
Những nguy cơ từ malware và cách phòng tránh

Ở thời điểm hiện tại, thật khó tin là các mã mức thấp vẫn có thể chạy
ngầm trên máy tính mà không bị phát hiện. Các chính phủ cũng nhận ra
các biện pháp phòng thủ hiện tại là chưa đủ và họ có thể dễ dàng mất quyền
kiểm soát mạng nội bộ hay website vào tay kẻ khác. Bài viết sẽ tập trung về
những loại malware nổi lên gần đây và đề xuất những giải pháp có thể sử
dụng để đối phó với các mối đe dọa này.
Cùng với sự phát triển của công nghệ phần mềm thì các nhà phát triển cũng
đưa ra những cảnh báo và đồng thời triển khai thêm nhiều biện pháp an ninh
nhằm đảm bảo sản phẩm của họ được bảo vệ an toàn. Tuy nhiên, mối đe dọa
do malware gây ra không vì thế mà giảm đi. Khi mà các biện pháp đối phó ra
đời thì những kẻ xấu lại tìm thêm nhiều cách tinh vi và phức tạp hơn để xâm
nhập lỗ hổng hệ thống. Giờ đây chúng thậm chí có thể giả mạo cả dịch vụ
phần mềm và khi máy cập nhật, thay vì các bản vá và phần mềm bảo mật thì
malware lại được tải về và cài đặt lên hệ thống.

Những hướng tấn công mới đang được phát triển cho thích hợp với kỷ
nguyên mạng xã hội, như lây lan quan các trang mạng xã hội. Ngoài ra, các
cuộc tấn công tương tự trước đây vẫn gây tổn thất nặng nề. Những virus
truyền thống vẫn đang bí mật lây nhiễm vào file, làm ảnh hưởng tới hoạt
động của máy tính và có thể biến máy tính của chúng ta làm máy chủ lây
nhiễm lên các site cũng như các máy tính và mạng khác.
Malware có thể được mô tả như sau:
Chương trình quảng cáo (Adware): Đặt những mẩu quảng cáo lên
màn hình máy tính bằng nhiều phương tiện khác nhau.

Phần mềm gián điệp (Spyware): Được dùng để thu thập thông tin dữ
liệu trên máy tính và chuyển hướng đến một địa chỉ khác. Những thông
tin như thông tin cá nhân người dùng, lược sử trình duyệt, tên đăng
nhập và mật khẩu và số thẻ tín dụng.
Hijacker: Hijacker nhắm đến Internet Explorer. Chúng kiểm soát các
phần của trình duyệt web, bao gồm trang chủ, các trang tìm kiếm và
thanh tìm kiếm. Chúng chuyển hướng bạn tới những site mà bạn không
muốn truy cập.
Thanh công cụ: Một thanh công cụ được cài đặt qua những phương
tiện không rõ ràng kéo theo một loạt malware.
Dialer: Chương trình thay đổi cấu hình modem để thiết bị quay tới một
số nào đó làm gia tăng hóa đơn tiền điện thoại, gây thiệt hại cho người
dùng đồng thời kiếm lời cho kẻ xấu.
Deepware: Đây là một thuật ngữ mới để chỉ mã độc hoạt động sâu hơn
vào OS và có hành vi giống như một rootkit mức rất thấp, hầu như
không thể bị phát hiện bởi chương trình diệt virus thông thường.
Ảnh hưởng của malware lên máy tính
Làm chậm kết nối.

Làm chậm máy, gây lỗi máy bởi các mã độc.
Gây hiển thị thông báo lỗi liên tục.
Không thể tắt máy tính hay khởi động lại khi malware duy trì cho
những process nhất định hoạt động.
Kẻ xấu lợi dụng malware để thu thập thông tin cá nhân hoặc dữ liệu từ
máy tính.
“Cướp” trình duyệt, làm chuyển hướng người dùng đến những site có
chủ đích.
Lây nhiễm vào máy và sử dụng máy làm một vật chủ quảng bá nhiều
file khác nhau hay thực hiện các cuộc tấn công khác.
Gửi spam đi và đến hộp thư người dùng.
Gửi những email mạo danh người dùng, gây rắc rối cho người dùng
hay cho công ty.
Cấp quyền kiểm soát hệ thống và tài nguyên cho kẻ tấn công.
Làm xuất hiện những thanh công cụ mới.
Tạo ra các biểu tượng mới trên màn hình desktop.
Chạy ngầm và khó bị phát hiện nếu được lập trình tốt.

