1
NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG BẰNG PHẪU
THUẬT NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN K
Nguyễn Quang Thái1, Phạm Duy Hiển2, Nguyễn Văn Hiếu3,
1. TS. Phó Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện K
2. PGS-TS. Phó Giám đốc Bệnh viện K
3. PGS-TS. Phó Giám đốc kiêm TK Ngoi tổng hợp Bệnh viện K. Phó BMUT Trường ĐHY Hà Nội
2
Phạm Văn Bình4, Trần Nam Thắng5
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Mỗi năm Khoa Phẫu thuật Tổng hợp, Bệnh viện K phẫu thuật
khoảng hơn 400 bệnh nhân ung thư đại trực tràng trong đó bao gồm khoảng
200 ung thư đại tràng. T tháng 3 năm 2007, Bệnh viện K bắt đầu triển khai
phẫu thuật nội soi điều trị ung thư, trong đó có ung thư đại tràng.
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng, cận lâm và kết
quả sớm của phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng tại Bệnh viện K.
Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu can thiệp lâm sàng bằng phẫu thuật
nội soi 34 bệnh nhân ung thư đại tràng tại Bệnh viện K từ tháng 3 năm 2007
đến hết tháng 6 năm 2008.
Kết quả: Sbệnh nhân nam nữ gặp tương tự nhau, nhóm tuổi gặp chủ yếu
trên 50. Giai đoạn bệnh của các bệnh nhân tương đối sớm, chỉ có 20,6%
di căn hạch, không bệnh nhân nào có di căn xa. Tỉ lệ cắt được u 94,1%; tỉ lệ
các tai biến trong mổ, biến chứng sau mổ thấp, không có tử vong phẫu
thuật, chỉ có một trường hợp phải chuyển mổ mở. Các ưu điểm của phẫu
thuật nội soi được thể hiện qua: không bệnh nhân nào phải truyền máu
trong mổ, số lượng máu mất thấp, trung bình 63,7 ml; bệnh nhân có gaz
sớm-khoảng 2 ngày sau mổ; thời gian dùng thuốc kháng sinh và thuốc giảm
đau sau mổ ngắn; thời gian nằm viện ngắn.
Kết luận: Phẫu thuật nội soi đã được thực hiện an toàn,ớc đầu có hiệu
quả tốt.
ABSTRACT
4. Ths. Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện K
5. Ths. Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện K
3
Outcomes of laparoscopic surgery for colon cancer treatment at the K
hospital
Background: Annually, more than four hundreds cases of colorectal
cancer in which there are around two hundreds of colon cancer are
operated at K hospital. Since March 2007, laparoscopic surgery has been
done in Departement of General Surgery, K Hospital. The aim of this study
was to determine short- term outcomes of laparoscopic surgery for colon
cancer.
Methods: Prospective study has performed in 34 colon cancers which
have undergone laparoscopic surgery at K Hospital.
Results: There was no significant difference between the two genders. The
most common age group was over 50 years old. Almost patients were in the
ealier stage; 20.6% of patients had lymph node metastases; no case of
distant metastasis. The rate of radical resection was 94.1%. Patients
recovered faster, with shorter usage of intravenous analgesia, antibiotics
after surgery. Time of hospitalisation was short. The mean time of GI
continuty restore was short, 48 hours. The intraoperative accidence was
rare. The surgical complications were low. The mean of intraoperative
blood loss was 63.7 mL. There was no transfusion this series.
