CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Tổ chức hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân
gian nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học và nâng cao chất lượng môn Ngữ văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Yên Dũng số 3
2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 10/9/2020 3. Các thông tin cần bảo mật: Không
4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: Trước khi giải pháp này được thực hiện tại trường trung học phổ thông Yên Dũng số 3, chuyên đề sáng kiến kinh nghiệm về hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian đã được thực hiện ở nhiều trường. Tuy nhiên, hầu hết những tài liệu này đều có điểm chung về hình thức xây dựng hoạt động là: tổ chức thành một buổi ngoại khóa, như hoạt động ngoài giờ lên lớp; hoạt động này diễn ra sau khi đã học xong chương trình văn học dân gian. Mặc dù cách thức tổ chức như vậy vẫn mang lại ý nghĩa nhất định, song lại dẫn đến hiện tượng “no dồn, đói góp”. Học sinh không có được sự thú vị khi trải nghiệm hoạt động sân khấu hóa trong từng giờ học. Vì vậy phần nào đã làm giảm niềm hứng thú, yêu thích môn Ngữ văn nói chung và văn học dân gian nói riêng.
5. Sự cần thiết áp dụng giải pháp sáng kiến Khi dạy chuyên đề văn học dân gian, bản thân tôi luôn thường trực niềm trăn trở: làm thế nào để học sinh có thể cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học dân gian; làm thế nào để các em yêu thích bộ phận văn học này trong bối cảnh xã hội hiện đại ngày nay, để mỗi tác phẩm sẽ trở thành “viên ngọc lấp lánh” trong tâm hồn các em. Từ trăn trở đó và với kinh nghiệm giảng dạy, tôi nhận thấy rất cần áp dụng giải pháp sáng kiến này trong các giờ học văn học dân gian. Thậm chí, giải pháp này có thể phát triển để áp dụng cả với bộ phận văn học viết và văn học nước ngoài. Thú vị, bổ ích và phù hợp là những từ để dành cho hoạt động này trong giờ học. Bởi lẽ:
Trước hết là do đặc trưng của bộ phận văn học dân gian. Văn học dân gian là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể thể hiện nhận thức, tư tưởng, tình cảm của nhân dân lao động. Bộ phận
2 văn học này gắn liền với hình thức diễn xướng (kể, hát, hò, ngâm, múa, diễn…) trong các môi trường sinh hoạt dân gian khác nhau (nghi lễ, lao động, sinh hoạt).Tính diễn xướng gắn với văn học dân gian như một điều kiện sống còn - nhờ đó mà tác phẩm được truyền đến đông đảo quần chúng nhân dân. Và giờ đây, để làm sống lại tác phẩm văn học dân gian trong môi trường học tập, thì hình thức sân khấu hóa là một hoạt động thú vị. Trên sân khấu biểu diễn, cũng chính là bục giảng quen thuộc, cả người thể hiện, cả người tiếp nhận đều tỏ ra rất hào hứng.
Thứ hai, hoạt động này vô cùng bổ ích với học sinh. Không phải bất cứ học sinh nào đều có sẵn niềm say mê, yêu thích đối với môn học. Vì vậy, nhiệm vụ của hoạt động sân khấu hóa là gợi hứng thú đối với bài học, và hơn thế nữa, còn thắp lên “ngọn lửa đam mê”, bồi đắp tình yêu lâu bền đối với môn học. Chỉ có đam mê mới đưa các em khám phá đến tận cùng vẻ đẹp của những tác phẩm văn chương. Câu nói của các em học sinh lớp 10a6: “Giờ học môn văn, thời gian trôi đi nhanh thế cô ạ!”, những tiếng cười sảng khoái của học sinh 10a3, 10a1 hay nhiều cánh tay của các em lớp 10a9, 10A5 giơ lên để được trải nghiệm với hoạt động sân khấu hóa đã cho thấy các em thực sự yêu thích hoạt động này và cũng là sự động viên to lớn để tôi tiếp tục theo đuổi giải pháp (xem phụ lục II, mục 2). Sân khấu hóa còn là cách để học sinh khắc sâu kiến thức. Để thực hiện hoạt động, các em sẽ đọc kĩ tác phẩm, suy ngẫm, trăn trở, từ đó thấm thía hơn ý nghĩa, tư tưởng. Đây là cách rèn kĩ năng cảm thụ văn học, thể hiện sự tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập. Sân khấu hóa cũng là hoạt động giúp học sinh có cơ hội thể hiện khả năng của mình ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật (hát, múa, đóng kịch, biên kịch, đạo diễn). Các em có dịp được khám phá và hiểu năng lực bản thân mình hơn. Nhờ đó, giáo viên cũng phát hiện tài năng và có thêm một kênh thông tin giúp định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Mặt khác, nhờ hoạt động này, học sinh trong lớp sẽ tăng tính đoàn kết, gần gũi, biết hợp tác, giúp đỡ nhau trong học tập. Điều này rất ý nghĩa, bởi khi mới bước vào lớp 10, các em đến từ các xã, thậm chí là huyện, tỉnh khác nhau nên còn xa lạ, bỡ ngỡ, rụt rè. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em sẽ quen-hiểu nhau hơn, tự tin phân công nhiệm vụ cho nhau và có trách nhiệm với mỗi phần việc được giao.
Như vậy, sự bổ ích của hoạt động sân khấu hóa văn học dân gian là ở chỗ học sinh sẽ “làm” rất nhiều điều, thay vì chỉ “biết” theo cách dạy truyền thống. Điều này đáp ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay- chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực, phẩm chất người học.
3
Thứ 3, hoạt động này còn phù hợp và đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình môn Ngữ văn năm 2021 sắp tới. Theo Dự thảo đổi mới chương trình Ngữ văn lớp 10, chuyên đề sân khấu hóa văn học dân gian được xây dựng 15 tiết/ 105 tiết. Trong khi đó chương trình những năm học trước không có, còn năm học 2020- 2021 xây dựng 01 tiết. Điều này đã khẳng định sự đổi mới tích cực của chương trình và cần thiết của hoạt động ý nghĩa này nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục trong thời đại mới.
6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Sân khấu hóa lớp học có rất nhiều cách thức như: ngâm thơ, kể câu chuyện ngắn, đóng vai, đóng kịch, hát, múa, chia sẻ những cảm xúc chân thành về một nhân vật hay tác phẩm. Trong giờ dạy của mình, tôi đã áp dụng một số hình thức trên. Với sự nhiệt tình, tâm huyết và cố gắng của người dạy, những hoạt động như thế giúp học sinh đạt được mục đích sau:
* Giải pháp 1 - Hình thức diễn kịch: Tất cả những văn bản văn học dân gian trong chương trình đều có thể chuyển thành kịch bản nên giải pháp này sẽ phát huy tối ưu việc củng cố kiến thức cho học sinh (xem phụ lục I, mục I). Khi nhập vai vào nhân vật, các em sẽ phải đọc kĩ văn bản, nắm bắt ý nghĩa nhân sinh mà tác giả dân gian gửi gắm. Trong quá trình tập luyện, học sinh sẽ trao đổi với giáo viên, từ đó hiểu hơn về nhân vật, khắc sâu hơn kiến thức. Mặt khác, giải pháp cũng phát huy khả năng diễn xuất, sự tự tin, bản lĩnh trước tập thể. Đặc biệt, từ sự gợi ý của giáo viên, học sinh sẽ tự mình sáng tạo kịch bản, khi đó các em sẽ có thêm niềm đồng cảm với tác giả dân gian.
* Giải pháp 2 – Hình thức ngâm thơ, hát, múa: Ngâm thơ và hát dân ca nhằm giúp học sinh hiểu được mối quan hệ của thể loại ca dao và dân ca (xem phụ lục I, mục II ). Ca dao là lời thơ dân gian, còn dân ca là những câu hát kết hợp giữa lời ca dao và âm nhạc. Hình thức múa lại giúp học sinh củng cố kiến thức bằng một loại hình nghệ thuật khác, không phải bằng ngôn từ mà bằng động tác hình thể, biểu cảm khuôn mặt. Dù trừu tượng, nhưng sẽ phát huy trí tưởng tượng của học sinh. Trải nghiệm 3 hình thức trên, các em thêm bồi đắp ý thức trân trọng, gìn giữ bản sắc văn hóa dân gian của dân tộc.
* Giải pháp 3 – Hình thức hùng biện: Hình thức này giúp học sinh bộc lộ cảm nhận của cá nhân mình về nhân vật hay tác phẩm văn học dân gian (xem phụ lục I, mục III ). Thực hiện hoạt động thuyết trình cho học sinh, giáo viên sẽ tích hợp với bài học Trình bày một vấn đề trong chương trình kì I. Vì vậy, các em sẽ được ôn tập, mở rộng, năng cao kiến
4 thức, được rèn kỹ năng nói trước tập thể. Muốn bài hùng biện lôi cuốn, hấp dẫn, thuyết phục người nghe, đòi hỏi sự nắm vững kiến thức và cả tự tin. Được hùng biện, đặc biệt, hùng biện thành công sẽ là những kỉ niệm khó phai trong cuộc đời học sinh của các em.
* Như vậy, điểm mới của sáng kiến là thực hiện hoạt động sân khấu hóa ngay trong giờ học và áp dụng ở từng tác phẩm văn học dân gian; Từ đó hướng tới mục tiêu khơi dậy một cách tốt nhất hứng thú học tập của học sinh trong giờ Ngữ văn và bắt kịp định hướng tổ chức chuỗi hoạt động học trong chương trình giáo dục mới nhằm hình thành năng lực, phẩm chất cho người học.
7. Nội dung 7.1.Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 7.1.1. Các giải pháp áp dụng * Giải pháp 1 – Hình thức diễn kịch: - Nội dung: + Trong tiết học, giáo viên có thể tổ chức hoạt động này từ 3-5 phút, tùy theo dung lượng kịch bản, ở phần khởi động, hoặc tổng kết bài học. Có thể chuẩn bị trang phục, đạo cụ để phần biểu diễn thêm hấp dẫn. Để tiết kiệm kinh phí, tổ bộ môn, nhà trường nên mua một số bộ trang phục biểu diễn để sử dụng trong các vở kịch của tất cả các lớp và ở những năm sau. Bởi, hầu hết các vở kịch về Văn học dân gian đều có trang phục giống nhau.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh lựa chọn tình huống, trích đoạn hay sự việc tiêu biểu thể hiện được chủ đề của tác phẩm để xây dựng kịch bản. Cũng có thể liên kết nội dung của một số văn bản để xây dựng thành một kịch bản mới, nhằm phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên: cần đảm bảo được giá trị nghệ thuật của tác phẩm; và thận trọng để không hiện đại hóa quá mức các sáng tác dân gian. Sự việc thầy trò một trường ở Thành phố Hồ Chí Minh đưa “cảnh nhạy cảm” vào sân khấu hóa cũng là bài học của việc tiếp cận văn bản khi sáng tạo kịch bản.
