TP CHÍ Y HC VIT NAM TP 489 - THÁNG 4 - S 1 - 2020
23
thuốc sử dụng gây khó chịu cho bệnh
nhân. Kết quả này tương tnghiên cứu của tác
giả Shafiq cộng sự nghiên cứu trên 1706 ca
gây ngoài ng cứng 10,07% bệnh nhân
lệch một bên chân. Đây nhược điểm của
gây ngoài màng cứng so với gây thần kinh
để giảm đau sau mổ khớp gối, bởi gây thần
kinh chỉ phong bế đúng vị trí chân phẫu thuật,
do đó giảm được tác dụng không mong muốn này.
V. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
phương pháp gây liên tục thần kinh hiển trong
OCK dưới hướng dẫn siêu âm phương pháp
giảm đau hiệu quả tương đương với phương pháp
giảm đau NMC cho các phẫu thuật nội soi khớp
gối trong 48 giờ sau mổ cũng như làm giảm một
cách ý nghĩa thống một số tác dụng không
mong muốn của phương pháp NMC giúp cho
bệnh nhân trong việc tập phục hồi chức năng sau
mổ, tăng mức độ hài lòng của bệnh nhân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. H. Evans, K. C. Nielsen et al (2005). Peripheral
nerve blocks and continuous catheter techniques.
Anesthesiol Clin North America, 23 (1), 141-162.
2. N. A. Hanson, C. J. Allen, L. S. Hostetter et al
(2014). Continuous ultrasound-guided adductor
canal block for total knee arthroplasty: a
randomized, double-blind trial. Anesth Analg,
118(6), 1370-1377.
3. R. V. Sondekoppam S. Ganapathy (2014).
Analgesic efficacy of ultrasound-guided adductor
canal blockade after arthroscopic anterior cruciate
ligament reconstruction. Eur J Anaesthesiol, 31(3),
177-178.
4. N. A. Hanson, R. E. Derby, D. B. Auyong et al
(2013). Ultrasound-guided adductor canal block
for arthroscopic medial meniscectomy: a
randomized, double-blind trial. Can J Anaesth,
60(9), 874-880.
5. E. Kayupov, K. Okroj, A. C. Young et al
(2018). Continuous Adductor Canal Blocks Provide
Superior Ambulation and Pain Control Compared to
Epidural Analgesia for Primary Knee Arthroplasty: A
Randomized, Controlled Trial. J Arthroplasty, 33
(4), 1040-1044.e1041.
6. V. N. H. Ngân (2017). Đánh giá hiệu qu gim
đau sau phẫu thut ni soi khp gi của phương
pháp gây thần kinh đùi thần kinh ng to
ới hưng dn siêu âm. Luận văn tốt nghip thc
s y học, trường đại hc Y Hà Ni,
7. A. F. Davies, E. P. Segar, J. Murdoch et al
(2004). Epidural infusion or combined femoral
and sciatic nerve blocks as perioperative analgesia
for knee arthroplasty. Br J Anaesth, 93 (3), 368-
374.
8. D. Zaric, K. Boysen, C. Christiansen et al
(2006). A comparison of epidural analgesia with
combined continuous femoral-sciatic nerve blocks
after total knee replacement. Anesth Analg, 102
(4), 1240-1246.
NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA TÌNH TRẠNG SUY YẾU
VÀ TÁI NHẬP VIỆN Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI
Nguyễn Văn Tân1,2, Lý Thanh Thùy3
TÓM TẮT7
Mc tiêu: Xác đnh mối liên quan giữa suy yếu
tái nhập viện bệnh nhân cao tuổi điều trị tại khoa
Lão bệnh viện Nguyễn Trãi tại thời điểm 3 tháng sau
xuất viện. Đối tượng phương pháp nghiên
cu: Tt c các bệnh nhân cao tuổi (≥60 tuổi) nhập
viện điều trị tại khoa Lão bệnh viện Nguyễn Trãi từ
tháng 9/2018 đến tháng 3/2019 đồng ý tham gia
nghiên cứu với phương pháp ct ngang t theo
dõi dc.Suy yếu được đánh giá bằng thang đo suy yếu
lâm sàng Canada (CFS) vào thời điểm ngày trưc xut
vin, theo dõi s ln tái nhp vin nguyên nhân tái
nhp vin ti thời điểm 3 tháng sau xut vin. Kết
1Đại Học Y Dược TP. HCM,
2Bệnh viện Thống Nhất, TP. HCM
3Bệnh viện Nguyễn Trãi, TP. HCM
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Văn Tân,
Email: nguyenvtan10@ump.edu.vn;
Ngày nhận bài: 1/3/2020
Ngày phản biện khoa học: 18/3/2020
Ngày duyệt bài: 25/3/3020
qu: Tng s 364 bnh nhân tha tiêu chun
nghiên cu và kết qu ghi nhận được như sau:tỷ l tái
nhp vin 26,1%, ba nguyên nhân gây tái nhp
viện thường gp nht lần lượt tăng huyết áp
(17,9%), viêm phổi (11,6%), đợt cp bnh phi tc
nghn mn tính (COPD) (11,6%). Suy yếu làm tăng
nguy tái nhập vin ti thời điểm 3 tháng sau xut
vin (OR = 5,95, CI 95% 1,59 - 22,26, p < 0,001).
