intTypePromotion=1
ADSENSE

Phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số ảnh hưởng đến tiêu chí giáo dục trong xây dựng nông thôn mới ở khu vực miền núi phía Bắc

Chia sẻ: ViSamurai2711 ViSamurai2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

119
lượt xem
7
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về một số phong tục tập quán các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc và ảnh hưởng của nó tới tiêu chí giáo dục trong xây dựng nông thôn mới. Từ hướng tiếp cận dân tộc học, nhóm nghiên cứu đánh giá thực trạng các mối quan hệ trong nội tại và sự tác động đa chiều của yếu tố phong tục tập quán trong quá trình phát triển ở vùng dân tộc thiểu số và quá trình thực hiện tiêu chí giáo dục trong xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh miền núi phía Bắc.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số ảnh hưởng đến tiêu chí giáo dục trong xây dựng nông thôn mới ở khu vực miền núi phía Bắc

Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC<br /> <br /> <br /> <br /> PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ ẢNH HƯỞNG<br /> ĐẾN TIÊU CHÍ GIÁO DỤC TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở<br /> KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC<br /> Trần Trung(1)<br /> <br /> B<br /> ài viết trình bày kết quả nghiên cứu về một số phong tục tập quán các dân tộc thiểu số miền<br /> núi phía Bắc và ảnh hưởng của nó tới tiêu chí giáo dục trong xây dựng nông thôn mới. Từ<br /> hướng tiếp cận dân tộc học, nhóm nghiên cứu đánh giá thực trạng các mối quan hệ trong nội tại và<br /> sự tác động đa chiều của yếu tố phong tục tập quán trong quá trình phát triển ở vùng dân tộc thiểu<br /> số và quá trình thực hiện tiêu chí giáo dục trong xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh miền núi phía<br /> Bắc. Tiếp cận dựa trên những nhận thức về bối cảnh văn hoá – xã hội cụ thể của các dân tộc thiểu<br /> số miền núi phía Bắc, mối quan hệ biện chứng giữa các thành tố văn hoá trong quá trình chuyển đổi,<br /> chịu sự tác động bởi những yếu tố nội tại và bên ngoài.<br /> Từ khóa: Phong tục tập quán, tiêu chí giáo dục, nông thôn mới, khu vực miền núi phía Bắc.<br /> <br /> 1. Đặt vấn đề tiêu chí liên quan đến văn hóa trong xây dựng<br /> Miền núi phía Bắc là địa bàn cư trú của nông thôn mới ở vùng miền núi và dân tộc thiểu<br /> hơn 40 dân tộc, trong đó các dân tộc có dân số số, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ xây dựng nông<br /> lớn, như: Mông, Nùng, Tày, Mường,... Các dân thôn mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc.<br /> tộc thiểu số (DTTS) miền núi phía Bắc chiếm tỷ 2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội<br /> lệ 54,68% so với tổng dân số các DTTS ở Việt miền núi phía Bắc<br /> Nam1; 7 tỉnh có tỷ lệ DTTS chiếm trên 80% Miền núi phía Bắc có điều kiện tự nhiên<br /> là: Cao Bằng (94,25%), Hà Giang (86,75%), đặc thù rất khó khăn trong phát triển kinh tế - xã<br /> Bắc Kạn (86,63%), Lạng Sơn (83,01%), Sơn hội; là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao và có nhiều<br /> La (82,39%), Lai Châu (82,02%) và Điện Biện huyện đặc biệt khó khăn trong cả nước. Cho đến<br /> (81,58%).