- Kết quả khi thực hiện giải pháp: + Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp: Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em học sinh đã xây dựng được hệ thống các kịch bản từ tác phẩm văn học dân gian trong chương trình. (chi tiết tại phụ lục I, mục I)
+ Hình ảnh, video minh chứng (chi tiết tại phụ lục III)
* Giải pháp 2 - Hình thức ngâm thơ, hát, múa: - Nội dung:
5
+ Giáo viên nên gợi ý cho học sinh một số điệu ru, bài dân ca, hát đối đáp giao duyên quen thuộc của 3 miền để biểu diễn, bên cạnh những bài các em tự lựa chọn theo sở thích của mình. Để phần biểu diễn hấp dẫn, lôi cuốn, giáo viên cho các em được chuẩn bị, tập luyện ở nhà trước; chuẩn bị cả nhạc beat để các em hát theo nhạc. Có thể linh hoạt hình thức biểu diễn đơn ca, song ca, tam ca hoặc tốp ca theo tổ, nhóm.
+ Sau khi học sinh trình bày xong, giáo viên sẽ hỏi học sinh hiểu biết về lời ca dao của bài dân ca, hoặc ý nghĩa của bài dân ca. Mỗi bài dân ca đều có ý nghĩa riêng, vô cùng thú vị. Giáo viên có thể chuẩn bị trước những thông tin về ý nghĩa của một số bài dân ca và cung cấp cho các em. Trong giờ văn nhưng lại được hiểu thêm kiến thức bộ môn khác cũng là một kỉ niệm đáng nhớ của cả giáo viên và học sinh. Đồng thời, sẽ giúp các em hiểu sâu sắc và yêu quý hơn những làn điệu dân ca của dân tộc.
+ Bên cạnh những làn điệu dân ca, giáo viên cũng có thể khuyến khích các em trình bày những ca khúc dân gian đương đại lấy cảm hứng từ những tác phẩm dân gian. Đây là những bài hát hiện đại rất gần gũi, quen thuộc với thế hệ các em. + Hình thức múa đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian, công sức hơn. Tuy nhiên, sự cố gắng của giáo viên và học sinh sẽ mang tới cho giờ học môn văn không chỉ có kiến thức bề bộn mà còn đậm tính nghệ thuật. - Kết quả khi thực hiện giải pháp: + Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp: Dưới sự gợi ý của giáo viên, các em học sinh đã sưu tầm được một số bài hát dân ca, bài hát hiện đại theo phong cách dân gian và lấy cảm hứng từ tác phẩm văn học dân gian trong chương trình. (chi tiết tại phụ lục I, mục II)
+ Hình ảnh, video minh chứng (chi tiết tại phụ lục III)
* Giải pháp 3 – Hình thức hùng biện: - Nội dung: + Hình thức này được thực hiện sau khi kết thúc bài học, hoặc ở giờ học sau. Các em sẽ chuẩn bị bài hùng biện theo cá nhân, nhóm, tổ và cử đại diện trình bày, hoặc giáo viên gọi bất kì. Thời gian trình bày khoảng từ 3-5 phút. Khi hùng biện, giáo viên khuyến khích các em có nhạc nền, có hình ảnh, video minh họa để thêm sinh động, hấp dẫn.
- Kết quả khi thực hiện giải pháp:
6
+ Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp: giáo viên xây dựng được một số câu hỏi, vấn đề liên quan đến các tác phẩm văn học dân gian để học sinh hùng biện. (chi tiết tại phụ lục I, mục III)
+ Hình ảnh, video minh chứng (chi tiết tại phụ lục III) * Lưu ý chung: Để hoạt động sân khấu hóa văn học dân gian có hiệu quả
cao hơn, cần lưu ý một số điều sau:
- Giáo viên cũng có thể khích lệ những học sinh nhút nhát để rèn luyện bản
lĩnh, sự tự tin của các em.
-Tổ chức hình thức thi và phần thưởng là những điểm số vừa mang tính ghi nhận, vừa mang tính động viên, khích lệ. Điểm đạt được là điểm thường xuyên- điểm miệng, 15 phút của các em.
- Giáo viên sẽ quay video để làm tài liệu tham khảo và trình chiếu cho những lớp khác không thực hiện hoạt động đó. Dù không thực hiện hoạt động, nhưng được xem bạn cùng khối biểu diễn cũng là một điều thú vị.
7
* Khảo sát việc tổ chức hoạt động sân khấu hóa văn học dân gian của GV
Nội dung khảo sát T T Tỉ lệ % Số GV khảo sát
Việc thiết kế nội dung bài học có được thầy (cô) thực hiện thường xuyên không 1
- Có 9 100
- Không
Theo thầy (cô), hoạt động sân khấu hóa có cần thiết cho một giờ học tác phẩm văn học dân gian không? 2
- Có 9 100
- Không
Khi thiết kế nội dung bài học tác phẩm dân gian, các thầy (cô) có thiết kế hoạt động sân khấu hóa không? 3
- Có 9 100
- Không
Thầy (cô) có thực hiện hoạt động sân khấu hóa cho một giờ học tác phẩm văn học dân gian không? 4
- Có 9 100
- Không
Khi thiết kế hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian, các thầy (cô) xác định mục tiêu là gì? 5
- Củng cố kiến thức của HS 78 7
- Tạo ra hứng thú cho HS 100 9
- Tạo ra “tình huống có vấn đề” để vào bài 33 3
Hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian, thầy (cô) thường tổ chức là gì? 6
- Đóng kịch 100 9
- Hát 100 9
- Hùng biện 56 3
- Khác
8
Qua việc khảo sát trên, tôi nhận thấy tất cả các thầy cô trong tổ chuyên môn đều tổ chức hoạt động sân khấu hóa trong giờ dạy. Điều đó góp phần khẳng định vai trò, ý nghĩa, hiệu quả của hoạt đông này để tạo hứng thú cho học sinh và nâng cao chất lượng giờ dạy của giáo viên.
* Các bảng số liệu so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp: - Kết quả định tính: + Năm học 2020 -2021, tôi giảng dạy ở lớp: 10a3, 10a5, 10a6, 10a9 - đều là lớp theo ban cơ bản. Tôi đã tiến hành dạy thực nghiêm bài giảng Nhưng nó phải bằng hai mày ở lớp 10a3, 10a9, 10a6; còn lớp 10a5, tôi dạy theo phương pháp truyền thống - không tổ chức hoạt động sân khấu hóa. Sau khi thực nghiệm và đối chứng, tôi tiến hành khảo sát đánh giá mức độ hứng thú của học sinh lớp 10a3 và 10a5 sau tiết học (mẫu phiếu 2 – phần phụ lục II).
Kết quả đạt được như sau:
Khảo sát, đánh giá mức độ hứng thú trong giờ học Lớp SL Rất Hứng thú
hứng thú Bình thường Không hứng thú Đối tượng
SL SL SL SL
TL (%) TL (%) TL (%) TL (%)
73 17 12 0 0 8 4 10a3 45 33
Đối chứng
0 0 39 16 33 7 10a5 43 17 19
Thực nghiệm
Qua kết quả bảng khảo sát, tôi nhận thấy: mức độ rất hứng thú, hứng thú của học sinh lớp thực nghiệm tăng và giảm tỉ lệ học sinh có thái độ bình thường và không hứng thú với bài học. Giờ học không căng thẳng khô khan, ngược lại, các em hào hứng tham gia hoạt động và có những trận cười sảng khoái khi xem bạn mình diễn kịch.(chi tiết tại phụ lục III). Từ đó, chất lượng giờ học cũng tăng lên.
+ Sau đó, tôi đã tiến hành áp dụng giải pháp sáng kiến ở lớp 10a5 trong thời gian còn lại của học kì I. Sau khi kết thúc chương trình văn học dân gian, tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá mức độ hứng thú các lớp (mẫu phiếu 3 – phần phụ lục II).
Kết quả đạt được như sau:
9
Khảo sát mức độ hứng thú sau chuyên đề
Số HS TT Nội dung khảo sát Tl %
100 174
Em có quan tâm đến hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian không? 1
72 Mức độ cao 124
22 Mức độ TB 38
16 Mức độ thấp 12
Mức độ hứng thú của em đối với những bài học chưa có hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian? 2
9 Rất hứng thú 17
23 Hứng thú 40
60 Bình thường 106
8 Không hứng thú 11
Khi có hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian, mức độ hứng thú của em với giờ học Ngữ văn như thế nào?
3 74 Rất hứng thú 128
20 Hứng thú 36
6 Bình thường 10
0 Không hứng thú 0
Như vậy, số lượng học sinh có hứng thú với hoạt động này là rất cao, hơn 90%. Đó chính động lực để tôi tiếp tục thực hiện giải pháp này ở những năm học tiếp theo.
- Kết quả định lượng: + Không chỉ khảo sát, đánh giá sự hứng thú của học sinh trong giờ học, tôi còn tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng sau tiết học. Kết quả đạt được như sau: Khảo sát kết quả sau giờ học
Lớp SL Giỏi % Khá % TB % Yếu %
10a3 45 (TN) 22 71 7 0 0 10 32 3
10a5 43 (ĐC) 9 65 26 0 0 4 28 11
10
Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy kết quả kiểm tra, đánh giá của lớp thực nghiệm cao hơn so với lớp đối chứng. Trong đó tỷ lệ đạt kết quả loại khá, giỏi ở lớp thực nghiệm là cao hơn rất nhiều.
Mức độ nắm vững tri thức, kỹ năng của lớp thực nghiệm cũng cao hơn lớp đối chứng. Ở lớp thực nghiệm, học sinh hiểu bài một cách chắc chắn, nắm được bản chất của nội dung học tập.
+ Kết quả cuối học kì:
Bảng so sánh kết quả TBM của học sinh.
Số lượng Giỏi % Khá % TB % Yếu % Lớp 10a3
29 71 0 0 0 0 45 13 32
Khảo sát đầu năm
Cuối học kì 1 13,3 0 0 0 0 45 33 86,7 12
Số lượng Giỏi % Khá % TB % Yếu % Lớp 10a5
51 49 0 0 0 0 43 22 21
Khảo sát đầu năm
Cuối học kì 1 79 21 0 0 0 0 43 34 9
Giỏi % Khá % TB % Yếu % Lớp 10a6
Số lượng
0 17 80 0 3 41 7 33 1
Khảo sát đầu năm
Cuối học kì 1 2,4 70 27,6 0 0 41 29 11 1
Giỏi % Khá % TB % Yếu % Lớp 10a9
Số lượng
19 75 0 0 6 36 7 27 2
Khảo sát đầu năm
Cuối học kì 1 57 43 0 0 0 0 35 20 15
11
7.1.2 Các bước đã được thực hiện khí áp dụng sáng kiến: - Bước 1: Giới thiệu sáng kiến đến các thầy cô đang giảng dạy bộ môn Ngữ
văn lớp 10 tại trường THPT Yên Dũng số 3
- Bước 2: Tổ chức trao đổi, thảo luận trong nhóm dạy; xây dựng kế hoạch áp dụng sáng kiến; đã trao đổi đồng thời nhờ 3 thầy cô trong tổ bộ môn áp dụng sáng kiến trong giảng dạy, cụ thể:
Họ và tên Số TT Nội dung công việc hỗ trợ Chức danh Nơi công tác Ngày tháng năm sinh Trình độ CM
1 16/12/1982 Đỗ Thị Oanh THPT Yên Dũng số 3 Cử nhân Nhận xét, phản hồi về sáng kiến. GV THPT hạng III
2 22/6/1984 Nguyễn Thị Thủy Cử nhân Nhận xét, phản hồi về sáng kiến. THPT Yên Dũng số 3 GV THPT hạng III
3 27/12/1983 Lưu Thị Hoài Cử nhân Nhận xét, phản hồi về sáng kiến. THPT Yên Dũng số 3 GV THPT hạng III
- Bước 3: Tổ chức thực hiện sáng kiến bắt đầu từ học kì 1, năm học 2020-
2021.
