
4
hàng trăm năm nay. Từ việc thực hiện mổ xẻ thông qua quan sát và thao tác
trực tiếp các tổn thương (hình ảnh ba chiều), chuyển sang quan sát và thao
tác thông qua màn hình (hình ảnh hai chiều) đã gây các khó khăn cho động
tác mổ. Hàng loạt các phản đối lên tiếng, các tai biến xảy ra và có lúc phẫu
thuật nội soi bị cấm thực hiện ở chính nơi đã sáng tạo ra nó-Nước Pháp. Tuy
nhiên với tài năng của các phẫu thuật viên, đặc biệt tại Hoa Kỳ, với những
thành công không thể bác bỏ, phẫu thuật noi soi dã phát triển mạnh mẽ và
trở thành niềm tự hào và khao khát của hầu hết các nhà ngoại khoa. Tại Việt
Nam, phẫu thuật nội soi cũng được ứng dụng khá sớm. Từ 1992-1993, các
trung tâm lớn tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã tiến hành các ca mổ cắt túi
mật đầu tiên, đến nay phương pháp mổ nội soi đã được triển khai rộng rãi.
Mặc dù vậy, trên phạm vi toàn cầu, mãi đến năm 1990 các phẫu thuật viên
mới bắt đầu mổ ung thư đại tràng bằng mổ mổ nội soi. Đến 1994 thì bị dừng
lại, các vấn đề lo ngại bắt đầu được đề cập bao gồm: sự xuất hiện tăng dần
của tái phát ung thư ở chỗ vào trocar; phẫu thuât nội soi không hơn gì mổ
mở khi thăm dò ổ bụng và tìm kiếm hạch di căn; phẫu thuật nội soi làm thay
đổi con đường lan tràn của ung thư. Lúc đó, các phẫu thuật viên đều đồng
thuận cho rằng cần có một thử nghiệm so sánh 2 phương thức mổ trước khi
ứng dụng rộng rãi phẫu thuật nội soi cho ung thư đại tràng. Sau các thử
nghiệm đa trung tâm quy mô lớn tại Mỹ và Canada do Mayo Clinic đứng
đầu, cuối cùng, với các kết luận rõ ràng cùng với các kinh nghiệm thu được,
phẫu thuật nội soi được áp dung rộng rãi để điều trị ung thư đại tràng.
Mỗi năm Khoa Phẫu thuật Tổng hợp, Bệnh viện K phẫu thuật khoảng
hơn 400 bệnh nhân ung thư đại trực tràng trong đó khoảng 200 ung thư đại
tràng. Từ tháng 3 năm 2007, Bệnh viện K bắt đầu triển khai phẫu thuật nội
soi điều trị ung thư, trong đó có ung thư đại tràng.