<br /> nay, các xã đạt tiêu chí nông thôn mới ở vùng<br /> Trong quá trình xây dựng nông thôn mới miền núi phía Bắc khá thấp, chỉ đạt bình quân 3,5<br /> hiện nay, phong tục tập quán của các DTTS có chỉ tiêu trên một xã. Từ lâu người dân các DTTS<br /> những ảnh hưởng tích cực, nhưng đồng thời cũng miền núi phía Bắc đã luôn duy trì các mô hình đa<br /> gây ra những khó khăn, hạn chế. Bài viết này tập dạng sinh kế gắn với môi trường tự nhiên. Ngoài<br /> trung đánh giá về thực trạng và ảnh hưởng của trồng trọt, các DTTS nơi đây còn có nhiều hoạt<br /> phong tục tập quán đến xây dựng nông thôn mới động sinh kế bổ trợ khác như chăn nuôi, làm nghề<br /> ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Trên cơ sở đó nêu thủ công gia đình, săn bắt hái lượm và trao đổi<br /> lên những giá trị tích cực của các phong tục tập hàng hóa. Các nghề thủ công truyền thống của<br /> quán của các DTTS kết hợp với hệ thống luật các tộc người thiểu số chủ yếu chỉ phục vụ nhu<br /> pháp trong quá trình đẩy mạnh hiệu quả việc thực<br /> cầu tự thân. Đặc biệt, kinh tế tự nhiên, săn bắt hái<br /> đời sống nông thôn mới; đồng thời nghiên cứu<br /> lượm trước đây có vai trò rất quan trọng đối với<br /> những phong tục tập quán đang cản trở việc thực<br /> mỗi gia đình và cộng đồng. Người dân các tộc<br /> hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà<br /> người thiểu số miền núi phía Bắc không chỉ biết<br /> nước trong xây dựng nông thôn mới. Đề xuất giải<br /> khai thác lâm, thổ sản từ rừng (gỗ để làm nhà,<br /> pháp đổi mới trong quá trình thực hiện một số<br /> củi đun, rau xanh, thịt thú rừng, cây thuốc,…) mà<br /> 1<br /> . Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009. còn rất giỏi trong việc đánh bắt động vật thủy<br /> Ngày nhận bài: 2/3/2017. Ngày phản biện: 5/3/2017. Ngày duyệt đăng: 13/3/2017<br /> (1)<br /> Học viện Dân tộc; e-mail: trantrung@cema.gov.vn Số 17 - Tháng 3 năm 20177<br /> Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC<br /> <br /> sinh phục vụ đời sống. Việc giao thương, trao Biểu đồ: Thực trạng không nói thạo tiếng phổ<br /> đổi hàng hóa giữa các dân tộc hay khu vực đã thông của chủ hộ<br /> xuất hiện từ rất sớm và đặc biệt phát triển mạnh<br /> ở vùng Đông Bắc. Tuy nhiên, các tộc người thiểu<br /> số chủ yếu vẫn giữ đặc điểm kinh tế tự cung tự<br /> cấp, ít có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi<br /> nên khả năng phát triển kinh tế hộ gia đình gặp<br /> rất nhiều khó khăn.<br /> 3. Ảnh hưởng của phong tục tập quán<br /> các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía<br /> Bắc đến tiêu chí giáo dục trong xây dựng nông Về trình độ học vấn, qua đánh giá thực trạng<br /> thôn mới tại 4 tỉnh cho thấy, số người có trình độ học vấn<br /> Với các tỉnh miền núi phía Bắc, nội dung chỉ ở cấp tiểu học trở xuống trong nhóm dưới 35<br /> tiêu chí về giáo dục quy định rõ các xã đạt nông tuổi vẫn có tỷ lệ khá cao (22,2%), trình độ trung<br /> thôn mới phải đạt phổ cập giáo dục trung học; tỷ học cơ sở là 37,1% và trung học phổ thông trở lên<br /> lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp là 41,6%. Ở nhóm từ 45 tuổi trở lên, tỷ lệ người<br /> tục học trung học phổ thông, bổ túc hay học nghề có trình học tiểu học trở xuống chiếm 40,4% và<br /> đạt 70%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 20% đạt từ trung học phổ thông trở lên là 31,1%. Thực<br /> trở lên. Do địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó trạng về trình độ học vấn ở các DTTS chưa được<br /> khăn, các thôn, bản lại xa trung tâm xã nên nhiều cải thiện.