- Bước 4: Tổ chức rút kinh nghiệm sau khi áp dụng sáng kiến để giảng dạy.
7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến - Sáng kiến đã được áp dụng cho trong giảng dạy cho học sinh các lớp 10a3,
10a5, 10a6, 10a9 trong năm học 2020-2021 trong chương trình văn học dân gian.
- Sáng kiến được áp dụng ở các lớp 10 khác trong trường và tiếp tục hoàn thiện, phát triển để áp dụng cho việc giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh trong những năm học tiếp theo, cũng như trong các chương trình khác của môn Ngữ văn.
7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến Sau khi áp dụng các giải pháp nêu trên ở tại trường THPT Yên Dũng số 3,
hiệu quả của sáng kiến đạt được như sau:
Về lợi ích kinh tế
12
- Giáo viên có thể sử dụng phần lý luận của sáng kiến kinh nghiệm này để tiếp tục xây dựng giải pháp sân khấu hóa tác phẩm văn học viết và văn học nước ngoài nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học và nâng cao chất lượng môn Ngữ văn tại trường trung học phổ thông Yên Dũng số 3
- Giáo viên, học sinh có thể sử dụng các giải pháp được xây dựng trong sáng kiến để áp dụng cho giờ dạy và trở thành tư liệu tham khảo của những năm học sau.
Về lợi ích xã hội - Là môn học thuộc nhóm công cụ, môn Ngữ văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác. Học tốt môn Ngữ văn sẽ tác động, hỗ trợ tích cực đến các môn học còn lại. Vì vậy, người giáo viên cần phải đánh thức ở học sinh niềm đam mê văn chương, khơi dậy ở các em tính sáng tạo và khả năng làm chủ kiến thức, bằng nhiều cách, trong đó có hình thức sân khấu hóa.
CAM KẾT Tôi xin cam kết sáng kiến này không sao chép và vi phạm bản quyền. Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm nhỏ của riêng tôi. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của lãnh đạo chuyên môn và các thầy cô đồng nghiệp, đặc biệt là ban giám khảo để giải pháp của tôi có hiệu quả hơn trong những năm dạy học tiếp theo!
Xác nhận của cơ quan, đơn vị
Tác giả sáng kiến
Đặng Thị Thủy
13
PHỤ LỤC I
NHỮNG VÍ DỤ MINH CHỨNG CHO CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
SÂN KHẤU HÓA TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN
I. Giải pháp 1 - Hình thức diễn kịch 1. Kịch bản Chiến thắng Mtao-Mxây Nhân vật: Già làng; Đăm Săn; Dân làng 1; Dân làng 2; Mtao Mxây; Hơ
Nhị.
CẢNH I (Nhạc bài Vũ khúc Tây Nguyên vang lên. Già làng và dân làng cùng nhau
múa điệu múa của người Tây Nguyên).
Già làng: Ơ…các con. Năm nay Giàng cho ta thóc, ngô đầy kho, rượu đầy ché. Ta rất mừng khi thấy buôn làng đoàn kết, con cháu thảo hiền.Ta muốn nhân dịp các con tề tựu đông đủ hôm nay, ta sẽ kể cho các con nghe 1 câu chuyện có từ lâu đời của tộc người Ê-đê chúng ta. Đó chính là câu chuyện về chàng Đăm Săn
Dân làng 1: Già làng ơi, hãy kể cho chúng con nghe đi ạ. Già làng: Đăm săn chính là 1 vị tù trưởng mạnh mẽ nhất trong các vị tù trưởng. Chính chàng là người có công thống nhất tất cả các tộc người Ê- đê như ngày hôm nay. Ta kể chuyện này cũng là ôn lại chuyện cũ và cảm ơn tổ tiên, trời đất đã xây dựng nên buôn làng.
Dân làng 2: Già làng ơi, già làng kể chuyện Đăm Săn thì ưng cái bụng của
chúng con lắm ạ.
Già làng: hãy nổi trống, nổi chiêng lên nào.
CẢNH II (Tiếng trống chiêng vang lên, Già làng và dân làng vào trong. Tiếng già
làng bắt đầu kể chuyện).
Già làng: (nói vọng ra, giọng trầm hùng) Xưa kia, dân tộc Ê- đê sống thành các vùng riêng biệt. Mỗi vùng lại có một tù trưởng đứng đầu. Trong các vị tù trưởng đó không thể không nhắc tới Đăm Săn- chàng trai tài ba, đầu đội trời, chân đạp đất. Có một tù trưởng cũng nổi tiếng không kém Đăm săn, đó là Mtao Mxây, hay còn gọi là tù trưởng Sắt. Lừa lúc Đăm Săn cùng nô lệ lên rẫy, tù trưởng Sắt đã tới cướp phá buôn làng và bắt Hơ Nhị về làm vợ.
Mtao Mxây: (đi ra ) Ơ…Ta là tù trưởng Sắt. Ai ai cũng phải sợ ta. Duy chỉ có tên Đăm Săn là không biết sợ ta. Hôm nay ta đến tận nhà hắn, bắt cóc vợ hắn
14 xem hắn làm gì được ta nào. Ha ha. (gọi Hơ Nhị). Hơ Nhị, nàng ở đâu, nàng đâu rồi?
Hơ Nhị: (chạy ra sân khấu) Ai vừa gọi ta đó, có ta đây. Mtao Mxây: Hơ Nhị, nàng hãy đi với ta, hãy về làm vợ ta. Hơ Nhị: ta không đi với ngươi đâu, cái bụng ta chỉ thương chàng Đăm San
thôi. Người hãy cút đi mau.
Mtao Mxây: không được, nàng phải đi với ta, phải thuộc về ta. (vác Hơ-Nhị
trên vai đi vào trong)
CẢNH III Già làng: Đăn Săn đi nương về, không thấy Hơ Nhị đâu. Hỏi tôi tớ thì mới
biết là bị Mtao Mtao Mxây Bắt cóc. Chàng giận dữ vô cùng.
Đăm Săn: Tên Mtao Mxây quả là to gan thật. Hắn không biết ta là Đăm Săn, vị tù trưởng hùng mạnh, tiếng tăm lẫy lừng sao. Được, lần này ta sẽ không tha thứ cho hắn. Ta sẽ đến tận nhà Mtao Mxây để chiến đấu tới cùng, không thắng không về!
CẢNH IV (Đi đến nhà Mtao Mxây. Mtao Mxây đang đứng cạnh Hơ Nhị) Đăm Săn: Ơ diêng, ơ diêng, xuống đây. Ta thách ngươi đọ dao với ta đấy. Mtao Mxây: ta không xuống đâu diêng ơi. Tay ta còn đang bận ôm vợ hai
chúng ta ở trên nhà này cơ mà.
Đăm Săn: Xuống, diêng! xuống, diêng! Ngươi không xuống ư? Ta sẽ lấy cái sàn hiên của nhà ngươi ta bổ đôi, ta sẽ lấy cái cầu thang của nhà ngươi ta chẻ ra kéo lửa, ta hun cái nhà của nhà ngươi cho mà xem.
Mtao Mxây: Khoan, diêng, khoan. Để ta xuống. Ngươi không được đâm ta
khi ta đang đi xuống đó nghe.
Đăm Săn: Sao ta lại đâm ngươi khi ngươi đang đi xuống nhỉ. Ngươi xem
đến con lợn nái của nhà ngươi ta cũng không thèm đâm nữa là. Mtao Mxây: ta sợ ngươi đâm ta khi ta đang đi lắm. Đăm Săn: Sao ta lại đâm ngươi khi ngươi đang đi xuống nhỉ. Ngươi xem
đến con trâu của nhà ngươi ta cũng không thèm đâm nữa là.
(Hai tù trưởng giao chiến quyết liệt. Mtao Mxây có vẻ yếu thế, vừa đánh vừa
chạy trốn.)
Hơ Nhị: (tay cầm miếng trầu) Đây là miếng trầu, là tất cả tấm lòng và sức mạnh của ta. Ai ăn được sẽ trở thành vị tướng tài ba. (quăng miến trầu, Đăm Săn đớp được, càng mạnh mẽ hơn)
15
Già làng: sau một hồi chiến đấu, cả hai đều thấm mệt. Đăm Săn mộng thấy ông trời bày cách cho chàng đánh thắng Mtao Mxây. Đó là lấy chày mòn ném vào vành tai kẻ thù. Đăm Săn làm theo lời ông trời và Mtao Mxây bị hạ gục.
Mtao Mxây: (ôm chân Đăm Săn và cầu xin bằng giọng run sợ) ơ diêng, hãy
tha cho ta, ta sẽ làm lễ cầu phúc cho diêng 1 trâu, ta cho thêm một voi nữa.
Đăm Săn: sao ngươi còn cúng trâu cầu phúc cho ta. Chẳng phải vợ ta ngươi
còn cướp ư. Thôi ngươi hãy cút đi.
(Đăm săn đi về phía Hơ Nhị. Mtao Mxây định đâm lén nhưng chàng phát
hiện ra và đâm phập một cái, Mtao Mxây chết)
Hơ Nhị: Đăm săn, chàng thật tài giỏi. Chàng quả là người anh hùng của
buôn làng.
Đăm Săn: (cầm tay Hơ Nhị) Nàng biết không, tình yêu dành cho nàng và danh dự của một vị tù trưởng, danh dự của cộng đồng đã buộc ta cần phải chiến đấu và chiến thắng. Bây giờ chúng ta hãy trở về nhà ăn mừng chiến thắng này. Nhưng trước khi về, ta muốn người dân của buôn làng này hãy đi theo ta, ta muốn ai ai cũng có cuộc sống sung túc, giàu có. (nói với khán giả) Ơ… tất cả tôi tớ trong làng, các ngươi có đi với ta không?
Dân làng: có, chúng tôi sẽ đi theo người anh hùng của buôn làng, người biết
bảo vệ danh dự, gia đình và buôn làng. Chúng tôi có đi. Đăm Săn: Hãy nổi trống nổi, chiêng lên nào. ( Nhạc bài Suối đàn tơ-rưng. Mọi người nắm tay nhau múa theo điệu nhạc)
Hết
16
2. Kịch bản Tấm Cám (Kịch bản 10a5) Nhân vật: Tấm, Cám, Dì ghẻ, Nhà Vua, Lính, 3 dân làng- dẫn truyện CẢNH I (cái nồi để trên 1 cái bếp. Dì ghẻ đi ra trên nền nhạc bống Bống bống bang
Dì ghẻ: (chào duyên dáng) Ai da! Ngày gì mà nóng dữ vậy (quạt quạt). Coi
Dì ghẻ: Taaaaam!...... Tấm: (chạy ra hấp tấp) Dạ mẹ… Dì ghẻ: tao đã nói mày bao nhiêu lần rồi. Tao cấm mày xào nấm với dấm.
