
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(35).2009
148
NHẬN DIỆN MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ VIỆC TIẾP CẬN
NGUỒN VỐN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI QUẢNG NGÃI
IDENTIFYING SOME CAUSES OF THE LIMITATION FOR OFFICIAL CREDIT
CAPITAL APPROACH OF PRIVATE BUSINESSES AT QUANG NGAI PROVINCE
Nguyễn Trường Sơn
Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Kinh tế tư nhân có vị trí rất quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội của Việt Nam. Trong những năm qua,
doanh nghiệp kinh tế tư nhân tạ i Quảng Ngãi tăng trưởng mạnh về số lượng, tuy nhiên chất
lượng của doanh nghiệp rất thấp. Một trong những nguyên nhân lớn làm hạn chế sự phát triển
của doanh nghiệp kinh tế tư nhân tại đây là việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức gặp
nhiều khó khăn. Sử dụng kết quả từ cuộc điều tra xác định chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
(Provincial Competitiveness Index - 2008) do nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Đà Nẵng thực
hiện, bài viết đi sâu nhận định các nguyên nhân hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng
chính thức của doanh nghiệp kinh tế tư nhân tại Quảng Ngãi và đề xuất một số giải pháp nhằm
khắc phục tình trạng này.
ABSTRACT
Private economy plays an important role in impulsing the growth and transfering
economic structure, which solves the employment and social issues in Vietnam. In the past
years, although the number of private businesses at Quang Ngai is on the increase, their quality
is still low. One of main reasons obstructing private businesses’s development is the difficulty in
approaching official credit capital. From the consequence of survey about Provincial
Competitiveness Index - 2008 conducted by a research group of the university of Danang, the
artical identifies the causes which makes private businesses at Quang Ngai difficult in
approaching official credit capital and proposes some solutions for this matter.
1. Đặt vấn đề
Trong khoảng 5 năm trở lại đây, kinh tế tư nhân đã có sự phát triển mạnh mẽ và
đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi. Năm 2008, kinh
tế tư nhân đã đóng góp 38,5% GDP của cả tỉnh, cao gấp 2,5 lần so với khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài và đạt xấp xỉ với tỷ trọng của khu vực kinh tế nhà nước (39,22%).
Kinh tế tư nhân đã giải quyết đến 88,8% số lao động có việc làm của tỉnh. Có thể nói,
kinh tế tư nhân là nơi tạo động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế, góp phần quan trọng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; có ý
nghĩa quyết định đến việc giải quyết thu nhập, việc làm và các vấn đề xã hội của tỉnh
Quảng Ngãi. Sau một quá trình phát triển dài, đến nay doanh nghiệp kinh tế tư nhân
(KTTN) đã có sự tăng trưởng mạnh về số lượng, tuy nhiên chất lượng doanh nghiệp còn

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(35).2009
149
nhiều hạn chế, năng lực cạnh tranh thấp, chưa có khả năng vươn ra tầm khu vực hoặc
quốc tế. Sự phát triển của khu vực kinh tế này vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, trong đó
thiếu vốn và thiếu khả năng tiếp cận vốn thấp là vấn đề nghiêm trọng nhất.
Với thực trạng hơn 97% các doanh nghiệp thuộc quy mô nhỏ và vừa, mức vốn
điều lệ bình quân mỗi doanh nghiệp thấp (khoảng 1,4 tỷ đồng), việc phải huy động thêm
vốn từ bên ngoài phục vụ hoạt động là điều tất nhiên. Kết quả điều tra cho thấy hơn
90% doanh nghiệp kinh tế tư nhân tại đây đang có nhu cầu bổ sung vốn lưu động để duy
trì hoạt động; hơn 75% các doanh nghiệp đang có nhu cầu vốn trung và dài hạn phục vụ
cho đầu tư mở rộng hoặc hiện đại hoá quá trình sản xuất. Về nguồn vốn: Khoảng 80%
vốn của khu vực kinh tế tư nhân được huy động từ các tổ chức phi tài chính (thân nhân,
bạn bè…), chỉ có khoảng 20% được huy động từ tín dụng ngân hàng và một tỷ lệ rất
nhỏ từ nguồn vốn nhà nước và các nguồn khác. Việc huy động vốn từ các nguồn phi tài
chính, bên cạnh chi phí cao, rất khó đáp ứng được nhu cầu vốn lớn. Việc tiếp cận nguồn
vốn tín dụng chính thức của các doanh nghiệp KTTN tại Quảng Ngãi gặp rất nhiều khó
khăn từ phía Ngân hàng và các tổ chức tín dụng, từ phía doanh nghiệp và chính từ cơ
chế quản lý vĩ mô của Nhà nước.