Kết lun: Suy yếu làm tăng nguy cơ tái nhp vin ti
thời điểm 3 tháng sau xut viện. Do đó, xác định được
suy yếu ngay t lúc nhp viện điều quan trng
trong tiên lượng bnh.
Tka:
Suy yếu, bnh nhân cao tuổi, i nhập viện.
SUMMARY
RELATIONSHIP BETWEEN FRAILTY AND
READMISSION IN THE OLDER PATIENTS
Objective: Determine the relationship between
frailty and re-admission in older patients treated at the
Department of Geriatrics of Nguyen Trai Hospital at 3
months after discharge. Subjects and method:
Cross-sectional and longitudinal studywas conducted
among older patients (≥ 60 years old) in the
Department of Geriatrics of Nguyen Trai Hospital from
vietnam medical journal n01 - APRIL - 2020
24
September 2018 to March 2019. Frailty was assessed
by the Canadian Clinical Frailty Scale (CFS) at the time
of the day of discharge, follow up the number of re-
hospitalizations and the cause of re-admission at 3
months after discharge. Result: A total of 364 patients
were included in the study and the results were as
follows: re-admission rate was 26.1%, the three most
common causes of re-admission were hypertension
(17.9%), pneumonia (11.6%), exacerbation of chronic
obstructive pulmonary disease (11.6%). Frailty
increased the risk of re-admission at 3 months after
discharge (OR = 5.95, 95% CI 1.59 - 22.26, p <0.001).
Conclusion: Frailty increased the risk of re-admission
at 3 months after discharge. Therefore, identifying
frailty from the admission was important in prognosis.
Keywords:
Frailty, older patients, readmission.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, tỷ lệ người cao tuổi (NCT) trên thế
giới ngày ng tăng tỷ lệ NCT (≥ 60 tuổi)
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng phát
triển chung đó [7,8]. Suy yếu là một hội chứng
lão khoa thường gặp, hậu quả của suy yếu sẽ đặt
gánh nặng lên NCT, người chăm sóc hệ thống
y tế [1]. Nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích
trong việc phát hin, sàng lọc và can thiệp sớm
suy yếu nên cần có nhiều nghiên cứu liên quan.
Thang đo suy yếu lâm sàng Canada được
phát triển bởi đại học Dalhouse Canada của
Viện nghiên cứu Sức Khỏe Người cao tuổi của
Canada (Canadian Study of Health and Aging)(1),
thang CFS được rút ra t thang đo chỉ số suy
yếu FI (Frailty Index). Với kết quả tiên lượng về
nguy tử vong cần sự chăm sóc đặc biệt
NCT tương tgiữa 2 thang đo y(5). thang
đo đơn giản, thuận tiện để đánh giá suy yếu
theo dõi diễn tiến bệnh trên lâm ng, được xác
nhận là yếu tố tiên đoán bất lợi bệnh nhân cao
tuổi nhập viện.
Tại Việt Nam số lượng nghiên cứu về suy yếu
NCT còn rất ít, đặc biệt mối liên quan của
suy yếu tái nhập viện, cũng như dự hậu lâu
dài của suy yếu tái nhập viện. Bệnh viện
Nguyễn Trãi thành phố H Chí Minh, tham gia
khám điều trị tại bệnh viện trên 50% bệnh
nhân cao tuổi. NCT suy yếu tái nhập viện tại
khoa Lão bệnh viện Nguyễn Trãi, nguyên nhân
gây tái nhập viện hiện chưa được thống cụ
thể. Từ nhu cầu thực tế lâm sàng, đồng thời cần
làm sáng tỏ suy yếu các mối liên quan thể
dự đoán được khả năng tái nhập viện bệnh
nhân cao tuổi suy yếu để góp phần chăm sóc
NCT suy yếu tốt hơn n chúng tôi tiến hành
nghiên cứu này nhằm xác định mối liên quan
giữa suy yếu tái nhập viện bệnh nhân cao
tuổi điều trị tại khoa Lão bệnh viện Nguyễn Trãi
tại thời điểm 3 tháng sau xuất viện.
II. ĐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU
1. Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các bệnh
nhân cao tuổi nhập viện điều trị tại khoa Lão
bệnh viện Nguyễn Trãi thời gian từ tháng 9/2018
đến tháng 3/2019.
Tiêu chuẩn chọn bệnh: Tuổi ≥60 tuổi,
đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: Không đủ năng lực trả
lời câu hỏi nghiên cứu (bệnh tâm thần, sa sút trí
tuệ nặng, bệnh cấp tính đang diễn tiến nặng)
Được chẩn đoán bất kỳ loại ung thư nào
trước đây có tiên lượng sống dưới 3 tháng
Bệnh nhân giảm thị lực, thính lực nặng.
2. Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang tả
và theo dõi dọc
3. Biến số nghiên cứu
Suy yếu: Biến định lượng, da vào ghi nhn
theo thang đo lâm sàng Canada, sau đó mã hóa
thành hai nhóm, biến nh giá (1. Không suy yếu
(CFS < 5), 2. Có suy yếu (CFS ≥5)).
Mc suy yếu theo CFS: hóa điểm CFS
thành ba nhóm, biến th bc: 1. Không suy yếu
(CFS 14), 2. Suy yếu nh đến trung nh (CFS
56), 3. Suy yếu nng (CFS 79)
Tái nhp vin: Biến nh giá vi: 1. Có; 2.
Không. tái nhp vin khi nhp vin bt c
bnh vin nào sau xut viện lưu lại bnh vin
ít nht một đêm.
4. Xử lý và phân tích số liệu. Sử dụng phần
mềm IBM SPSS Stastistics 22 để nhập phân
tích số liệu. Các số liệu được trình bày dưới dạng
tỉ lệ % đối với biến định tính trung bình ± độ
lệch chuẩn, nếu phân bố không chuẩn: trung vị,
giá trị ơng ứng với 25% 75% đối với biến
định lượng. Dùng phép kiểm định chi bình
phương (có hiệu chỉnh Fisher) để kiểm định sự
khác biệt tỉ lệ giữa 2 nhóm của biến số định tính.
Đối với biến số định lượng, xác định có phân phối
chuẩn bằng phép kiểm Kolmogorov Smirnov.
Phép kiểm định t-student (nếu phân phối chuẩn)
cho 2 giá trị trung bình giữa 2 nhóm của biến số
định lượng, sự khác biệt giữa hai nhóm được xem
có ý nghĩa thống kê khi p <0,05.
5. Y đức nghiên cứu: đây nghiên cứu
quan sát, không can thiệp vào quá trình điều trị,
tất cả thông tin của bệnh nhân được giữ kín chỉ
để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài
đã được thông qua Hội đồng Y đức của Đại Học
Y Dược Thành Phố Hồ CMinh, Hội đồng Y đức
của bệnh viện Nguyễn Trãi.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chúng tôi khảo sát nhữngbệnh nhân cao tuổi
(≥ 60 tuổi) nhập điều trị tại khoa Lão bệnh viện
Nguyễn Trãitừ tháng 9/2018 đến tháng 3/2019
TP CHÍ Y HC VIT NAM TP 489 - THÁNG 4 - S 1 - 2020
25
theo dõi sau 3 tháng có 364 đối tượng được
đưa vào nghiên cứu với kết quả được trình bày
trong các bảng 1 5 biểu đồ 1, 2. Tỉ lệ tái
nhập viện chiếm tương đối cao 26,1% (n=95),
trong đó nhóm suy yếu chiếm đa số
(n=70).Các nguyên nhân gây tái nhập viện nhiều
nhất tăng huyết áp (17,9%), viêm phổi
(11,6%), đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
(11,6%). Sau khi phân tích đa biến, chúng tôi
ghi nhận tình trạng suy yếu chỉ s Charlson
có liên quan đến tỉ lệ tái nhập viện, với p<0,05.