Tấm: dạ con không có làm vậy mà. Dì ghẻ: lại còn cãi. Chả lẽ tao nói điêu. Hứ (đi vào trong) Dẫn truyện: Hàng ngày, những lời đay nghiến, chửi bới Tấm xảy ra như
(Tấm đang quét nhà. Dì ghẻ đi ra, ánh mắt ma quái. Dì ghẻ nghĩ ngợi rồi đi
Dì ghẻ: tự nhiên hôm nay mẹ thèm ăn tép xào khế. Thôi thì 2 con chịu khó
Cám : con không rảnh (định quay vào trong để ngủ tiếp) Dì ghẻ: đứa nào bắt được nhiều tép hơn thì mẹ thưởng cho cái yếm đào. Cám: (mở tròn mắt, quay lại ngay) thiệt hả mẹ? Vậy đi nhanh nào chị Tấm.
bang…) bữa nay nó cho mình ăn cơm cháo gì đây (Đến bên nồi dì ghẻ mở nắp). Mày có ấm đầu không? Cẩn thận tao cho mày vài đấm. cơm bữa, cho dù gì ghẻ đã đôi lần bị phê bình trước làng xã vì vi phạm nếp sống văn minh gia đình văn hoá. Tấm làm gì cũng bị bà mắng, trong khi Cám cũng đâm thủng mâm lúc chơi đùa với Tấm thì lại được mẹ khen là văn võ song toàn.Rồi 1 ngày nọ….. lại chỗ Tấm) Dì ghẻ: Cám ơi, ra mẹ nói nè con. Cám: (từ sân khấu vọng ra) Con đang ngủ mẹ cần gì sai chị Tấm ý. Haizz… Dì ghẻ: mày có ra đây không thì bảo (giậm chân). Cám: (ngái ngủ bước ra) mẹ,… sao đông người thế này kêu con ra chưa kịp trang điểm gì cả (làm duyên dáng). Chào các bạn, tôi là Cám xinh đep!(nhún qua 1 bên) ra đồng mò tép cho mẹ vậy. (nhanh như chớp Cám giật cái giỏ rồi chạy đi) Tấm: dạ mẹ con đi (từ từ lấy giỏ ra đồng)
17
Cám: (đi qua 1 bên) thôi chết rồi. Mình mãi lo bắt bướm hái hoa còn giỏ
Tấm: có chuyện gì vậy em? Cám: đến giờ về rồi chúng ta về thôi. (cố ý đưa cái giỏ trống không cho Tấm
Tấm: thôi chết. Sao giỏ em lại không có con tép nào. Về chắc mẹ sẽ đánh
Cám: thôi không cần đâu chị. Tép là của chị bắt mà em nỡ lòng nào mà làm
Tấm: (sờ đầu): đâu em? Phủi cho chị cái. Cám: nhiều lắm chị ơi. Thôi chị ra kia hụp xuống gội đầu đi. Nhanh lên. Tấm: ừ cũng được. Vậy em chờ chị nhé. (Tấm quay đi rồi bất chợt quay lại)
Cám: thôi chị đem theo đi. Để em cầm lỡ có chuyện gì chị lại đổ thừa em. Tấm: ừ vậy đi. Quay đi. Cấm: ê ê. Chờ chút. (Níu lại) thôi để kia đi. (nũng nịu) có gì em trông giúp
(Tấm để giỏ đó rồi đi vào …..) Cám: (hí ha hí hửng chạy lại giỏ tép trút qua) chị Tấm ơi hụp cho sâu nha
Dẫn truyện: Cám lấy được giỏ tép của Tấm chạy về ngay. Tấm gội đầu ra
Bụt: làm sao con khóc? Tấm: Ông là ai? Bụt: ta là Bụt. (đến chổ Tấm, chìa ra mảnh giấy). Đây là giấy thông hành
Tấm: hức hức… Con bắt được 1 giỏ đầy tép. Nhưng gội đầu ra đã không còn
CẢNH II Dẫn truyện: Hai cô vâng lời mẹ và chạy đi. Tấm chăm làm. Cô nhảy ào xuống đồng. Cô mò từng con tép, bắt từng con tôm bỏ vào giỏ. Cám thì mải lo bắt bướm hái hoa. thì…(nhìn vào giỏ) trống. (Cám liếc qua liếc lại. nhìn Tấm bằng ánh mắt ma quỷ ) chị Tấm ơi, chị Tấm. xem) đòn. Để chị chia cho em 1 nữa nhé! vậy. Quân tử có gan làm có gan chịu (chống nạnh). Ấy chết, chị Tấm ơi, đầu chị lấm kìa. Cám em cầm hộ cái giỏ tép cho chị đi ra kia gội đầu. cho. (cười… gọi vọng vào) thấy trong giỏ không còn con tép nào. Tấm ngồi khóc…Bụt hiện ra. nghề Bụt của ta. Rồi có chuyện gì kể cho ta để ta giúp. con nào.( Vừa nói vừa nấc) Bụt: con hãy thử nhìn xem trong giỏ còn con nào không?
18
Tấm: Dạ bị người ta lấy hết rồi (nhìn liếc nhanh qua giỏ) Bụt: con nhìn kĩ lại xem Tấm: dạ hết rồi mà Bụt : thì ta bảo nhìn cứ nhìn đi (Trợn tròn mắt) Tấm: (miễn cưỡng nhìn lại vào giỏ thật kĩ) Á à. Còn sót 1 em cá bống Bụt: con đem về thả bống xuống giếng. Mỗi ngày ăn cơm 3 bát thì nhường 1
Tấm: dạ con hiểu rồi ạ. Cảm ơn Bụt. Bụt: thôi ta đi đây. Tấm: Bụt bay đi ngay à. Bụt : ừ ta bay đây. (phất cây phất trần) chíu… thôi đi bộ cho chắc. (đi vào
bát cho bống. Lúc gọi bống lên ăn con phải đọc thần chú như này. (dằng hắng) Báng báng bông bông. A nhầm. Bống bống bang bang! Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta. Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người. trong)
CẢNH III (Tấm về đến nhà, đi vào trong). Dì ghẻ: (đứng chống nạnh trước cửa chặn đường) Tấm! đưa giỏ tép tao coi. Tấm: (rụt rè đưa giỏ tép cho dì ghẻ) Dì ghẻ: (cầm giỏ tép) Đồ con gái làm biếng. Đi cả 1 ngày mà không được
Cám: (chạy ra) mẹ, đau chị. (Dì ghẻ ngơ ngác. Cám đưa cho dì ghẻ cái chổi
con nào. Tao phải đánh mày mới được. lông gà giấu sau lưng.Thế là dì ghẻ và Cám thi nhau đánh đập Tấm).
CẢNH IV Tấm: (từ trong đi ra giếng tay bưng 1 chén cơm) Bống bống bang bang, lên
(Mẹ con Cám rình rập sau lưng. Chờ tấm vào trong nhà. Mẹ con Cám lại
Dì ghẻ: không biết cái con Tấm nó làm gì mà thập thà thập thụt. Có cái gì
ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta. Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người. bên giếng thì thầm to nhỏ.) dưới giếng không nhỉ? (Dì ghẻ nhìn xuống giếng) Dì ghẻ: Á aaaaa……..! Cám: dì vậy mẹ? có cái gì vậy? Dì ghẻ: (quay lên) đẹp quá Cám: cái gì đẹp? Dì ghẻ: mặt mẹ đẹp. Cám: để con coi nào.Á aaaaa…….!
19
Dì ghẻ: cái gì nữa? Cám: ai mà đẹp thế kia? Con…à…. 2 mẹ con đều đẹp như nhau.( cười) Cám: thôi để con vào trong nhà lấy bát cơm ra.(Cám chạy vào gặp đúng lúc
Dì ghẻ: Tấm hôm nay con đi chăn Trâu cho mẹ. Còn nữa. Chăn trâu thì chăn
Tấm : Dạ. Dẫn truyện: Tấm đi rồi 2 mẹ con Cám mới thực hiện kế hoạch bắt bống. Thế
Gà: cục ta cục tác cho ta nắm thóc ta bới xương cho. Dẫn truyện: Tấm lấy thóc cho gà. Gà bới xương lên cho Tấm. Tấm thấy
Bụt: làm sao con khóc? Tấm: thưa Bụt, cá bống con nuôi lâu nay ai đã cho vào nồi rồi. hu hu hu. Bụt: con cứ bình tĩnh. Con nghe theo lời ta. Đem xương cá bống bỏ vào 4
Tấm đi ra). Mất hồn.(lạng lại về phía dì ghẻ) đồng xa. Chớ chăn đồng gần làng bắt mất trâu. là mẹ con Cám cũng bắt được Bống rồi đi chiên giòn chấm mắm ruốc. Tấm về không thấy Bống đâu gọi mãi chẳng lên. Bỗng có con gà mái lạng quạng đâu gần đấy cất tiếng. xương cá bống bèn ngồi khóc. Bụt lại hiện lên cái hũ chôn ở 4 chân giường sau này đến khi thời cơ chín muồi ta sẽ cho con biết.
CẢNH V ( Tên lính đi rao.) Lính: nhà vua mở hội mời bà con nội ngoại 2 bên cô chú anh chị em đến dự
Cám: mẹ mẹ mẹ mẹ…..(thở hổn hên). Nhà …nhà vua mở hội, mẹ con mình
Dì ghẻ: ui giời ời. (thờ ơ) 3 cái hội ấy tao còn lạ gì. (đổi thái độ) Vào, vào
Tâm: Dì ơi! Cho con đi xem hội nhé. Dì ghẻ: việc tao giao mày làm xong chưa mà đòi đi? Tấm: dạ xong cả rồi. Tấm- Dì ghẻ: Quét nhà? dạ rồi. nấu cơm? dạ xong. Giặt đồ chưa? dạ rồi. rửa
hội. loa loa loa loa….( đi vào trong) đi dự hội đi. thay đồ đi thôi con chén? dạ xong. Cho heo ăn? dạ rồi. cho gà ăn? dạ xong. Cắt cỏ cho trâu? dạ rồi. tắm chó chưa? À nhầm nhà ko có chó. Bổ củi chưa? dạ xong hết rồi thưa dì. Ừ vậy thì đi đi. Tấm: (mừng rỡ) Con cảm ơm dì ạ. Cám: Tấm không được đi á nha mẹ….. con không biết à nha…….
