Phương thuốc điều trị bệnh
tiểu đường đã được tìm ra
như thế nào?
Tiểu đường hiện đang là một trong những bệnh về nội tiết phổ biến
nhất trên thế giới và được dự báo là sẽ bùng phát như một đại dịch ca
thế kỷ 21. Hiện có khoảng 240 triệu bệnh nhân tiểu đường với hơn 3
triu người thiệt mạng mỗi năm. Mặc dù căn bệnh nguy hiểm này được
biết đến từ 2.500 năm trước nhưng con người đã phải mất một thời gian
khá dài để tìm ra bn cht thật sự của nó. Quá trình hoàn thin phương
thuốc điều trị bệnh tiểu đưng là một mốc son trong lịch sử y học.
Chng đưng gian khó
Từ xa xưa, con người đã đề cập đến một thể bệnh với dấu hiệu đặc trưng là
mệt mỏi, khát nước, tiểu nhiều (đa niệu).m 1776, Matthew Dobson phát
hiện đường hiện diện trong nước tiểu của những bệnh nhân y. Từ đó đã
hình thành phương pháp đu tiên điều trị bệnh tiểu đường, đó là: hạn chế
đường trong chế độ ăn. Tuy nhiên, phương pháp này không mấy thành công.
Hơn 100 năm sau, năm 1889, Oskar Minskowski và Joseph von Mering
khẳng định bệnh tiu đường là do tn thương tụy. Hai ông đã thử cắt bỏ tụy
của chó và thấy bệnh tiu đường xuất hiện, bệnh cảnh lâm sàng rất nặng nề,
con vật chết chỉ sau vài tuần.
Tiếp theo, năm 1900, Eugen L. Opie nghiên cu mô tụy của một bé gái chết
do bệnh tiểu đường, ghi nhận rằng các tiểu đảo tụy thoái hóa nặng nề đến
nỗi không thể nhận dạng được. Tiểu đảo này lần đầu tiên được Langerhans
mô tvào năm 1869 nhưng thời đó chính tác giả hoàn toàn không biết rõ
chức năng của nó. Năm 1893, nhà sinh học người Pháp E. Laguesse đặt tên
là tiểu đảo Langerhans và xác nhận tiểu đảo này có vai trò ni tiết. Tiếp sau,
BS. Georg Ludwig Zuelzer người Đức đã trthành người đi tiên phong, táo
bạo nhất trong quá trình tìm kiếm chất chiết xuất tụy (còn gọi là insulin,
danh tinsulin tồn tại trước khi tìm thy chất này). Ông bào chế được chất
chiết xuất tụy và ngày 21/6/1906, ông đã tiêm cho một bệnh nhân tiểu đường
đang hôn mê. Bệnh nhân qua đượcn nguy kịch. Tuy nhiên, vì khi đó
Zuelzer không có đủ lượng thuốc qgiá này nên 4 ngày sau, bệnh nhân lại
rơi vào tình trng mất ý thức và qua đời. Vp phải những hoài nghi của đồng
nghiệp, những khó khăn khi đưa vào sản xuất, rồi cuộc chiến tranh thế giới
nổ ra, Zuelzer nhập ngũ và từ bỏ hoàn toàn công việc nghiên cứu.
Frederick Grant Banting.
Và mốc son lớn
Trong suốt 20 năm đầu của thế kỷ 20, vô số các công trình nghiên cu được
thực hiện nhằm tìm ra phương thuốc điều trị bệnh tiểu đường nhưng hầu hết
đều thất bại. Năm 1921, một phẫu thuật viên người Canada với ý tưởng thực
tế đã chiết xuất thành công chất insulin, đánh giá một mốc son trong lịch sử
y học. Tên ông là Frederick Grant Banting, sinh ngày 14/11/1891 ti
Alliston, Ontario, Canada.