020 40 60 80
Không tái nhập
Tái nhập viện
73,9
26,1
n = 364
Biểu đồ 1: Tỷ lệ tái nhập viện
70,5
20
9,5
Tái nhập viện 1 lần
Tái nhập viện 2 lần
Tái nhập viện 3 lần
Biểu đồ 2: Tỷ lệ % số lần tái nhập viện (n = 95)
Bảng 1. Nguyên nhân thường gặp gây
tái nhập viện
Nguyên nhân tái
nhập viện
Tần số
(n=94)
Tỷ lệ
(%)
Tăng huyết áp
17
17,9
Viêm phổi
11
11,6
Đợt cấp COPD
11
11,6
Nhiễm trùng tiểu
6
6,3
Suy tim cấp
4
4,3
Rối loạn tiền đình
4
4,2
Thoái hóa cột sống
4
4,2
Đái tháo đường kiểm
soát kém
2
2,1
Bảng 2. Liên quan giữa suy yếu tái
nhập viện
Suy yếu
Có tái
nhập viện
n (%)
Không tái
nhập viện
n (%)
Có suy yếu
70 (35)
130 (65)
Không suy
yếu
25 (15,2)
139 (84,8)
Bảng 3. Liên quan giữa mức suy yếu
tái nhập viện
Tái nhập viện
p
OR
95% Cl
Không suy yếu
1
Suy yếu chung
2,89
1,79 - 5,01
< 0,001
Suy yếu nhẹ và
trung bình
2,89
0,69 - 4,93
< 0,001
Suy yếu nặng
3,48
1,60 - 7,53
< 0,001
Bảng 4. Liên quan giữa tái nhập viện và các đặc điểm khác của dân số nghiên cứu
Biến số
Không tái nhập
viện n (%)
Tái nhập viện
n (%)
P
Tuổi (TB ± ĐLC)
74,4 ± 9,1
76,3 ± 9,9
0,09
BMI
Thiếu cân
26 (63,4)
15 (36,6)
0,24
Bình thường
120 (76,4)
37 (23,6)
Thừa cân, béo p
123 (74,1)
43 (25,9)
Giới
Nam
111 (73,1)
41 (26,9)
0,75
Nữ
158 (74,5)
54 (25,5)
Địa chỉ
Thành phố Hồ Chí Minh
242 (73,1)
89 (26,9)
0,54
Tỉnh
27 (81,8)
6 (18,2)
Trình
độ học
vấn
Cấp 1
83 (74,1)
29 (25,9)
0,007
Cấp 2
61(69,3)
27 (30,7)
Cấp 3
70 (84,3)
13 (15,7)
Trung học
6 (40)
9 (60)
Cao đẳng/ĐH/ SĐH
43 (76,8)
13 (23,2)
Mù chữ
6 (60)
4 (40)
Hôn
nhân
Kết hôn
151 (41,5)
52 (14,3)
0,64
Độc thân
15 (83,3)
3 (16,7)
Ly dị/ly thân
9 (81,8)
2 (18,2)
Góa
94 (71,2)
38 (28,8)
Hoàn
Sống một mình
10 (71,4)
4 (28,6)
0,29
vietnam medical journal n01 - APRIL - 2020
26
cảnh
sống
Sống với một thành viên khác
259 (74,2)
90 (25,8)
Sống nhà dưỡng lão
0 (0)
1 (100)
Đa
thuốc
Không đa thuốc
75 (75)
25 (25)
0,89
Đa thuốc
194 (73,5)
70 (26,5)
Số ngày nằm viện lần nhập viện đầu (TB ± ĐLC)
9,6 ± 4,8
11,2 ± 5,9
0,01
Điểm Charlson (TB ± ĐLC)
1,3 ± 0,7
1,8 ± 0,2
0,01
Bảng 5. Phân tích hồi quy đa biến các
yếu tố liên quan và tái nhập viện
Tái nhập viện
p
OR
95% Cl
Không suy yếu
1
Suy yếu
5,95
1,59-22,26
< 0,001
Trình độ học vấn
1,05
0,89 -1,23
0,55
IADL
0,39
0,11 - 1,42
0,15
ADL
1,12
0,62 - 2,04
0,71
Charlson
1,21
1,02 - 1,44
0,03
Số ngày nằm viện
lần nhập viện đầu
1,04
0,99 - 1,09
0,10
IV. BÀN LUẬN
1. Tỷ lệ tái nhập viện. Chúng tôi ghi nhận
26,1% (n=95) bệnh nhân tái nhập viện tại
thời điểm 3 tháng theo dõi sau xuất viện. Trong
95 trường hợp tái nhập viện, nhóm suy yếu có tỷ
lệ cao hơn nhóm không suy yếu. Sự khác biệt
giữa nhóm suy yếu nhóm không suy yếu liên
quan đến tái nhập viện ý nghĩa thống (với
p < 0,05). Tỷ lệ này trong nghiên cứu của chúng
tôi gần tương tự với các kết quả nghiên cứu khác
trên thế giới. Tác giả Roberto BM ghi nhận tỷ lệ
tái nhập viện khi theo dõi về suy yếu trên 102
bệnh nhân nhập viện đợt cấp bệnh phổi tắc
nghẽn mạn tính 31,4% [4]. Số lần tái nhập
viện gặp nhiều nhất trong nhóm tái nhập viện
1 lần với tỷ lệ 70,5%. Điều này cũng khá phù
hợp thời gian theo dõi của nghiên cứu ngắn
nên số lần nhập viện thấp chiếm đa số.