20
Dì ghẻ nói thầm: nó làm xong hết rồi thì nó đi chớ mẹ biết làm sao? Cám: con không biết đâu mẹ nghỉ cách đi. Hhuhuhu Dì ghẻ: Được rồi, để mẹ nghĩ. (Dì ghẻ đi vào trong nhà.) (Tấm đi thay bộ đồ khác). Cám: (nói 1 mình) lần này con Tấm mà đi thì biết đâu nó cưa được hoàng tử
Dì ghẻ (đi ra nói với Cám): Đây đây mẹ nghĩ ra rồi. Con cứ đợi đấy mẹ cho
(Tấm thay đồ xong chạy ra.) Cám: (cười khúc khích) Đi hội với cái bộ đồ rách rưới ấy hả. xấc. (huých
Dì ghẻ: trước khi đi con làm cho mẹ cái này. Tấm: gì vậy ạ? Dì ghẻ: (bưng 2 thúng ra trút vào nhau) Con lựa cho mẹ kim cương đen với
Cám: (lẩm nhẩm) có thóc với gạo mà cũng bày đặt kim cương đen với hột
thì làm thế nào? Không được! Không được con xem. Tấm… Tấm đâu rồi ra đây mẹ bảo. Tấm 1 cái rồi quay đi) hột xoàn trắng ra 2 rổ rồi thì muốn đi đâu đi. xoàn trắng (đi vào trong cùng dì ghẻ)
CẢNH VI (Tấm ngồi khóc bụt lại hiện lên….) Bụt: làm sao con khóc? Tấm: hức hức hức (nấc) Bụt: con không nói thôi ta đi đây. Tấm: (nấc) từ từ…..(nấc)… con muốn đi xem hội nhưng mà dì con bắt nhặt
Bụt: thôi được rồi, con nín đi, ta sẽ giúp con. Tấm: đừng nói là Bụt ngồi đây nhặt ra nhé… Bụt: con khỏi lo. Ta sẽ sai đàn chim sẻ xuống để nhặt giùm con. Tấm: Hu hu hu… con không có đồ đẹp để đi xem hội Bụt: con cứ yên tâm để ta tính. ( vuốt râu) Con còn nhớ xương Bống ta bảo
Tấm: (chạy vào trong rồi chạy ra sân khấu) Ta đã có đồ đẹp rồi. Con cảm
ra 2 rổ thóc với gạo. Con lựa thì đến khi nào mới xong hả Bụt con chôn ở 4 góc giường không? Con vào nhà đào lên. Con sẽ thấy điều kì diệu. hà hà hà…..(Bụt đi bộ xuống sân khấu…) ơn ông bụt nhiều ạ! (Tấm đi ngang qua ,đến giữa sân khấu đánh rơi chiếc giày) .
21
CẢNH VII (Nhà vua cùng 2 tên lính đi ngang qua. Vua vấp chiếc hài té cái rầm). Vua: Ôi chiếc hài của ai mà đẹp thế này, nhân gian ta chưa thấy bao giờ.
Lính: dạ em đi ngay ạ.(gọi loa) Nhà vua có chiếc giày xinh ai là mỹ nhân thì
(Mọi người nô nức kéo đến thử giày trong đó có mẹ con Cám. Nhà vua ngồi
Lính: yêu cầu mọi người xếp hàng để lần lượt vào thử giày. Lính: Xin mời cô Mụn…Thị…Cám… Cám: (nũng nịu bước ra sân khấu) xin chào quí vị. Rất vui khi đến với cuộc
Lính: khoan khoan. Cho tui phỏng vấn đôi lời. Nếu như bạn thử vừa giày và
Lính: nói nhiều quá thử giày đi bà. (Cám thử giày nhưng không vừa. Cô ráng hết sức cho chân vào giày cuối
Dì ghẻ: đến lượt mẹ. (Cám nhăn nhó đi ra.) Lính: bà kia, ai cho bà vào đây? Dì ghẻ: tui đi thử giày. Tránh ra cho tui thử. Lính 1: bà tên gì? Dì ghẻ: Gạo Thị Nếp. Lính 2: (nhìn danh sách) Gạo Thị Nếp 25 tuổi mà bà thím ở đâu ra đấy Dì ghẻ: tao 52 không được à (dì ghẻ cho chân vào giày). Nhà vua: đúng là hồng nhan bạc mệnh mà. Ta đẹp trai ngời ngợi thế này mà
Người đi nó chắc cũng phải là mỹ nhân tuyệt thế. Ta nhặt được hài tức là có duyên đây. Các ngươi mau thông báo cho mọi người nhặt lại của rơi cho ta và ta cũng muốn xem người đó là ai, biết đâu đây là ông trời se duyên cho ta. xin lên thử. Loa loa loa loa. Nếu ai thử vừa giày sẽ được làm vợ vua. Loa loa loa loa…. trên) thi hôm nay. Em xin phép được thử giày. được làm hoàng hậu bạn sẽ làm gì? Cám: Em… nếu em được làm hoàng hậu thì em sẽ dành 50% số trang sức của mình đổi ra tiền mặt để cho mua váy áo. Em sẽ xin thêm nhà vua dành 1 số tiền cho vào quĩ mẹ em, dì em, nhà ngoại em..v..v…. cùng bị dì ghẻ xô ra…) xem cái lũ kia kìa. Haizz. Thôi dẹp dẹp hết đi. Về. Tấm: (từ trong chạy ra) Ơ giày của tui, của tui (xỏ giày vừa im)
22
Nhà vua: (mở to mắt) Ôi! Người đẹp, nàng chính là định mệnh của cuộc đời
ta. I LOVE U! (giơ 2 tay ra ôm Tấm), (nhạc Khi hai ta chung một nhà vang lên)
Hết
23
3. Kịch bản An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy Nhân vật: An Dương Vương, Trọng Thủy CẢNH I: (Nhạc và tiếng sóng biển dạt dào, xác Mị Châu trên bờ biển ) Trọng Thủy (chạy ra, gọi với): Mị Châu…Mị Châu…nàng ơi, (ôm xác vợ,
khóc buồn) Lỗi là tại ta, tại ta.
CẢNH II Trọng Thủy: (thẫn thờ đi như người mất hồn, mắt bỗng tìm kiếm) Mị Châu, nàng đâu rồi? Ta rất nhớ nàng, ta có lỗi với nàng! (Quỳ bên giếng nước) Phải nàng không, nàng đừng đi, hãy đợi ta (gieo mình xuống giếng)
CẢNH III (An Dương Vương đang ngồi trên ngai vàng, đầu cúi xuống buồn bã) Trọng Thủy: Nhạc phụ, người có thấy hiền thê Mị Châu của con đâu không
An Dương Vương (đứng dậy, giận dữ): Ngươi còn dám gọi ta là nhạc phụ ư,
Trọng Thủy: Nhạc phụ, xin người đừng nói như vậy! (quỳ xuống dưới chân
An Dương Vương: (đẩy ra) ngay từ đầu, khi ngươi đến với Mị Châu, ngươi
An Dương Vương: Ngươi dặn Mị Châu như vậy để cha con ngươi đuổi theo
ạ? ngươi còn dám tìm gặp con gái ta ư? An Dương Vương) đã vì cái mục đích xấu xa của mình rồi. Trọng Thủy: (đau buồn) Thưa nhạc phụ, đúng là khi mới sang Âu lạc, con chỉ vì muốn đánh cắp bí mật của Âu Lạc mà phải đóng vai con rể. Nhưng khi ở bên Mị Châu, chính sự ngây thơ, tấm lòng trong sáng, tình cảm chân thành của nàng đã làm tan bức tường giá băng trong con. Con thực sự rất yêu thương nàng! An Dương Vương: (tức giận) yêu thương ư, ngươi nói từ ấy không biết ngượng mồm à. Tình cảm chân thành đã làm tan chảy trái tim giá băng ư? Vậy tại sao ngươi không cùng Mị Châu chung sống hạnh phúc, vun đắp tình giao hảo 2 nước mà lại rắp tâm đánh tráo nỏ thần, rồi 2 cha con ngươi còn mang quân sang chiếm Âu Lạc! Ngươi là kẻ bội bạc, là một tên gián điệp xảo trá! Cút ngay! Trọng Thủy: (quỳ xuống) Xin người hãy hiểu cho con! (đứng dậy) Con buộc phải lựa chọn bên hiếu, bên tình. Khi tạm biệt nàng, con cũng dặn dò nàng rắc lông ngỗng để mong được gặp, đoàn tụ với nàng. rồi đẩy ta và con gái vảo cảnh cùng đường tuyệt lộ thì đúng hơn, hư.
24
Trọng Thủy: Con không hại chết Mị Châu. Chính Người đã chém chết nàng
Trọng Thủy: Nhưng nàng không có lỗi, không cố ý hại vua cha, chỉ vì nàng
Trọng Thủy: dạ không. Trước khi con trở về nước, con đã dặn dò nàng: “tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ, ta nay trở về thăm cha, lỡ như 2 nước thất hòa, bắc nam cách biệt, ta tìm nàng lấy gì làm dấu?” Con không thể nói thẳng ra, phải mượn lời bóng gió để nhắc nàng liệu đường chuẩn bị. Nào con có ngờ đâu chính lòng tin tuyệt đối của nàng dành cho con đã khiến nàng không thể nhận ra ngụ ý. Thực lòng con không muốn chuyện xảy ra với nàng như thế này! An Dương Vương: (chỉ tay giận dữ) Thôi, ngươi đừng nhiều lời xảo trá. Đừng nhắc tên con gái ta, ngươi không có tư cách. (đau buồn) Con gái ta trái tim lầm chỗ để trên đầu, nỏ thần vô ý trao tay giặc, nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu. Chính ngươi đã hại chết con gái thân yêu của ta! bằng thanh kiếm này.(chỉ tay vào thanh kiếm) An Dương Vương: ngươi…ngươi (đau đớn, đặt tay lên ngực, ho). Ngươi chưa từng làm cha, làm sao ngươi hiểu được nỗi đau của một người cha phải ra tay chém con gái yêu dấu của mình. Trái tim ta đau đớn như ngàn mũi kiếm đâm vào. Ngươi ngẫm xem, lần theo dấu lông ngỗng, Đà vương cha ngươi có thể để Mị Châu sống không! Mị Châu là đứa con gái duy nhất của ta nhưng cũng là một người dân. Bất cứ ai làm hại đến vận mệnh đất nước thì mang tội bất trung, mang tội với nước, dù có là dân hay công chúa. Ta là một người cha, nhưng cũng là đấng quân vương, phải đặt quyền lợi dân tộc lên hàng đầu, không thể vì tình riêng mà bao che cho con gái. quá tin tưởng con thôi. An Dương Vương: Sự chủ quan, mất cảnh giác khi nước nhà lâm nguy cũng là mang tội. Ta cũng vì chủ quan, mất cảnh giác nên đã đẩy vận mệnh đất nước đắm bể sâu. Ta có tội với nhân dân Âu Lạc. Vận nước thịnh suy, xã tắc an nguy đều do mệnh trời, nhưng con người tu tâm, tĩnh đức mà kéo dài thời vận. Mị Châu, con gái ta nếu một lòng trung hiếu, đời sau sẽ tỏ, cũng như ta và ngươi, hãy để đời sau suy xét. Còn bây giờ, ngươi hãy đi đi! (đi vào trong, còn Trọng Thủy quỳ sụp xuông, cúi đầu. nhạc nổi lên)
Hết
25
4. Kịch bản Tam đại con gà (Kịch bản lớp 10a1) Nhân vật: Thầy đồ; Bố học trò; Mẹ học trò; Học trò 1,2,3. CẢNH I
Mẹ học trò: Cậu nói kể cũng phải. Thế trong bụng cậu chắc phải nhiều chữ
Bố học trò: vậy thì xin phép mời thầy về dạy cho bọn trẻ nhà tôi có được
(Thầy đồ đeo tay nải vừa đi, vừa đọc sách. Bố mẹ học trò đi tới) Bố học trò: Ê.. cu Tèo… cu Tèo… Đi đâu mà trông đỏm dáng thể nhỉ? Thầy đồ: (khó chịu, giọng bực bội) Cái nhà anh này, tôi đây là đang học trên tỉnh về. Bây giờ chữ nghĩa của tôi là có thể dạy cho cả làng này. Anh chị đừng có mà ăn nói suồng sã thế. Bố học trò: (ngượng ngùng, bối rối) thì tôi đây cứ quen miệng vậy. Này, thế cho tôi hỏi việc học cái chữ trên tỉnh có khó như vợ tôi rặn đẻ không vậy? (vừa nói vừa xoa bụng bầu của vợ) Thầy đồ: (càng bực bội) Cái nhà anh này, đương nhiên là khó gấp vạn lần chứ lị. Rặn đẻ thì con nó ở trong bụng, rặn mãi thì nó cũng ra. Chứ học văn mà không có chữ nào trong bụng thì lấy gì mà rặn hả. lắm nhỉ (lấy tay chỉ vào bụng thầy đồ) Thầy đồ: (gạt tay mẹ học trò, vẻ mặt tự đắc) Lại chả. Tôi đây trên thông thiên văn, dưới tường địa lí, sách Tam thiên tự tôi thuộc làu làu. Thử hỏi có cái gì mà tôi không tường. không? Thầy đồ: (giả vờ lưỡng lự) Tôi là tôi đang bận nghiên cứu sách thánh hiền cơ. Thế nhưng mà… thôi được rồi, tôi sẽ sắp xếp cho anh chị. Mà từ bây giò anh chị phải gọi tôi là thầy đồ nghe chưa? (tay vỗ ngực tự đắc). Bố mẹ học trò: (vui mừng) Vâng, quý hóa quá!