Trên cơ sở kết quả điều tra xác định chỉ số PCI (Provinciall Competitiveness
Index) của tỉnh Quảng Ngãi do nhóm nghiên cứu của Đại học Đà Nẵng thực hiện, một
số nguyên nhân hạn chế việc tiếp cận nguồn vốn chính thức của các doanh nghiệp kinh
tế tư nhân tại Quảng Ngãi được xác định như dưới đây.
2. Các nguyên nhân hạn chế quá trình tiếp cận tín dụng chính thức của doanh
nghiệp kinh tế tư nhân tại Quảng Ngãi
2.1. Những nguyên nhân từ phía các tổ chức tín dụng, ngân hàng
Tại Quảng Ngãi tính chung trong hệ thống ngân hàng thương mại, dư nợ cho
khu vực kinh tế nhà nước chiếm đến 65,6%, trong khi đó dư nợ trong khối các doanh
nghiệp kinh tế tư nhân chỉ chiếm chưa đến 20%. Kết quả tìm hiểu cơ cấu cho vay theo
loại hình doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại (Bảng 01) cho thấy, phần đông
các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn dành ưu tiên lớn cho khối doan h nghiệp nhà
nước, tỷ trọng cho vay đối với các doanh nghiệp kinh tế tư nhân có tăng dần trong các
ngân hàng thương mại cổ phần, tuy nhiên các ngân hàng này có quy mô nhỏ, do vậy tỷ
trọng tăng nhưng dư nợ đối với kinh tế tư nhân vẫn rất thấp.
Bảng 1. Cơ cấu cho vay theo loại hình doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại tại Quảng Ngãi
STT Chi nhánh Ngân hàng Tỷ lệ
DN Nhà nước DN kinh tế tư nhân
DN FDI
1.
Incom Bank 88% 12% -
2.
Agri Bank 75% 25% -
3.
Vietcom Bank 65% 15% 20%

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(35).2009
150
4.
NH Đầu tư 60% 40% -
5.
Exim Bank 30% 49% 21%
6.
Sacom Bank 30% 60% 10%
7.
ACB 30% 60% 10%
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo hoạt động của các Chi nhánh ngân hàng thương mại tại Quảng Ngãi – năm 2007, 2008.
Kết quả điều tra cho thấy chỉ khoảng 15% số doanh nghiệp KTTN tiếp cận được
nguồn vốn tín dụng ngân hàng, 50% số doanh nghiệp có tiếp cận được nhưng rất khó,
35% số doanh nghiệp không thể tiếp cận được. Các nguyên nhân lớn dẫn đến việc
doanh nghiệp khó tiếp cận vốn xuất phát từ ngân hàng có thể dẫn ra như sau:
- Lãi suất vay vốn cao làm hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn chính thức.
Năm 2008, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua những biến động lớn, đầu năm là
lạm phát bùng nổ với tốc độ cao, cuối năm là suy thoái kinh tế do chịu tác động của suy
thoái toàn cầu. Cả hai đều có tác động rất tiêu cực đối với sự phát triển của khu vực
kinh tế tư nhân.
Trong điều kiện lạm phát, Nhà nước bắt buộc thực hiện chính sách thắt chặt tiền
tệ. Lãi suất cho vay được Ngân hàng Nhà nước khống chế ở mức 21%/năm. Với mức lãi
suất trần này, các doanh nghiệp KTTN không thể tiếp cận nổi do vượt quá khả năng trả
nợ của họ.