Đó là vào mùa thu năm 1920, lúc bấy giờ Banting đang làm trmôn giải
phẫu và sinh lý Trường đại học y khoa Western Ontario. Ngày 3/10/1920,
trong khi chuẩn bị một bài giảng liên quan đến tụy và bnh tiểu đường, tình
cờ ông đọc được báo cáo của GS. Moses Baron về trường hợp sỏi ống tụy
hiếm gặp. Baron chứng minh được rằng tắc ống tụy gây nên tình trạng thoái
hóa mô tụy nhưng tiểu đảo tụy gần như bình thường. Baron đã thắt ống tụy
của chó và tái lập hội chứng này trên thc nghiệm. Đột nhiên, Banting có ý
nghĩ đây là phương pháp bào chế chiết xuất từ tiểu đảo tụy. Ông ghi vào s
tay phương pháp thử nghiệm "Thắt ống tụy - chờ 6 - 8 tuần để mô tụy thoái
hóa - cắt tụy và bào chế chất chiết xuất từ tiểu đảo". Ông đến Toronto để
trình bày ý tưởng này vi những người bạn và với BS. John James Rickard
Macleod, giáo sư sinh lý học Trường đại học Toronto. Macleod không
những không động viên, cổ vũ ông mà còn hoài nghi ý tưởng này. Tuy
nhiên, Macleod đồng ý cho ông sử dụng một sở thí nghiệm, 10 con chó, 1
trợ lý trong hai tháng kèm theo các phương tiện để đo đường máu, đường
niệu. Thật may mắn, trợ lý cho Banting là Charles Hebert Best, một sinh
viên y khoa 22 tuổi, không chỉ có khả năng định lượng đường máu, đường
niệu rất cần cho quy trình thực nghiệm mà còn là một cộng tác viên đầy
nhiệt tình và cương quyết.
Ngày 16/5/1921, Banting và Best mổ chó, thắt ống tụy nhưng cuối cùng tụy
không thoái hóa như mong đợi. Họ tiếp tục thử nghiệm lần thứ hai và lần
này thành công. Mlấy tụy và nghiền mô tụy với dung dịch nước muối, lấy
dch trộn này tiêm vào con chó mắc bệnh tiểu đường đang trong tình trng
nguy kịch, đường huyết rất cao. Trong vòng 2 giờ, tình trng cải thiện rất
nhiều. Đường huyết hạ xuống một nửa so với trước. Điu kỳ diệu đã xảy ra!
Họ đã bào chế được chất chiết xuất từ tiểu đảo tụy, có tác dụng hạ đường
huyết và khiến cho bệnh tiểu đường thuyên giảm ít nhất trong chốc lát.
Nhng tài năng cần được vinh danh
Banting và Best lao vào làm việc dữ dội để cải thiện phương pháp chiết xuất,
tìm kiếm nguồn sản xut "isletin" (Họ đặt tên cho chất chiết xuất từ tiểu đảo
tụy này là "isletin" theo tiếng Anh, có nghĩa là tiểu đảo. Sau đó, GS.
Macleod đã sáng tạo lại danh từ "insulin" theo tiếng Latinh để gọi tên
hormon mới này thay cho "isletin").
m 1922 cùng với sự cộng tác của một nhà hóa sinh 29 tui người Canada,
James Bertram Collip, Banting và Best đã thu được một lượng lớn insulin
thuần khiết để điều trị. Tháng 1/1922, hai ông đã tiêm insulin cho Leonard
Thompson, 14 tuổi, mắc bệnh tiểu đường đang hôn mê. Bnh nhân hồi phục
nhanh chóng, kéo i cuộc sống tm 13 năm nữa. Với tinh thần nhân đạo,
Banting và Best không nhn bất kmột nguồn lợi nào tphát minh vĩ đại
này. Hđã ủy nhiệm quyền phát minh này cho một ủy ban thuộc Trường đại
học Toronto. Banting được toàn thế giới tôn vinh. Năm 1923, giải Nobel Y
học được trao cho ông và Macleod vì công lao phát hin insulin. Banting tỏ
ý không hài lòng vì Best, người cống hiến nhiều công sức cho phát minh này
không được nhận giải thưởng và ông đã chia sẻ phần của ông cho Best.
Cũng trong năm này, Trường đại học Toronto thành lập khoa nghiên cứu
mang tên Banting - Best và Banting được cử làm chnhiệm. Nng chiến
tranh thế giới lần thứ hai đã cắt ngang mọi dự định của ông. Năm 1939, ông
mặc bộ quân phục một lần nữa. Ngày 21/2/1941, ông đã tnạn trong một
chuyến bay công vụ ở Anh. Tuy nhiên, phương pháp điều trị bằng insulin từ
đó đã trở thành một phương pháp hiệu quả, hiện đang được áp dụng rộng rãi
trên toàn thế gii và là cu cánh duy nhất cho những bệnh nhân không may
mắc phải căn bệnh tiểu đường.