CẢNH II (Thầy đồ ngồi trên dạ học. Ba trò ngồi dưới) Thầy đồ: (tay cầm bút viết lên giấy) Các trò, đây là chữ nhất. Còn đây là chữ
nhị. Đây là chữ tam. (Học trò đọc theo lời thầy). Học trò 1: Thầy ơi, thế chữ vạn viết như thế nào ạ? Thầy đồ: (vẻ mặt bối rối, thì thầm) Sao nó không hỏi mình chữ tứ, chữ ngũ, mà lại hỏi chữ vạn nhỉ? Chữ vạn viết thế nào nhỉ? (Nói vói học trò) Ta sẽ dạy từ từ cho các trò. Bây giờ mà học chữ vạn thì tối cũng chưa đến. Học trò: vâng ạ!
26
Thầy đồ: (chỉ vào nét chữ Tước) Các trò, đây là chữ tước, nghĩa là chim sẻ.
Học trò: (đọc to) Tước là chim sẻ. Thầy ơi, thế sau chữ tước là chữ gì hả
Thầy đồ: (bối rối, luống cuống) Chữ này là…là…là…chữ gì nhỉ…là… Học trò: gì hả thầy.. Thầy đồ: gì nhỉ… Dủ dỉ là con dù dì. Học trò: (đọc to) Dủ dỉ là con dù dì. Thầy đồ: (nói nhỏ) Ấy, ấy, các trò đọc khẽ thôi. Mẹ học trò: (nói vọng ra) Mời thầy trò nghỉ một chút uống bát nước rồi học
Học trò: (gân cổ đọc to 3 lần) Dủ dỉ là con dù dì. Dủ dỉ là con dù dì. Dủ dỉ là
Bố học trò: (chạy vào cầm sách, nhìn chữ với vẻ mặt ngạc nhiên) Ấy chết,
Bố học trò: (băn khoăn không hiểu) Dạ thế là thế nào ạ? Thầy đồ: (tự đắc) này nhé dủ dỉ là con dù dì. Dù dì là chị con công. Con
Các trò đọc to cho thầy: Tước là chim sẻ thầy? chữ gì hả thầy? Chữ gì thầy ơi? tiếp ạ. Thầy đồ: Ừ, ừ, ta cho các trò nghỉ một chút nhé. (nhìn vào sách, nói một mình) Chữ gì sau chữ tước nhỉ, hay là chữ dủ dỉ thật. à, có bàn thờ thổ công đây rồi. Ta thử khấn xem thổ công bảo thể nào?(vừa vái lạy, vừa khấn) Con lạy thổ công, xin thần cho con biết chữ này có phải là chữ dủ dỉ không ạ? (tung 3 đài dược cả 3, thầy vui mừng). Ồ, ha ha, đúng là chữ dủ dỉ thật. (đi ra phía học trò) Các trò, đọc to cho ta nghe dủ dỉ là con dù dì. con dù dì chữ kê là gà, sao thầy lại dạy là dủ dỉ là con dù dì. Thầy đồ: (ngượng ngùng, bối rối thì thầm) Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt. (quay sang nói nới bố học trò) Tôi biết chữ ấy là chữ kê mà kê có nghĩa là gà, nhưng tôi là tôi đang dạy cho học trò biết đến tận tam đại con gà ấy. công là ông con gà. Thế chẳng phải là tam đại con gà thì là gì. Bố học trò: (lắc đầu) Trời!
Hết
27
5. Kịch bản Nhưng nó phải bằng hai mày (Kịch bản 10a3) Nhân vật: Cải; Ngô; Thầy lí xử kiện; lính lệ 1,2; người dẫn chuyện CẢNH I (Ngô vừa đi vừa huýt sáo. Cải gọi với) Cải: Ngô.. Ngô…Ngô. Ngô: (vênh váo) Thằng nào gọi tao đấy? Cải: Ngô, mày chăn trâu thế nào mà để trâu ăn hết lúa nhà tao thế? Ngô: (chắp tay ngang hông, vênh mặt) Ơ, cái anh này buồn cười nhỉ. Tôi chỉ có nhiệm vụ thả trâu ra đồng, còn trâu có ăn lúa nhà anh hay không, làm sao tôi biết được. Cải: (tức giận) à, mày còn cãi cùn a, tao bắt đền mày đấy. Ngô: Tôi không đền đấy, làm gì được tôi nào? Cải: À, vẫn còn cãi cùn à (giơ tay dọa đấm) Ngô: (lấy tay đợ lại) Ê, quân tử động khẩu chứ không động thủ nhé. Cải: (Vừa đấm vào mặt Ngô, vừa nói) Này thì động khẩu này. Ngô: à, mày dám đánh tao à (giơ tay đấm lại). Cải: (đau đớn) Tao…tao sẽ đi kiện mày. Mày cứ đợi đấy. Đợi đấy. Ngô: (sợ hãi, lo lắng) Thôi chết rôi, nó đi kiện quan, làm thế nào bây giờ?
CẢNH II Tại nhà thầy lí. Cải: (gọi với từ ngoài) Dạ, thầy lí có nhà không ạ? Thầy lí: (đang uống trà, thấy có người gọi thầy bỗng giật mình) Đứa nào
nheo nhéo ở cổng nhà ông đấy? Cải: (chạy vào, khúm núm) Dạ con chào thầy lí ạ. Dạ con là Cải. Hôm nay con có chuyện đến nhờ thầy ạ. (thì thầm, tay đút tiền vào túi thầy lí) dạ, mong thầy giúp con ạ! Thầy lí: Ừ, nhà anh cứ về đi. Thầy sẽ giúp.
CẢNH III Ngô: (gọi với từ ngoài) Dạ, thầy lí có nhà không ạ? Thầy lí: (đang uống trà, thấy có người gọi thầy bỗng giật mình) Lại đứa nào
nheo nhéo ở cổng nhà ông đấy? Ngô: (chạy vào, khúm núm) Dạ con chào thầy lí ạ. Dạ con là Ngô. Hôm nay con có chuyện đến nhờ thầy ạ. (thì thầm) Dạ, nhưng mà con không sai đâu. (tay đút tiền vào túi thầy lí) dạ, mong thầy giúp con ạ!
28
Thầy lí: Ừ, nhà anh cứ về đi. Thầy sẽ có cách. (chờ Ngô về, thầy rút trong túi ra 2 tờ tiền) à, xem mối này thế nào? Thằng Cải 5 đồng, Thằng Ngô 10 đồng. Rồi, ta biết xử thế nào rồi. he he (Vuốt ria mép)
CẢNH IV. Tại buổi xử kiện Dân làng: Bà con ơi, đi xem xử kiện đi. (Cải và Ngô vừa đi vừa cà khịa
Thầy lí: (đập bàn) giữ trật tự. (tiếng lính lệ: ù..ù…ề..ề…). Mày là thằng Cải,
Cải-Ngô: (khúm núm) dạ. Thầy lí: Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt chục roi. Cải: (ngạc nhiên) dạ, xin thầy xem xét lại. (Giơ bàn tay trái) xin thầy xem
Thầy lí: (lấy bàn tay trái úp lên bàn tay phải) Tao biết mày phải, nhưng nó
nhau) còn mày là thằng Ngô phải không? xét lại, lẽ phải về con ạ. phải bằng hai mày.
HẾT
29
6. Vở kịch Lợn cưới, áo mới (Kịch bản 10a9)
Nhân vật: Hay Văn Khoe; Hay Văn Khoang; Vợ Hay Văn khoe; dân
CẢNH I Hay Văn Khoe: (vừa đi ra vừa vẫy tay chào) Em chào tất cả bà con cô bác
Dân làng: ê, cái nhà anh này buồn cười nhỉ. Không xưng danh thì ai biết là
Hay Văn Khoe: Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào
Hay Văn Khoang: (không thèm nhìn áo, mắt vẫn tìm kiếm) Đâu rồi. (Quay
Hay Văn Khoe: (dứ tà áo vào Khoang, bực bội) Đã bảo tù lúc tôi mặc chiếc
làng nhé! Dạ, em ra đây có phải xưng danh không nhỉ? ai. Hay Văn Khoe: vâng, thế thì em xin giới thiệu. Em tên là Hay Văn Khoe, mọi người òn gọi em là Mít tờ Khoe ạ. (đưa tay vuốt ngược tóc) Thế hôm nay các bác thấy em có đẹp trai không? (tay vân vê tà áo) các bác có thấy em hôm nay có gì mới không? Hay Văn Khoang: (tay cầm gậy, chạy vào, mắt đang tìm kiếm) Đâu, đâu rồi, nó đâu rồi. (nhìn Hay Văn Khoe) Ấy, em chào bác Khoe nhá. Bác, bác có thấy con lợn cưới nhà em chạy qua đây không ạ? chạy qua đây cả. xuống khán giả) Các bác có thấy con lợn cưới nhà em chạy qua đây không ạ? áo mới không có con lợn nào mà lị. Hay Văn Khoang: Thế thì bác đi ra để tôi kiếm lợn cưới nhà tôi. (Chạy ra)
CẢNH III Vợ Hay Văn Khoe: (gọi với) Mít tờ Khoe đâu rồi? Hay Văn Khoe: (đang nhìn ngắm áo mới, giật bắn mình khi nghe thấy tiếng gọi) Ấy đấy, con vợ em nó vừa gọi em ác bác ạ. Em phải nhanh chân trốn đây không thì vợ em đánh em chết. (Cắp nách đôi guốc, chạy vào trong) Vợ Khoe: (chạy ra sân khấu) Em chào tất cả các bác nhé. Các bác có thấy nhà em là Hay Văn Khoe đâu không ạ? Gớm, chưa cơm nước gì mà đã đi đâu rồi. Đấy, các bác có thấy khổ cái thân em không? Làm trai cho đáng nên trai, như Lý Đức, Văn Mách, khỏe như lực sĩ í (khoe cơ băp tay), chứ chồng em thì, chẹp, khom lưng chống gối gánh… hai hạt vừng, các bác ạ. “Chồng người thì đi ngược về xuôi; chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo”, “chồng người bể Sở, sông Ngô; chồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần”. Hì, hì, nhưng được cái chồng em yêu thương em lắm các bác ạ. Chẳng giấu gì các bác, em thì tính cũng hơi đoàng đểnh 1 tí, lỗ mũi
Hay Văn Khoe: Úi dùi ui, các bác thấy em có nhanh chân không ạ, không
Dân làng: ê, cái đồ sợ vợ. Hay Văn Khoe: sợ vợ cũng được, sợ vợ sống lâu, đặt vợ lên đầu trường sinh
Vợ Khoe: (chạy ra, kéo tai chồng) à, ông Khoe đây rồi, thế ông thái khoai
Dân làng: ê… ê , cái đồ sợ vợ Hay Văn Khoe: (bị vợ kéo tai, mặt nhăn nhó) Đặt vợ lên đầu trường sinh
30 18 gánh lông, thế mà chồng em bảo râu rồng trời cho. Đêm nằm thì ngáy o o; chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà. Đi chợ thì hay ăn quà; chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm. Trên đầu những rác cùng cùng rơm; chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu. Hì, hì, sáng nay ra chợ em mua cho nhà em cái áo mới, chắc lại chạy lung tung đi khoe rồi. Thôi em chào các bác, em đi tìm chồng em đây ạ (chạy ra) thì em đã bị vợ em đánh cho 1 trận lên bờ, xuống ruộng rồi. bất lão, các cụ chẳng dạy thế mà lị. băm bèo gì cho tôi chưa? Về ngay! bất lão!