Trong điều kiện giảm phát và suy thoái những tháng cuối năm 2008, chính sách
thắt chặt tiền tệ của Nhà nước được nới lỏng, gói kích cầu bằng việc bù 4% lãi suất cho
các khoản vay ngắn hạn (dưới một năm) được Nhà nước áp dụng. Điều này đã làm giảm
gánh nặng lãi suất, tạo điều kiện cho việc vay vốn dễ dàng hơn. Tuy nhiên, do tỷ suất
lợi nhuận bình quân trong hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân tại đây quá thấp (phổ
biến ở mức 2,5%) thì mặc dù được bù lãi suất nhưng dường như vẫn đang vượt ngưỡng
chịu đựng. Bên cạnh đó, gói kích cầu của Chính phủ chỉ áp dụng cho việc vay vốn ngắn
hạn, thời hạn vay ngắn, để vay được đòi hỏi doanh nghiệp phải có phương án kinh
doanh rõ ràng… điều này phần đông các d oanh nghiệp không đáp ứng được. Số lượng
doanh nghiệp KTTN tại Quảng Ngãi tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi này rất nhỏ. Một
số lượng khá lớn các doanh nghiệp vay được đều sử dụng cho mục đích đáo hạn các
khoản vay cũ, do vậy hiệu quả của việc kích cầu không đạt được như kỳ vọng.
Suy thoái kinh tế cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng.
Điều này hướng các ngân hàng thương mại tập trung nhiều hơn vào các khách hàng lâu
năm, đã thiết lập được quan hệ và uy tín tín dụng. Tại Quảng Ngãi, tính đến thời điểm
hiện tại, hơn 50% doanh nghiệp KTTN mới được thành lập sau thời điểm Luật Doanh
nghiệp năm 2005 có hiệu lực. Hầu hết các doanh nghiệp này chưa thiết lập quan hệ với
ngân hàng, do vậy việc tiếp cận vốn lại càng khó khăn. Tại các ngân hàng thương mại
cổ phần, nơi dành phần lớn dư nợ cho kinh tế tư nhân, hầu hết đã "chạm" hạn mức tăng

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(35).2009
151
trưởng tín dụng và buộc phải cơ cấu lại hoạt động tín dụng, mặc dù xem kinh tế tư nhân
là đối tượng khách hàng chính song với tình hình hiện tại, các ngân hàng thương mại cổ
phần vẫn rất khó mở rộng đối tượng vay.
- Chất lượng tín dụng thấp, việc tăng cường hạn chế rủi ro tín dụng của ngân
hàng làm cho các doanh nghiệp kinh tế tư nhân càng khó tiếp cận vốn.
Kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Quảng Ngãi thời gian qua
mặc dù có tăng trưởng song thiếu bền vững. Tỷ trọng nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
khá cao. Tình trạng này đã buộc ngân hàng cẩn trọng hơn khi xem xét hồ sơ cho vay.
Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp KTTN các báo cáo tài chính của họ thiếu tính
minh bạch, hoạt động kế toán không đạt chuẩn. Ngân hàng sẽ gặp rủi ro lớn nếu họ
cung ứng vốn cho các doanh nghiệp này. Sự hiểu biết giữa của doanh nghiệp đối với các
quy định của ngân hàng thường rất hạn chế, hồ sơ và dự án vay thường không đầy đủ,
các ngân hàng rất khó và rất tốn kém để nhận ra các rủi ro từ các dự án của các doanh
nghiệp kinh tế tư nhân. Để đảm bảo an toàn, tối thiểu hóa rủi ro, các ngân hàng thường
hướng hoạt động cho vay vào những khách hàng được bảo lãnh bởi Chính phủ và các
doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Điều đó đã tạo nên một rào cản lớn trong việc tiếp
cận nguồn vốn của các doanh nghiệp kinh tế tư nhân.
- Chiến lược và chính sách hoạt động của các tổ chức tín dụng chưa thực sự
hướng vào các doanh nghiệp kinh tế tư nhân.
Cho đến nay mặc dù tư duy hoạt động của các ngân hàng đã cởi mở hơn đối với
khu vực kinh tế tư nhân, tuy nhiên chính sách hoạt động cụ thể lại chưa có sự điều chỉnh
đáng kể. Phần đông các tổ chức tín dụng mới chỉ xem doanh nghiệp kinh tế tư nhân là
khách hàng tiềm năng chứ chưa phải là khách hàng mục tiêu, nhất là các ngân hàng
thương mại nhà nước có tiềm lực mạnh. Kết quả điều tra cho thấy chưa có một chi
nhánh ngân hàng thương mại nào của Quảng Ngãi tiến hành các hoạt động điều tra tìm
hiểu về các doanh nghiệp KTTN. Với đặc điểm là quy mô quá nhỏ, ngành nghề kinh
doanh phân tán, trình độ của doanh nhân còn hạn chế, tổ chức quản lý doanh nghiệp còn
mang nặng tính chất gia đình... hầu hết các doanh nghiệp KTTN tại Quảng Ngãi đều
nằm ngoài hệ thống xếp loại khách hàng của ngân hàng; các chính sách về lãi suất, thời
hạn vay, quy mô món vay… của ngân hàng chủ yếu vẫn đang dành cho doanh nghiệp có
quy mô vừa và lớn, chưa phù hợp với các doanh nghiệp siêu nhỏ như ở Quảng Ngãi.