<br /> học sinh ở các huyện miền núi, nhất là khu vực Bảng 1. Thực trạng về trình độ học vấn của chủ<br /> vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn trong hộ chia theo dân tộc<br /> việc đến lớp. Học vấn của người trả lời<br /> Dân<br /> Các trường và điểm trường khi xây dựng tộc Tiểu học Trung học Trung học phổ thông Tổng cộng<br /> trở xuống cơ sở trở lên<br /> đạt chuẩn quốc gia phải có đầy đủ các phòng học,<br /> 4 25 43 72<br /> phòng chức năng (phục vụ học tập và các phòng Tày<br /> 1.8% 10.0% 18.1% 10.1%<br /> khối hành chính), tuy nhiên thiết bị dạy học, nhà Nùng<br /> 25<br /> 11.1%<br /> 38<br /> 15.1%<br /> 47<br /> 19.7%<br /> 110<br /> 15.4%<br /> vệ sinh, nước sinh hoạt đều thiếu hoặc không có Mường<br /> 31 74 92 197<br /> 13.7% 29.5% 38.7% 27.6%<br /> hoặc không sử dụng hết công năng. 40 6 0 46<br /> Mông<br /> 17.7% 2.4% .0% 6.4%<br /> Việc áp dụng tiêu chí phổ cập giáo dục theo 112 94 46 252<br /> Dao<br /> theo từng cấp hiện nay rất khó khăn khi mà phần 49.6% 37.5% 19.3% 35.2%<br /> Sán 8 7 2 17<br /> lớn đồng bào các dân tộc Mông, Dao, Tày, Nùng, Chay 3.5% 2.8% .8% 2.4%<br /> 6 7 8 21<br /> Sán Chay… sống ở những nơi gặp rất nhiều khó Khác<br /> 2.7% 2.8% 3.4% 2.9%<br /> khăn về cơ sở vật chất. Cơ sở vật chất dành cho Tổng<br /> 226 251 238 715<br /> cộng<br /> trường học, thiết bị dạy học còn thiếu, chưa đồng 100.0% 100.0% 100.0% 100.0%<br /> bộ. Hhiệu quả sử dụng thiết bị dạy học còn thấp, (Nguồn: Tổng cục Thống kê)<br /> đội ngũ nhân viên chuyên trách về thiết bị cơ bản Trở ngại lớn nhất đối với việc thúc đẩy<br /> còn thiếu,... Bên cạnh đó, chất lượng dạy và học giáo dục ở vùng DTTS là những phong tục tập<br /> chưa đồng đều, chưa bảo đảm tính bền vững; học quán, thói quen của đồng bào. Do sống trong<br /> sinh chưa chuyên cần, vẫn còn học sinh bỏ học; môi trường lao động gần gũi với thiên nhiên, sản<br /> tỷ lệ học sinh yếu, kém còn cao so với mặt bằng xuất tự cung tự cấp, sử dụng lao động thủ công là<br /> chung cả nước. chính, việc đi học và thu nhận các kiến thức khoa<br /> Ở một số dân tộc như Mông, Nùng, Dao,... học kỹ thuật đối với đồng bào các tộc người thiểu<br /> tình trạng mù chữ và tái mù chữ khá phổ biến, số là một khoảng cách xa và không có thực tiễn<br /> không giảm trong những năm gần đây. theo quan niệm và nhận thức của họ. <br /> <br /> 8 Số 17 - Tháng 3 năm 2017<br /> Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC<br /> <br /> Với sự hỗ trợ của các chính sách đối với vùng Trung du và miền núi phía Bắc khá thấp,<br /> vùng DTTS và miền núi về giáo dục, việc đến đạt 3,83% so với 8,11% của cả nước. Số lao động<br /> trường của con em đồng bào các dân tộc gần như chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa qua<br /> được miễn phí, ngoài ra còn có nhiều hỗ trợ về đào tạo ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn<br /> bán trú, nội trú,... Qua khảo sát thực địa cho thấy, khá thấp.<br /> 90% số hộ gia đình được hỏi cho rằng họ không Bảng 4. Tỷ lệ lao động nam người dân tộc thiểu<br /> phải chi trả các khoản chi tiêu cho giáo dục. số chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật<br /> Bảng 2. Thực trạng chi tiêu cho giáo dục của hộ Cơ cấu lao động chia theo trình độ chuyên<br /> Dân tộc Tỷ lệ<br /> gia đình chia theo dân tộc môn kỹ thuật<br /> chung<br /> Chi cho học hành của con cái Sơ cấp, Đại đã qua<br /> TT Dân tộc Tổng cộng công nhân Trung cấp Cao đẳng học trở đào tạo<br /> Không Có<br /> 35 1 36 kỹ thuật lên<br /> 1 Tày<br /> 8.0% 2.4% 7.5% Tày 1,3 5,9 2,1 3,7 13,0<br /> 36 4 40<br /> 2 Nùng Thái 0,8 3,6 1,2 1,6 7,3<br /> 8.3% 9.5% 8.4%<br /> 117 31 148 Mường 1,5 3,4 1,3 1,6 7,9<br /> 3 Mường<br /> 26.8% 73.8% 31.0%<br /> 68 0 68 Nùng 0,8 2,8 1,2 1,4 6,2<br /> 4 Mông<br /> 15.6% .0% 14.2%<br /> 153 6 159 Mông 0,2 2,0 0,5 0,7 3,4<br /> 5 Dao<br /> 35.1% 14.3% 33.3% Dao 0,4 1,5 0,4 0,4 2,8<br /> 14 0 14<br /> 6 Sán Chay Sán Chay 0,5 1,9 0,7 0,8 3,9<br /> 