MỘT SỐ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ SỰ LÀM VIỆC MỎI
CỦA BÊ TÔNG CỐT THÉP THƯỜNG
VÀ BÊ TÔNG CỐT THÉP CÓ SỢI
THE ANALYSIS AND ESTIMATION OF THE FATIGUE BEHAVIOUR OF
PLAIN AND FIBRE REINFORCED CONCRETE
BÙI THIÊN LAM
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng
TÓM TT
Bài viết này cung cấp một cái nhìn tổng quát những nghiên cứu hiện nay vsự làm việc mỏi
của bê tông cốt thép (BTCT) thường và BTCT có sợi. Mặc dầu có nhiều thông tin tương phản
nhau liên quan đến phản ứng mi của bê tông (BT), nhưng những kết quả nghiên cứu vđộ
bền mỏi của BT và cốt thép (CT) dưới lực mi cho thấy sự mặt của các sợi thép trong
BTCT làm tăng độ bền mỏi trong khối BTCT. Số liệu thực nghiệm về tuổi thọ mỏi của BTCT
thường và BTCT sợi cho thấy sợi thép trong kết cấu chịu mỏi uốn hiệu qun khá
nhiều so với kết cấu chịu mỏi nén.
ABSTRACT
This paper provides a overview of current researches of the fatigue behavior of plain and fibre
reinforced concrete. Although there is a significant amount of conflicting information regarding
the fatigue behaviour of concrete, the results of research on the fatigue life of reinforced
concrete under fatigue strength indicate that the presence of steel fibres in reinforced concrete
can improve the fatigue life of reinforced concrete block. The experimental data of fatigue life
of plain and fibre reinforced concrete shows that the steel fibres in bending fatigue structure
are more effective than in compressed fatigue structure.
1. Giới thiệu
Mỏi là mt quá trình thay đổi lâu dài cấu trúc bên trong vật liệu, phụ thuộc vào tải
trọng lặp. Trong BT, những thay đổi này liên quan mật thiết đến sự hình thành và phát triển
của các vết nứt nhbên trong, và sphá vỡ lực dính. Từ đó có thể dẫn đến sự hng nhanh
của BT và CT và tiếp theo là hư hng của kết cấu ng trình. Mặc dù BT là một vật liệu y
dựng được sử dụng rộng rãi, nhưng những hiểu biết về sự hỏng do mi của hỗn hợp xi
măng trong k thuật xây dựng hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế nhất là đối với BTCT có sợi.
Trong thực nghiệm, để xác định tải trọng mi, người ta làmc t nghiệm nén, kéo và
uốn. Phổ biến nhất là t nghiệm mỏi uốn, còn t nghiệm mi nén cũng được tiến hành nhưng
không nhiều. Trong những m gn đây, đặc điểm mi của BT về kéo được quan tâm n,
đặc biệt là tkhi những đề xuât vsự phá hoại học không tuyến tính khi phân tích sự
làm việc của BT. Thêm vào đó, mt vài tác giđã nghiên cứu về ảnh hưởng của t hợp ứng
suất đến biểu hiện mỏi của BT, qua đó thấy rằng cường độ mi của BT chịu nén hai trục thì
lớn n nén mt trục [5].
Hiện nay có nhiều phương pháp đánh giá smi của phần tử kết cấu, phổ biến nhất là
dùng biểu đồ S-N với những đường cong thực nghiệm của Wholer, Goodman hoặc của Smith.
Đồ thị của những đường cong thực nghiệm này dùng để biểu diễn mi thông qua những thông
số tải trọng nào đó. Một phương pháp khác là kết hợp phá vỡ cơ học với phương pp phần tử
hu hạn cũng được sử dụng trong đánh giá smi BTCT [3].
2. Sự làm việc mỏi của BTCT thường
2.1. BT dưới lực mỏi
Cơ học của snứt mi trong BT hoặc vữa thể chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn
thnhất từ những vùng byếu trong BT hoặc vữa và được coi là smở đầu cho nhng vết
nt. Giai đoạn thứ hai là shình tnh chậm các vết nứt với kích thước nói chung là rất nhỏ.
Còn giai đoạn ba diễn ra khi có sự hình thành đủ các vết nứt gây mất ổn định hoặc kích thước
các vết nứt tăng lên làm thu hẹp diện tích mặt cắt của kết cấu, nên kết cấu không còn đủ khả
năng chịu tải như khi tính toán dẫn đến hng [3].
Kết quả khảo sát biểu đồ tương quan giữa t lệ các chu kỳ và ng suất mi nén của BT
ở các giai đoạn được thể hiện ở hình 1.