Các chi nhánh ngân hàng nào tại Quả ng Ngãi hầu hết đều chưa có cơ sở dữ liệu về khu
vực KTTN, việc tiếp cận nắm bắt thông tin, phân tích hoạt động của các doanh nghiệp
chưa thể tiến hành được. Trong điều kiện đó, việc ra các quyết định cho vay sẽ gặp
nhiều khó khăn, hoặc mất nhiều thời gian. Chính sách sản phẩm, chính sách lãi suất của
ngân hàng chưa phù hợp với đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ . Bên cạnh
đó, với hệ thống công nghệ lạc hậu, phân tán, các ngân hàng chưa thể tạo ra sản phẩm
mới, hiện đại, phù hợp với tính đa dạng của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(35).2009
152
- Sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp KTTN
của ngân hàng còn khá lớn.
Một hạn chế khá lớn trong hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Quảng
Ngãi là: rất ít hiểu doanh nghiệp, niềm tin vào hoạt động của doanh nghiệp chưa được
thiết lập…Điều này dẫn tới các quyết định cho vay của ngân hàng chủ yếu phải dựa vào
tài sản đảm bảo và các quan hệ cá nhân giữa lãnh đạo doanh nghiệp và ngân hàng. Do
phần đông mới được lập, các doanh nghiệp KTTN chưa có điều kiện để “thân thiết” với
ngân hàng như các doanh nghiệp Nhà nước. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc đánh
giá giá trị của tài sản đảm bảo và mức cho vay theo giá trị tài sản đảm bảo giữa khu vực
kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân (Bảng 02).
Bảng 02. Hạn mức cho vay theo % giá trị tài sản đảm bảo của các
ngân hàng theo loại hình doanh nghiệp tại Quảng Ngãi
Loại hình DN 20 - 30% 31 - 40% 41 - 50% 51 - 75% >75%
DN Nhà nước 0 0 0 40% 60%
Công ty TNHH 0 20% 30% 50% 0
Doanh nghiệp tư nhân 40% 10% 20% 30% 0
Công ty cổ phần 0 20% 30% 50% 0
Doanh nghiệp FDI 0 0 0 40% 60%
Nguồn: Kết quả điều tra, khảo sát các doanh nghiệp tại Quảng Ngãi năm 2008
Theo kết quả này, trong khi doanh nghiệp nhà nước được vay chủ yếu trên mức
75% giá trị tài sản đảm bảo t hì doanh nghiệp KTTN chỉ dừng lại ở mức khoảng 50%.
Như vậy, mặc dù các chính sách đều khẳng định sự không phân biệt, tuy nhiên trong
ứng xử thực tế, các ngân hàng đều chưa thoát ra khỏi định kiến về các doanh nghiệp
theo thành phần kinh tế. Bên cạnh nguyê n nhân nói trên, tình trạng ủy quyền quá lớn
cho cán bộ tín dụng trong việc đánh giá giá trị tài sản đảm bảo cũng là nguyên nhân dẫn
đến tình trạng tham nhũng, bắt buộc doanh nghiệp phải chi các khoản “lót tay” khi thẩm
định vay, điều này gây rất nhiều phiền phức và tốn kém cho doanh nghiệp KTTN trong
quá trình vay vốn.
2.2. Nguyên nhân từ phía doanh nghiệp
Việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức khó khăn còn xuất phát từ những
nguyên nhân bên trong của các doanh nghiệp KTTN. Các nguyên nhân chính được nhận
diện như sau:
- Giá thành sản phẩm cao và tỷ suất lợi nhuận thấp làm cho doanh nghiệp
KTTN khó vượt qua rào cản lãi suất.
Kết quả điều tra cho thấy, tỷ suất lợi nhuận của khối doanh nghiệp KTTN của
Quảng Ngãi rất thấp (Bảng 3).Trong năm 2008, tỷ suất lợi nhuận bình quân của các
doanh nghiệp KTTN phổ biến chỉ ở mức 2,5%, rất ít doanh nghiệp đạt mức trên 10%.