2. Nguyên nhân tái nhập viện. Trong
nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận nguyên nhân
thuộc nhóm bệnh tim mạch (tăng huyết áp,
suy tim cấp) nhóm bệnh lý nhiễm trùng (viêm
phổi, đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính,
nhiễm trùng tiểu) gây tái nhập viện nhiều nhất.
Tương tự với kết quả nghiên cứu của tác giả
Mike Saji 155 bệnh nhân tại Nhật Bản với tỷ lệ
tái nhập viện do nguyên nhân tim mạch chiếm
43,2%, nguyên nhân nhiễm trùng chiếm
25%[3]. Tác giả Sharry Kahlon cộng s
nghiên cứu về mối liên quan giữa suy yếu dự
hậu sau 30 ngày xuất viện tại 2 bệnh viện
chuyên giảng dạy tại Edmonton năm 2015 cũng
đã ghi nhận các nguyên nhân thường y tái
nhập viện suy tim, viêm phổi, COPD, nhiễm
trùng đường tiết niệu các biến chứng cấp tính
của bệnh đái tháo đường [6].
3. Mối liên quan giữa suy yếu tái
nhập viện. Các yếu tố có liên quan đến tái nhập
viện của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng
tôi bao gồm trình đ học vấn, suy giảm hoạt
động chức năng bản hàng ngày, suy giảm
hoạt động chức năng sinh hoạt hàng ngày
điểm Charlson. Trình độ học vấn thường liên
quan với ý thức về bệnh tật nên có liên quan đến
tái nhập viện. Khi các hoạt động chức năng giảm
thì nguy ngã, bệnh tật tăng lên nên tỉ lệtái
nhập viện cũng liên quan đến. Điểm Charlson
liên quan với bệnh đồng mắc nên càng nhiều
bệnh phối hợp thì nguy bị đợt cấp của bệnh
làm cho tỉ lệ tái nhập viện càng tăng. Tuy nhiên,
đây chỉ phân ch đơn biến nên còn bị nh
hưởng bởi nhiều yếu tố khác nữa.
Tuổi, chủng tộc, các bệnh đi kèm, nếp sống
tình trạng thiếu dinh dưỡng, tình trạng đa
bệnh lý, các bệnh mạn tínhđã được đề xuất như
yếu tố nguy độc lập dẫn đến sự xuất hiện
của suy yếu ng nguy tử vong. Nhiều
nghiên cứu đã chỉ ra sự độc lập và tác dụng hiệp
đồng của các yếu tố này trong sự xuất hiện của
suy yếu. Trên thế giới hiện nay nhiều nghiên
cứu về suy yếu cho thấy mối liên quan giữa
suy yếu tái nhập viện, tùy vào mức độ của
suy yếu sẽ sự khác nhau về nguy phải
nhập viện, thời gian nằm viện kéo dài hay
không. Trong nghiên cứu của chúng tôi xét về
mối liên quan giữa suy yếu tái nhập viện,
chúng tôi ghi nhận suy yếu tái nhập viện
mối liên quan với nhau với p < 0,001, kết quả
này ng tương tự như nghiên cứu của tác giả
Hawker Mvà cộng sự năm 2016 [1].
V. KẾT LUẬN
T l tái nhp vin bnh nhân cao tui
tương đối cao 26,1%. Suy yếu m ng nguy
tái nhp vin ti thời điểm 3 tháng sau xut vin.
Do đó, xác định được suy yếu ngay t lúc nhp
viện là điều quan trọng trong tiên lượng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Europe PMC Funders Group (2013), "Frailty in
Older People".Lancet, 381(9868): 752 - 762.
2. Hawker M, Romero-Ortuno R (2016), "Social
determinants of discharge outcome in older people
admitted to a geriatric medicine ward",J Frailty
Aging ,5 (2): 118 120.
3. Mike S, Ryosuke H, Tetsuya T, et al (2018),