Đồ thị hình 1 cho thấy giai đoạn đầu, BT thường chịu nén điu chỉnh lực hoặc
chu lực kéo mi ứng suất tăng mạnh một thời gian ngắn, sau đó đều đặn ng nhtrong
giai đoạn hai và giai đoạn cuối thì ng suất ng trlại mt cách đáng ktrước khi mẫu b
phá hoại [5]. Modun đàn hi của BT giảm đáng ktrong suốt thời gian t nghiệm do sự hình
thành vết nứt rất nhỏ.
Dưới lực nén dọc trục, sự rạn nứt nhtrong giai đoạn cuối này. Các vết nứt xuất
hiện thêm ni lại, song song với hướng lực tác dụng trên bmặt của mẫu dẫn đến hư hng
tiếp theo. Sự làm việc của BT dưới tác dụng của lực kéo mi cũng bị chi phối bởi sự lan
truyền vết nứt nhỏ ở thời kỳ đầu mt cách đều đặn và vuông góc với hướng ti trọng, cho đến
khi các vết nứt làm mu bị đứt. BT chịu ứng suất đổi chiều bị hư hng nhanh n, thgii
tch do sự tương tác giữa các vết nứt nhhướng khác nhau do lực nén và lực kéo gây ra.
2.2. CT dưới lực mỏi
Tuổi thọ mi của CT thể được chia thành pha rạn nứt đầu tiên, pha lan truyền vết
nt mt cách đều đặn và pha gãy dòn của phn tiết diện còn lại. Vết nứt ban đầu thanh thép
gthường bắt đầu c các gờ i ứng suất tập trung. Những mối hàn, chuốn
cong của những thanh thép và chbị ăn mòn cũng thường y ra vết nứt đầu tiên dẫn đến
cường độ mỏi thấp.
2.3. BTCT thường dưới lực mỏi
+ Mi do uốn: Lực mi gây ra sphá hoại dần lực dính giữa BT và CT. Brộng vết
nt sẽ lớn n phần BT chịu kéo sẽ nhỏ n kết quả là độ võng lớn hơn. S hư hỏng
1.0
0
ng su
t
t lệ chu kỳ
Hình 1: Biểu đồ quan hệ giữa tỷ lệ
chu kỳ và ứng suất mỏi
nén của BT thường
Hình 2: Mô hình vết nứt cắt do tải
trọng mỏi của một dầm
không có CT chịu cắt
thường xảy ra do CT chịu kéo hư hỏng mi. Một dạng hư hỏng học khác là do BT vùng
nén b ép vỡ.
+ Mi do cắt: Dầm không CT chu cắt (hình 2) phát triển vết nứt sau vài chu k
đầu tiên, biến dạng chỉ tăng ít. Vết nứt cắt tới hạn xuất hiện xuyên qua các vết nứt uốn. Chiều
rộng của vết nứt này không theo sthay đổi ứng suất nào kết quả là các dm bị do mi
của các thanh nén chống (mép trên dm). Các dầm có CT chịu cắt xuất hiện hư hỏng mi của
cốt đai hoặc phá vỡ BT chung quanh [5].
3. Sự làm việc mỏi của BTCT có sợi
Ngoài BTCT thường, BTCT sợi mt lãnh vực ứng dụng rộng rãi trong k thuật
xây dng như tn bay, đường cao tốc, cầu bản, sàn nhà công nghiệp v.v...,i nó chịu chủ
yếu là ti trọng lặp. đây, đặc tng mi là một trong những thông số quan trọng dùng để
thiết kế.
Nhìn chung, người ta thấy rằng thêm vào các sợi thép có thể cải thiện nhiều biểu hiện
mi uốn của BT [3] và điều đó ph thuộc nhiều vào s lượng sợi, các đặc tng của sợi.
Nhng hiểu biết về sự làm việc mi của BTCT sợi dưới ảnh hưởng của các yếu t như
dạng ti trọng, chu kỳ, t lệ ứng suất, các thông số về sợi đến nay vẫn còn nhiều thảo luận.
Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy, có thể làm chậm và kiềm chế sự phát triển vết
nt bằng cách đưa thêm vào các sợi phân bngẫu nhiên, với mật độ cao như những sợi gia
cố. Tác dụng của nhng sợi ngang, sợi dọc là làm phân tán năng lượng trên đỉnh vết nứt. Sự
hoạt động hc nầy vai trò chyếu trong việc làm chậm sự phát triển vết nứt và vy
làm tăng khả năng chịu mi của vật liệu.