3.2% .0% 2.9%<br /> 7 Khác<br /> 13<br /> 3.0%<br /> 0<br /> .0%<br /> 13<br /> 2.7%<br /> (Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra nông<br /> Tổng cộng 436 42 478 nghiệp, nông thôn 2011)<br /> 100.0% 100.0% 100.0%<br /> (Nguồn: Tổng cục Thống kê) So sánh giữa các dân tộc, dân tộc Tày có tỷ<br /> lệ lao động qua đào tạo cao nhất (3,7% có trình<br /> Trẻ em DTTS vốn đã quen môi trường giao độ đại học trở lên), dân tộc Mông và Dao có tỷ lệ<br /> tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, nên việc tiếp cận tiếng Việt thấp nhất ở tất cả các trình độ từ sơ cấp trở lên.<br /> đối với trẻ trở nên khó khăn khi đi học. Một trong Thực tế này cũng phản ánh rõ nét những trở ngại<br /> những trở ngại trong việc dạy tiếng Việt cho trẻ của phong tục tập quán đối với tiêu chí đào tạo<br /> là các em đi học không đúng độ tuổi. Hầu hết nghề và chuyển đổi nghề ở một số tộc người vùng<br /> điểm lẻ của các trường đều không có giáo viên miền núi phía Bắc.<br /> biết tiếng DTTS. Kinh phí hỗ trợ giáo viên cũng<br /> như đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng đồ Trở ngại lớn nhất đối với hoạt động đào tạo<br /> chơi phục vụ giảng dạy chưa đáp ứng nhu cầu. nghề là tâm lý của đồng bào các dân tộc không<br /> muốn đi xa gia đình, cộng đồng. Thói quen của<br /> Bảng 3. Tỷ lệ nữ dân tộc thiểu số biết đọc, viết nền sản xuất tự cung tự cấp gắn chặt với các hoạt<br /> chữ phổ thông động của cộng đồng đã trở thành tâm lý tự ti khi<br /> TT Tên dân tộc<br /> Tỷ lệ biết đọc, biết Tỷ lệ không biết phải giao tiếp, trao đổi với những người ngoài<br /> viết đọc, viết<br /> cộng đồng, kể cả đối với nam giới trong độ tuổi<br /> 1 Tày 93,3 6,7<br /> lao động. Do trình hạn chế về trình độ học vấn<br /> 2 Mường 93,6 6,6<br /> 3 Nùng 84,5 15,5<br /> nên phần lớn lao động trong độ tuổi vẫn lựa chọn<br /> 4 Mông 33,3 66,7<br /> các hình thức lao động giản đơn và gắn với sản<br /> 5 Dao 61,7 38,3<br /> xuất nông, lâm nghiệp là chủ yếu. 98% người<br /> 6 Sán Chay 85,7 14,3 được hỏi cho rằng yếu tố giáo dục không được<br /> (Nguồn: Tổng cục Thống kê, Uỷ ban Dân tộc, 2016) coi là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nông<br /> thôn mới.3<br /> Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ<br /> những người được đào tạo nghề từ trung cấp trở 4. Một số đề xuất, kiến nghị<br /> lên ở vùng miền núi phía Bắc còn khá khiêm tốn, Đối với các DTTS vùng miền núi phía Bắc,<br /> mới chỉ đạt 7,5%2. Tỷ lệ xã đạt tiêu chí về cơ cấu ảnh hưởng của phong tục tập quán đến tiêu chí<br /> lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp ở giáo dục khá rõ nét. Nhiều yếu tố tích cực của<br /> 2<br /> . Kết quả điều tra Nông nghiệp và Nông thôn năm 2011. 3<br /> . Kết quả điều tra của Đề tài.<br /> <br /> Số 17 - Tháng 3 năm 2017 9<br /> Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC<br /> <br /> phong tục tập quán cơ sở quan trọng để thực hiện thiểu số chấp nhận trong điều kiện hầu hết trong<br /> chương trình Nông thôn mới. Dựa trên những số họ là hộ nghèo, chưa có đủ lương thực và các<br /> điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể của điều kiện sống tối thiểu khác. Một số tộc người<br /> từng tộc người, cần phải khai thác một cách phù thiểu số vẫn còn lưu giữ tập quán kết hôn sớm,<br /> hợp những yếu tố tích cực đó để triển khai thực nhất là các tộc người cư trú ở vùng cao. Tập tục<br /> hiện tiêu chí giáo dục trong quá trình xây dựng tảo hôn còn khá phổ biến trong cộng đồng các<br /> nông thôn mới. Các địa phương cần tổ chức rà tộc người thiểu số. Những hạn chế của tập tục tảo<br /> soát, đánh giá một cách hệ thống, cụ thể, rõ ràng hôn đã ảnh hưởng đến việc tham gia học tập, vui<br /> những thế mạnh của từng địa bàn, tổ chức thảo chơi của trẻ em trong độ tuổi đến trường.