Hết
31
7. Kịch bản Cuộc gặp gỡ của Cải và thầy đồ giấu dốt (Kịch bản: học
Nhân vật: Thầy đồ, Cải. (Cải mặt ủ ê, buồn rầu, tay xoa lưng, đi lững thững. Bỗng dừng lại, giận dữ,
Thầy đồ: (lấy tay che mặt, nhăn nó) cha tiên sư tổ bố thằng nào vừa ném sỏi
Cải: (chạy ra, bối rối) Ối ôi, em xin lỗi bác, em không có ý đâu. Thế bác có
Thầy đồ: (nhăn nhó) cũng không sao (đẩy tay Cải ra). Cải: (sững người, vui mừng) Ô, cu Tèo, cu Tèo phải không? ông không nhận
Thầy đồ: (giận dỗi) người ta hai mươi mấy nồi bánh chưng rồi mà cứ gọi cu
Cải: (buồn rầu) tôi vừa trên huyện về đấy. Bực mình quá cơ. Bị một trận đòn
Thầy đồ: Ai, ai dám đánh ông thể, bảo tôi để tôi cho nó một trận. (xắn tay
Thầy đồ: quan…quan cơ á, (kéo tay áo xuống), thế sự tình thế nào mà ông
Thầy đồ: chết thật, thương ông quá, nhưng quan xử kiện ai lại làm thế bao
Thầy đồ: Chuẩn đấy, ta không nên tiếp tay cho hành động sai trái như vậy.
(Tiếng bọn trẻ con chơi đùa, đọc to: dủ dỉ là con dù dì. Dù dì là chị con
sinh Lưu Thị Thu Hà, lớp 10a3) lấy chân đá viên sỏi trên mặt đường. Thầy đồ vừa đi tới, bị viên sỏi trúng mặt) vào ông thế này, gãy hết ngô khoai nhà ông rồi thì ông ăn bằng gì. sao không? Bác ngồi tạm hàng nước nghỉ chút để em xem răng lợi thế nào? ra tôi à, Cải đây.Úi dồi, tưởng là ai hóa ra người quen. Cu Tèo đây mà. Tèo mãi cơ. Thế đi đâu mà bực bội đá thúng đụng nia, bắn bia hòn sỏi thế? oan nhớ đời, huhuhu. áo) Cải: quan đánh chứ ai. Tức quá đi mất. lại bị quan đánh vậy, kể tôi nghe xem sao. Cải: Tôi và thằng ngô cùng làng xích mích với nhau, không ai chịu thua ai nên kéo nhau đi kiện. Tôi có đút lót cho quan 5 đồng, nhưng thằng Ngô khôn lỏi, nó đút quan 10 đồng. Thế là tôi bị xử thua, lại còn bị phạt thêm chục roi, đau quá ông ạ. Hu. giờ, đã ăn đút lót lại còn đánh người ta đau thế này. Cải: Tôi rút ra bài học cho mình rồi. Tốt nhất, cứ theo pháp luật mà làm. Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ. Chẳng bao giờ tôi đút lót nữa. Tiền mất tật mang, nhục lắm! Rút kinh nghiệm sâu sắc nhé! (vỗ vai Cải an ủi) công. Con công là ông con gà.)
32
Thầy đồ: (ngượng nghịu quay mặt, lầm nhẩm) sao cái lũ trẻ con này vẫn còn
Cải: ông sao vậy, ông quen bọn trẻ con nhà đó à. Thầy đồ: thôi, cũng chẳng giấu gì ông, tôi chán phải giấu diếm lắm rồi. Hôm
Cải: ngày trước ông học hành lơ mơ thế mà cũng đi dạy học cơ á. Ha ha.
Cải: vậy là bọn trẻ ấy đang đọc chữ ông dạy hả. Chết, thế mà nó sau này lại
Cải: cha tiên sư tổ bố nhà thầy nào lại dạy con nhà người ta như thế. Con dù dì mà lại là chị con công, con công mà lại là ông con gà, ha ha, thời thế đảo điên điên đảo rồi. đọc câu đấy to như thế nhỉ? nay tôi đi dạy học, tôi bị một pha bẽ mặt chỉ muốn chui xuống lỗ thôi. Dòng đời chẳng biết thế nào. Ha ha. Hoang mang quá… Thầy đồ: Thế mới có chuyện. Chẳng là thế này, tôi đi dạy thì gặp một chữ mà tôi lại không biết. Chữ kê, nghĩa là gà đấy. Chỉ vì tính sĩ diện mà tôi nói bừa cho bọn trẻ là chữ dù dì. Tôi cẩn thận còn cúng hỏi thổ công nhà đấy được cả 3 đài luôn. Hóa ra thổ công nhà nó cũng dốt như tôi. Không may, bố bọn chúng lại là người biết chữ nghĩa, đã phát hiện ra tôi dạy sai. Chẳng hiểu sao khi bị bố bọn trẻ phát hiện ra rồi mà tôi vẫn còn cố giấu. Tôi lại còn bảo với bố chúng là dạy tam đại con gà: dủ dỉ là con dù dì. Dù dì là chị con công. Con công là ông con gà. Đúng là nhục, nhục, nhục quá. đi dạy chữ đó cho học trò như ông thì hỏng cả mấy thể hệ còn gì. Thầy đồ: tôi hối lỗi lắm rồi. Sau này nhất định tôi sẽ không học thói khoác lác, giấu dốt nữa. Tôi sẽ cố gắng học hỏi thêm. Không biết thì phải hỏi. Muốn giỏi thì phải học. Các cụ đã dạy đố có sai. (cả 2 gật gù). Cải: Thôi, đi một ngày đàng học một sàng khôn. Hôm nay cả 2 chúng ta đều rút ra những bài học cho mình. Trời cũng muộn rồi, chúng ta về thôi. (cả 2 khoác vai nhau ra về).
Hết
33
II. Giải pháp 2 – Hình thức ngâm thơ, hát, múa 1. Ngâm thơ, hát *Ngâm thơ: - Ngâm thơ những bài thơ hiện đại viết về cô Tấm, về nàng Mị Châu, như:
Nhớ về Cô Tấm
Bao lần oan ức, đành ngồi khóc Dì ghẻ con chồng, biết cậy ai? Bụt hiện về khuyên làm việc thiện Trong mơ thấp thoáng bóng lâu đài
(Đinh Văn Lành)
Tâm sự …Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu Trái tim lầm chỗ để trên đầu Nỏ thần vô ý trao tay giặc Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu… (Tố Hữu)
- Ngâm thơ những bài ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa.
* Hát - Hát những ca khúc hiện đại lấy cảm hứng từ văn học dân gian, như: Bống
- Hò đối đáp giao duyên, như: (Bên nữ, bên nam cùng đi ra sân khấu. Nữ e thẹn, ngượng ngùng. Nam tươi
Mà vấp phải đá mà quàng phải dây
Bống Bang Bang (Only C); Chuyện thành Cổ Loa (Đàm vĩnh Hưng); v.v… cười, tỏ ý trêu ghẹo) Nam 1: Cô kia xinh quá. Nam 2: Cô bên kia cũng xinh nữa. Nữ 1: Các anh ơi, đi đâu mà vội mà vàng Nam 1: Chúng anh đang đi cày đấy, các em ạ! Nữ 2: Hò …ơ… Một đàn cò trắng bay chung Bên nam bên nữ ta cùng cất lên Cất lên một tiếng linh đình Cho loan sánh phượng cho mình sánh đôi Nam 2: Hò….ơ… Cất lên một tiếng la đà Đàn ông hát trước đàn bà hát sau
34
Vườn hồng có lối ai vào hay chưa?
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào!
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào?
Nam 1: Hò …ơ… Tiện đây mận mới hỏi đào Nữ 1: Hò..ơ…Mận hỏi thì đào xin thưa Nữ 2: Anh kia có vợ con chưa Nam 2: Các anh chưa có người thương đâu! Các em có muốn làm vợ chúng
Nữ 1: Nếu về nhà anh, anh sẽ mang sính lễ gì để đón dâu vậy? Nam 1,2: Các em ơi, ... (vừa đọc vừa vỗ tay làm nhịp) anh không?
Cưới nàng, anh toan dẫn voi, Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn Dẫn trâu, sợ họ máu hàn Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân Miễn là có thú bốn chân Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng
Nữ 1, 2: (vừa đọc vừa vỗ tay làm nhịp)
Chàng dẫn thế em lấy làm sang
Nỡ nào em lại phá ngang như là… Người ta thách lợn thách gà Nhà em thách cưới một nhà khoai lang: Củ to thì để mời làng Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi Bao nhiêu củ mẻ, chàng ơi! Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà Bao nhiêu củ rim, củ hà, Để cho con lợn, con gà nó ăn…
- Hát các bài dân ca 3 miền, như: Trống cơm; Cò lả; Cây trúc xinh; Đi cấy;
Lý dĩa bánh bò;v.v... Chỉ ra lời ca dao của những bài dân ca trên: + Bài Trống cơm:
Trống cơm khéo vỗ nên vông, Một bầy con nít lội sông đi tìm, Thương ai con mắt lim dim,
35 Một bầy con nhện đi tìm giăng tơ. Thương ai duyên nợ tang bồng
+ Bài Cò lả có sự kết hợp từ 1 số bài ca dao khác nhau:
Con cò bay lả bay la Bay từ cửa tổ bay ra cánh đồng… Mình về có nhơ ta chăng Ta về ta nhơ hàm răng mình cười… Trăm quan mua mấy miệng cười Nghìn quan chẳng tiếc, tiếc nụ cười em xinh...
+ Bài Cây trúc xinh:
Trúc xinh trúc mọc bờ ao Anh Hai /chị Hai xinh đứng nơi nào cũng xinh. Trúc xinh trúc mọc sân đình. Anh Ba /chị Ba xinh đứmg một mình cũng xinh. Trúc xinh trúc mọc bờ sông, Người ơi đã có nơi nào, hay vẫn còn không? Trúc xinh trúc mọc sân chùa, Anh Tư không yêu tôi lấy đạo bùa cho phải yêu!