4. So sánh, phân tích các kết quả nghiên cứu
- Kết quả thí nghiệm mi nén BTCT thường và BTCT có sợi [3], [4] với t lệ sợi 0.5%
1.0% (theo thtích) được so sánh hình 3. Qua đó thấy rằng kết quả được biểu diễn bằng
các đường tuyến tính tách biệt nhau. mức chu k thấp (logN <2), BTCT sợi với tl
1.0% đạt mức ứng suất mi thấp nhất, kế đến là BTCT có sợi với t lệ 0.5% và cao hơn mt ít
BTCT thường. Điều đó cho thấy mức chu kỳ thấp ny sự giảm nhẹ tuổi thọ mi của
BTCT sợi một cách tương đối so với BTCT thường chịu nén. Điều nầy được cho là do
thêm các vết nứt ban đầu bên trong BT bởi sự mặt của các sợi y ra. mức chu kcao
(logN >4), BTCT sợi với t lệ 1.0% đạt mức ứng suất mi cao hơn BTCT thường,
nhưng cũng không đáng kể, còn BTCT có sợi với t lệ 0.5% thì không cao hơn BTCT thường.
- Kết quả thí nghiệm mỏi un BTCT thường và BTCT dạng sợi [3], [4] được thực hiện
nhiu hơn, với t lệ sợi 0.5% và 1.0% (theo thtích) được thể hin hình 4. so sánh các
đường giảm tuyến tính của ba kết quả t nghiệm uốn. Đối lập với những quan sát tt
nghiệm mi nén, thí nghiệm mỏi uốn xuất hiện những lợi ích đáng kể tviệc thêm o các si
thép. Đồ thị nầy cho thấy sự cải thiện nầy sẽ là đáng kkhi mà m lượng sợi tăng t0 -
0.5% so với khi hàm lượng sợi tăng từ 0.5 - 1.0%.
Tthực nghiệm cho thấy BTCT sợi dưới ti trng mi uốn có hiệu quả cao n so
với ti trọng mi nén. Vì khi chịu uốn, dưới tác dụng của ứng suất kéo, các sợi thép khả
năng ni các vết nứt và kết quả là kéo i tuổi thọ mi của kết cấu. Ngược lại, những sợi nầy
không thhiện rõ tính hiệu quả thực của dưới tải trọng n vì dng hỏng nén là khác,
không có sự đóng góp đáng kể của các sợi.
5. Kết luận
- Slàm việc mỏi của BT phụ thuộc vào t lệ chu k trong đó ứng suất mỏi tăng lên
một cách đáng kể ở các chu kỳ cuối trước khi vật liệu bị hỏng.
- BTCT dưới tác dụng của ứng suất đổi chiều làm cho kết cấu bị hư hỏng mi nhanh
chóng hơn so với khi chịu ứng suất một chiều.
- Khi tm các si thép vào BTCT không làm tăng tuổi thọ mỏi dưới tải trọng mỏi n
nhưng làm tăng đáng ktuổi thọ mi dưới tác dụng của tải mi uốn. Điều này rất ý nghĩa
trong các kết cấu chịu mi uốn như bn mặt cầu, đường băng sân bay, dầm cầu trục, v.v...
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Chang D-I, Chai W-k., Flexual fracture and fatigue behaviour of steel-fiber-
reinforced concrete structures. Nucl Eng Des 1995:156:201-7
[2] Dyduch K., Szerszen, M and Desterbecq, J.F., Experimental investigation of the
fatigue of plain concrete under high compressive loading, Materials and Structures
1994. 27. 505- 509, 1994.
[3] M.K.Lee, B.I.G Barr, An overview of the fatigue behaviour of plain and fibre
reinforced concrete, Cement & Concrete Composites 26 (2004), pp 299-305, 2002.
[4] Grzybowski M, Meyer C., Damage accumulationin concrete with and without fiber
reinforcement, ACI Mater J 1993: 90(6): 594-604, 1993.
[5] Max Schlafli and Eugen Briihwiler, Fatigue of existing reinforced concrete bridge
deck slabs, Engineering Structure, Vol 20, No 11,pp 991-998, Printed in Great Britain,
1998.
Tuổi thọ mi, logN
M
c
ng su
t, S
1
0.9
0.8
0.7
0.5
0.4
0.6
0
2
4
6
8
M
c
ng su
t, S
0
2
4
6
8
1
0.9
0
.8
0.7
0.5
0.4
0.6
Tui thọ mi, logN
Hình 3: So nh quan hS-N giứa BTCT
thường và BTCT sợi (hàm lượng 0.5%
1.0%) chu mỏi nén.
BTCT thường
BTCT có sợi (0.5%)
BTCT có sợi (1.0%)
Hình 4: So nh quan hS-N giứa BTCT
thường và BTCT sợi (hàm lượng 0.5%
1.0%) chu mỏi uốn.
BTCT thường
BTCT có sợi (0.5%)
BTCT có sợi (1.0%)