<br /> luận rộng rãi, đảm bảo tính dân chủ trong xây Cần có các chính sách phù hợp để phát huy<br /> dựng kế hoạch thực hiện nông thôn mới. Nhờ các yếu tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế các yếu<br /> phát huy tinh thần làm chủ của người dân, các tố ảnh hưởng tiêu cực của phong tục tập quán<br /> hình thức và phương thức áp dụng tiêu chí xây các DTTS đến việc hoàn thành tiêu chí giáo dục<br /> dựng nông thôn mới sẽ được tính toán, áp dụng trong xây dựng nông thôn mới ở khu vực miền<br /> và đưa vào thực tiễn một cách linh hoạt và hiệu núi phía Bắc.<br /> quả. Cần có những chỉnh sửa, thay đổi cách làm Tài liệu tham khảo<br /> ở một số địa phương trong xây dựng hương ước,<br /> quy ước nhằm tăng cường tính chủ động của 1. Hoàng Cầm, Phạm Quỳnh Phương,<br /> cộng đồng, phát huy vai trò của những người có 2012. Diễn ngôn, chính sách và sự biến đổi văn<br /> uy tín để tuyên truyền, vận động đồng bào các hóa – sinh kế tộc người (tài liệu tham khảo);<br /> dân tộc thay đổi một số thói quen, phong tục tập 2. Hoàng Văn Hoan, 2014. Xây dựng nông<br /> quán không còn phù hợp, đáp ứng các yêu cầu về thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây<br /> xây dựng nông thôn mới. Bắc nước ta hiện nay; Nxb. Chính trị Quốc gia, H;<br /> Tuy nhiên, cũng cần đặt ra những giải pháp 3. Hoàng Văn Hoan, 2014. Xây dựng Nông<br /> xây dựng các tiêu chí phù hợp hơn với từng dân thôn mới: Vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc<br /> tộc, từng địa phương để vừa đảm bảo được các nước ta hiện nay. Nxb. Chính trị Quốc gia, 2014;<br /> yêu cầu trong cuộc vận động xây dựng nếp sống 4. Lê Thị Thanh Hương, 2015. Một số yếu<br /> mới, vừa giữ gìn được bản sắc văn hoá từng dân tố tâm lý của người nông dân ảnh hưởng đến quá<br /> tộc; tạo được sự đồng thuận, đoàn kết trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Nxb. Khoa học Xã<br /> trình xây dựng nông thôn mới ở vùng DTTS. hội, 2015;<br /> 5. Kết luận 5. Nguyen Thi Anh Thu, 2013. One village<br /> Qua nghiên cứu cho thấy, đối với đồng bào one product in Japan to one tambon one product<br /> các DTTS, việc đi học chưa được quan tâm bằng in Thailand: Lessons for grass root development<br /> các hoạt động sinh kế để đảm bảo đời sống hàng in developing countries. Journal of social and<br /> ngày. Các khoản chi phí đóng góp cho con đi học development sciences. Vol 4, No 12, Dec 2013.<br /> xa nhà cũng chưa được các gia đình tộc người (ISSN 2221-1152).<br /> <br /> ABSTRACT<br /> THE CUSTOMS, CONSUETUDES OF ETHNIC MINORITIES HAVE AN EFFECT<br /> ON EDUCATIONAL CRITERIA IN NEW RURAL DEVELOPMENT IN NORTHERN<br /> MOUNTAINOUS REGIONS<br /> The paper presents the research results on some customs of the Northern Upland minorities and<br /> its influence on educational criteria in the new rural construction. From the ethnographic approach,<br /> the team assessed the internal relations and the multidimensional impact of customary elements on<br /> the ethnic minority development process and its application of educational criteria in new rural<br /> construction in northern mountainous provinces in the present period.<br /> Keywords: Customs, Consuetudes; Educational Criteria, New Rural Construction; Northern<br /> Mountainous Regions<br /> <br /> 10 Số 17 - Tháng 3 năm 2017<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2