinet.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=68651&sitepage
id=29)
10. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, T.H, 2012, “Khai mạc hội chợ làng
nghề 2012”.
101
(http://www.cinet.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=68273&sitepage
id=73)
11. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, T.H, 2012, “Tôn vinh các nghệ
nhân, thợ giỏi làng gốm Bát Tràng”.
(http://www.cinet.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=65475&sitepage
id=31)
12. Làng nghề Việt Nam, Trƣơng Quang Cẩn, 2012, “Bảo vệ môi trƣờng
góp phần bảo tồn và phát triển làng nghề bền vững”.
(http://langnghevietnam.vn/?go=New&page=d&igid=589&iid=4117)
13. Hoàng Diên, Phê duyệt Đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng nghề,
http://vea.gov.vn 15/04/2013.
14. Thăm quan mô hình mỗi làng một sản phẩm của Nhật Bản,
http://hrpc.com.vn 30/01/2009.
15. http://www.vtr.org.vn
16. Chương trình phát triển làng nghề thủ công ở một số nước, Nguồn: Dự
thảo đề án chƣơng trình phát triển “mỗi làng một nghề” giai đoạn
2006- 2015 (Bộ NN&PTNT), http://www.vca.org.vn 13/06/2008.
17. Làng nghề truyền thống và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa phi
vật thể, http://www.dostbinhdinh.org.vn.
18. Làng lụa Vạn Phúc, http://www.langnghe.org.vn.
19. Đinh Thị Thuận, Lụa Vạn Phúc lo mất thương hiệu do bị “trà trộn”,
http://www.langnghevietnam.vn 07/11/2012.
20. Tìm dấu xưa Vạn Phúc, http://www.luavanphuc.com.