+ Bài Đi cấy:
Lên chùa bẻ một cành sen Ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng Ba bốn cô có hẹn cùng chăng? Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm Muốn cho trong ấm ngoài êm...
+ Bài Lí dĩa bánh bò:
Hai tay bưng đĩa bánh bò Giấu cha giấu mẹ cho trò đi thi
Lời thơ những bài ca dao trên được kết hợp với âm nhạc và thêm các yếu tố tạo giai điệu như: “í a”, “ấy mấy”, “tình tính tang”…đã tạo nên những làn điệu dân ca.
36
III. Giải pháp 3 – Hình thức hùng biện Gợi ý một số vấn đề hùng biện: 1. Vẻ đẹp người anh hùng Đăm Săn 2. Vai trò của các yếu tố kì ảo trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị
Châu – Trọng Thủy
3. Sự chuyển biến tích cách cô Tấm: từ yếu đuối, thụ động đến mạnh mẽ,
chủ động đấu tranh giành lại sự sống và hạnh phúc.
4. Từ ý nghĩa của truyện cười dân gian Tam đại con gà, em hãy nêu suy
nghĩ về tác hại của việc học sinh giấu dốt.
5. Từ hình ảnh người phu nữ trong các bài ca dao than thân, hãy nêu cảm
nhận về người phụ nữ trong xã hội hiện đại ngày nay .
6. Cái hay, cái đẹp của bài ca dao Khăn thương nhớ ai 7. Vẻ đẹp tâm hồn người lao động xưa qua các bài ca dao hài hước.
v.v…
37
PHỤ LỤC II
1. Mẫu phiếu 1
PHIẾU ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT Ý KIẾN GIÁO VIÊN
Kính thưa Thầy (cô)!
Để thực hiên nhiệm vụ đổi mới PPDH môn Ngữ văn nhằm phát huy năng lực của học sinh và khơi dậy ở các em sự hứng thú học tập môn Ngữ Văn, tôi triển khai nghiên cứu đề tài: Tổ chức hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân
gian nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học và nâng cao chất lượng môn văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Yên Dũng số 3, kính mong thầy (cô) vui lòng trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách khoanh vào một trong những phương án đã cho hoặc viết ý kiến của mình vào chỗ (….). Những thông tin thu được, tôi cam kết sẽ chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu đề tài khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy (cô)!
1. Việc thiết kế nội dung bài học có được thầy (cô) thực hiện thường xuyên không? a, Thường xuyên. b, Không 2. Theo thầy (cô), hoạt động sân khấu hóa có cần thiết cho một giờ học tác phẩm văn học dân gian không? a, Có b, Không 3. Khi thiết kế nội dung bài học tác phẩm dân gian, các thầy (cô) có thiết kế hoạt động sân khấu hóa không? a, Có b, Không 4. Thầy (cô) có thực hiện hoạt động sân khấu hóa cho một giờ học tác phẩm văn học dân gian không? a, Có b, Không 5. Khi thiết kế hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian, các thầy (cô) xác định mục tiêu là gì? (có thể chọn nhiều mục) a, Củng cố kiến thức của HS. b, Tạo ra hứng thú cho HS. c. Tạo ra “tình huống có vấn đề” để vào bài mới.
38 6. Hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian, thầy (cô) thường tổ chức là gì? (có thể chọn nhiều mục) a, Đóng kịch b, Hát c, Hùng biện d, Khác
Bảng 1: Khảo sát hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian của GV
Nội dung khảo sát T T Tỉ lệ % Số GV khảo sát
Việc thiết kế nội dung bài học có được thầy (cô) thực hiện thường xuyên không 1
- Có 9 100
- Không
Theo thầy (cô), hoạt động sân khấu hóa có cần thiết cho một giờ học tác phẩm văn học dân gian không? 2
- Có 9 100
- Không
Khi thiết kế nội dung bài học tác phẩm dân gian, các thầy (cô) có thiết kế hoạt động sân khấu hóa không? 3
- Có 9 100
- Không
Thầy (cô) có thực hiện hoạt động sân khấu hóa cho một giờ học tác phẩm văn học dân gian không? 4
- Có 9 100
- Không
Khi thiết kế hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian, các thầy (cô) xác định mục tiêu là gì? 5
- Củng cố kiến thức của HS 7 78
- Tạo ra hứng thú cho HS 9 100
- Tạo ra “tình huống có vấn đề” để vào bài 3 33
Hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian, thầy
39
6 (cô) thường tổ chức là gì?
- Đóng kịch 9 100
- Hát 9 100
- Hùng biện 3 56
- Khác
2. Mẫu phiếu 2
PHIẾU ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT Ý KIẾN HỌC SINH
Các bạn thân mến!
Để thực hiên nhiệm vụ đổi mới PPDH môn Ngữ văn nhằm phát huy năng lực của học sinh và khơi dậy ở các em sự hứng thú học tập môn Ngữ Văn, tôi triển khai nghiên cứu đề tài: Tổ chức hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian
Xin chân thành cảm ơn!
nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học và nâng cao chất lượng môn văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Yên Dũng số 3, rất mong các bạn vui lòng trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách khoanh vào một trong những phương án đã cho hoặc viết ý kiến của mình vào chỗ (….). Những thông tin thu được, tôi cam kết sẽ chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu đề tài khoa học. Mức độ hứng thú của em đối với bài giảng Nhưng nó phải bằng hai mày: a, Rất hứng thú b, Hứng thú c, Bình thường d, Không hứng thú
Bảng 2: Khảo sát, đánh giá mức độ hứng thú trong giờ dạy
Lớp SL Rất Hứng thú
Đối tượng hứng thú Bình thường Không hứng thú
SL SL SL SL
TL (%) TL (%) TL (%) TL (%)
73 17 12 0 0 8 4 10a3 45 33
Đối chứng
0 0 39 16 33 7 10a5 43 17 19
Thực nghiệm
40
3. Mẫu phiếu 3
PHIẾU ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT Ý KIẾN HỌC SINH
Các bạn thân mến!
Để thực hiên nhiệm vụ đổi mới PPDH môn Ngữ văn nhằm phát huy năng lực của học sinh và khơi dậy ở các em sự hứng thú học tập môn Ngữ Văn, tôi triển khai nghiên cứu đề tài: Tổ chức hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian
Xin chân thành cảm ơn!
nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học và nâng cao chất lượng môn văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Yên Dũng số 3, rất mong các bạn vui lòng trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách khoanh vào một trong những phương án đã cho hoặc viết ý kiến của mình vào chỗ (….). Những thông tin thu được, tôi cam kết sẽ chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu đề tài khoa học. 1. Em có quan tâm đến hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian không? a) Mức độ cao b) Mức độ TB c) Mức độ thấp. 2. Mức độ hứng thú của em đối với những bài học chưa có hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian? a, Rất hứng thú b, Hứng thú c, Bình thường d, Không hứng thú 3. Khi có hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian, mức độ hứng thú của em với giờ học Ngữ văn như thế nào? a, Rất hứng thú b, Hứng thú c, Bình thường d, Không hứng thú
41
Bảng 3: Khảo sát HS LỚP 10A3, 10A5, 10A6, 10A9 sau chuyên đề
TT Nội dung khảo sát
Tỉ lệ % Số HS khảo sát
174 100
Em có quan tâm đến hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian không? 1
Mức độ cao 124 72
Mức độ TB 38 22
Mức độ thấp 12 16
Mức độ hứng thú của em đối với những bài học chưa có hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian? 2
Rất hứng thú 17 9
Hứng thú 40 23
Bình thường 106 60
Không hứng thú 11 8
Khi có hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian, mức độ hứng thú của em với giờ học Ngữ văn như thế nào?
Rất hứng thú 128 74 3
Hứng thú 36 20
Bình thường 10 6
Không hứng thú 0 0
4. Bảng Khảo sát kết quả sau giờ học
Lớp Số lượng Giỏi % Khá % TB % Yếu %
10a3 45 (TN) 22 71 7 0 0 10 32 3
42
10a5 43 (ĐC) 9 65 26 0 0 4 28 11
5. Bảng so sánh kết quả TBM của học sinh.
Số lượng Giỏi % Khá % TB % Yếu % Lớp 10a3
29 71 0 0 0 0 45 13 32
Khảo sát đầu năm
Cuối học kì 1 86,7 13,3 0 0 0 0 45 33 12
Số lượng Giỏi % Khá % TB % Yếu % Lớp 10a5
51 49 0 0 0 0 43 22 21
Khảo sát đầu năm
Cuối học kì 1 79 21 0 0 0 0 43 34 9
Số lượng Giỏi % Khá % TB % Yếu % Lớp 10a6
0 0 17 80 3 41 7 33 1
Khảo sát đầu năm
Cuối học kì 1 2,4 70 27,6 0 0 41 1 29 11
Số lượng Giỏi % Khá % TB % Yếu % Lớp 10a9
0 0 19 75 6 36 7 27 2
Khảo sát đầu năm
Cuối học kì 1 0 0 57 43 0 0 35 20 15
43
PHỤ LỤC III
MỘT SỐ HÌNH ẢNH, VIDEO CỦA HOẠT ĐỘNG SÂN KHẤU HÓA
TRONG GIỜ HỌC.
Vở kịch Nhưng nó phải bằng hai mày mang lại nhiều tiếng cười của HS lớp 10a3 Đường link xem video https://youtu.be/w-whLeNX6Fs
44
Lớp 10a9 với vở kịch Lợn cưới áo mới sau giờ học ca dao hài hước Đường link xem video https://youtu.be/ySptr4vXatY
Hò đối đáp giao duyên Cưới nàng anh toan dẫn voi của học sinh 10a5
Hát dân ca 10a6
45
Đường link xem video https://youtu.be/s97AbZRu8rU
Hát dân ca 10a6 - Đường link xem video https://youtu.be/O3lB9TX5Fjs
Hát dân ca 10a6
Đường link xem video https://youtu.be/gLQvfLOtmsE
46
Hát dân ca 10a5
Đường link xem video https://youtu.be/IAyjnN-5fto
Hát dân ca 10a9
Đường link xem video https://youtu.be/zUtF0Af9DXo
47
HS Nguyễn Thị Phương, 10a6 hùng biện
Đường link xem video https://youtu.be/G46xikJp4w8
HS Nguyễn Văn Tân, 10a6 hùng biện Đường link xem video https://youtu.be/6wbmIp22wrA
48
HS Hồ Thị Huệ, 10a6 hùng biện
Đường link xem video https://youtu.be/TWMTO4ScJTU
Học sinh lớp 10a5 hùng biện
Đường link xem video https://youtu.be/_yOzErqSl38
49
HS Chúc Linh 10a9 hùng biện
Đường link xem video https://youtu.be/d0G5UFy0m_8
HS Nguyễn Thị Vĩnh lớp 10a9 hùng biện
Đường link xem video https://youtu.be/TpDzi0RV120
50
HS Nhật Anh lớp 10a3 hùng biện
Đường link xem video https://youtu.be/85H1uuvhK1E
HS Thanh Vân lớp 10a3 hùng biện Đường link xem video https://youtu.be/2TUdaPww7HI
51