Conclusions: Minimally invasive laparoscopic surgery for colon cancer
treatment is a safe and effective option for most confined colon cancer
patients.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phu thuật nội soi ổ bụng có thể coi là một bước ngoặt của ngành ngoại
khoa, nó dã làm thay đổi căn bản thao tác mổ xẻ kinh điển đã được thực hiện
4
hàng trăm m nay. Tviệc thực hiện mổ xẻ thông qua quan sát và thao tác
trực tiếp các tổn thương (hình nh ba chiều), chuyển sang quan sát và thao
tác thông qua màn hình (hình nh hai chiều) đã gây các khó khăn cho động
tác mổ. Hàng lot các phản đối lên tiếng, các tai biến xảy ra và có lúc phẫu
thuật nội soi b cấm thực hiện ở chính nơi đãng to ra nó-Nước Pháp. Tuy
nhiên vi tài năng của các phẫu thuật viên, đặc biệt tại Hoa Kỳ, với những
thành công không thể bác bỏ, phẫu thuật noi soi dã phát trin mạnh mẽ và
trở thành nim tự hào và khao khát của hầu hết các nhà ngoi khoa. Tại Việt
Nam, phẫu thuật nội soi cũng được ứng dụng khá sớm. Từ 1992-1993, các
trung tâm ln tại Hà Nội và TP HChí Minh đã tiến hành các ca mcắt túi
mật đầu tiên, đến nay phương pháp mổ nội soi đã được triển khai rộng rãi.
Mặc dù vy, trên phạm vi toàn cu, mãi đến năm 1990 các phu thuật viên
mới bắt đầu mổ ung thư đại tràng bng mổ mổ nội soi. Đến 1994 thì bị dừng
li, các vấn đề lo ngại bắt đầu được đề cập bao gồm: sự xuất hiện tăng dần
của tái phát ung thư ở chỗ vào trocar; phẫu thuât nội soi không hơn gì m
mở khi tm dò bụng và tìm kiếm hạch di căn; phẫu thuật nội soi làm thay
đổi con đường lan tràn của ung thư. c đó, các phẫu thuật viên đều đồng
thuận cho rằng cần có một thử nghiệm so sánh 2 phương thức mổ trước khi
ứng dụng rộng rãi phẫu thuật nội soi cho ung thư đại tràng. Sau các th
nghim đa trung tâm quy mô lớn tại Mỹ và Canada do Mayo Clinic đứng
đầu, cuối cùng, với các kết luận rõ ràng cùng vic kinh nghiệm thu được,
phẫu thuật nội soi được áp dung rộng rãi để điều trị ung thư đại tràng.
Mỗi năm Khoa Phu thuật Tổng hợp, Bệnh viện K phẫu thuật khoảng
hơn 400 bệnh nhân ung thư đại trực tng trong đó khoảng 200 ung thư đại
tràng. Từ tháng 3 m 2007, Bệnh viện K bắt đầu triển khai phẫu thuật nội
soi điều trị ung thư, trong đó có ung thư đại tràng.
5
Mc tiêu nghiên cu: Nghiên cu các đặc đim lâm sàng, cận lâm và kết
quả sớm của phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng ti Bệnh viện K.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Số lượng: 34 bệnh nhân ung thư đại tràng được chẩn đoán xác định bằng
mô bệnh học thông qua sinh thiết trong nội soi đại tràng.
Tiêu chuẩn chọn: Những bệnh nhân ung thư đại tràng.
Không có tiền sử mổ bụng.
Không sthấy u trên lâm sàng.
Không có triệu chứng di căn xa như di căn gan, di căn phổi, di căn hạch
thượng đòn.
Không có biến chứng thủng ruột, tắc ruột, chảy máu nặng tiêu hoá nặng.
Không có chng chỉ định mổ do các bệnh nội khoa mãn tính tn thân
như tim mạch, hô hấp, nội tiết...
Thời gian và địa điểm tiến hành: từ tháng 3/2007 đến hết tháng 6 năm
2008 ti Khoa Phẫu thuật Tổng hợp, Bệnh vin K.
Phương pháp nghiên cứu
Loại hình nghiên cu: nghiên cứu can thiệp lâm sàng, tiến cứu.
Phương pháp tiến hành
Chọn bệnh nhân đủ tiêu chuẩn.
Đánh giá trước mổ bằng lâm sàng, siêu âm, CT-scan, CEA máu.
Tiến hành phu thuật nội soi cắt đại tràng, lập lại lưu thông tiêu hoá.