
Bộ Khoa học và Công nghệ
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN
THÔNG
CƠ SỞ TẠI TP.HCM
▪▪▪
KHOA: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 2
NGÀNH: CÔNG NGHỆ ĐA PHƯƠNG TIỆN
BÀI TẬP TIẾN TRÌNH
MÔN: NHẬP MÔN CNS VÀ ỨNG DỤNG AI
Đề tài: Nghệ thuật cải lương: di sản văn hóa và tinh
thần của dân tộc Việt.
Lớp: D25CQPT02-N
Nhóm: 6
Các thành viên của nhóm:
Họ và tên Mã số SV
Trần Thanh Hoài N25DCPT090
Nguyễn Lê Huỳnh N25DCPT095
Nguyễn Đức Thành N25DCPT130
Trương Hồng Bảo Duy N25DCPT085
Lê Hoàng Nguyên N25DCPT110
Hồ Sỹ Lợi N25DCPT101

MỤC LỤC
Phần A: Lời mở đầu...........................................2
Phần B: Nội dung chính.....................................3
1.Nguồn gốc:....................................................3
2. Đặc điểm của sân khấu Cải Lương:.............3
2.1. Cấu trúc và kịch bản:...............................4
2.2 Nghệ thuật diễn xuất và ca hát:................4
2.3 Âm nhạc và trang phục:...........................5
3. Các giai đoạn phát triển:...............................6
Phần C: Tổng kết.............................................11
Phần D: Tài liệu tham khảo.............................12
1 | P a g e

Phần A: Lời mở đầu
Trải qua hơn bốn ngàn năm văn hiến, dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên
một kho tàng văn hóa nghệ thuật đồ sộ và rực rỡ. Trong dòng chảy bất tận ấy,
nghệ thuật sân khấu Cải lương nổi lên như một viên ngọc quý của vùng đất
phương Nam, mang đậm hơi thở phóng khoáng, nghĩa tình và lòng yêu nước
nồng nàn của con người nơi đây. Không chỉ đơn thuần là một hình thức giải
trí, Cải lương còn là tiếng lòng, là cuốn biên niên sử bằng âm nhạc ghi lại
những thăng trầm của thời đại và những giá trị nhân văn cao đẹp.
Với đề tài "Nghệ thuật sân khấu Cải lương: Di sản văn hóa và tinh thần của
dân tộc Việt", bài báo cáo này không chỉ nhằm mục đích tìm hiểu về nguồn
gốc, quá trình hình thành và phát triển của bộ môn nghệ thuật độc đáo này,
mà còn đi sâu phân tích những giá trị tinh thần to lớn mà Cải lương mang lại
cho đời sống người T dân Việt Nam. Bên cạnh đó, bài viết cũng đề cập đến
thực trạng và những giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy di sản này trong bối
cảnh hội nhập văn hóa toàn cầu hiện nay.
Đồng thời, thông qua quá trình thực hiện đề tài, tôi cũng mong muốn vận
dụng những kiến thức tin học văn phòng đã được học để trình bày một văn
bản khoa học, mạch lạc và thẩm mỹ. Kính mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của Cô để bài báo cáo được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
2 | P a g e

Phần B: Nội dung chính
1.Nguồn gốc:
Về ngữ nghĩa: "Cải Lương" thường được giới nghiên cứu thống nhất bắt
nguồn từ câu đối nổi tiếng treo trước rạp hát Tân Thinh (một trong những
gánh hát đầu tiên) vào khoảng năm 1920:
“Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh”
Theo GS.TS Trần Văn Khê, "Cải lương" ở đây mang hàm ý "sửa đổi cho
trở nên tốt hơn", thể hiện khát vọng cách tân nghệ thuật Hát Bội cũ để phù
hợp với thị hiếu của tầng lớp thị dân mới tại Nam Bộ đầu thế kỷ 20.
Về nguồn gốc: Cải Lương không ra đời ngẫu nhiên mà là kết quả của một
quá trình "tiến hóa" nghệ thuật:
Mặc dù có nhiều tranh luận về mốc thời gian chính xác, nhưng đa số các
nhà nghiên cứu (như Vương Hồng Sển, Trần Văn Khải) và giới nghệ sĩ
thường lấy năm 1918 làm cột mốc ra đời chính thức của Cải Lương, gắn liền
với việc công diễn các vở tuồng của gánh hát thầy Năm Tú tại Mỹ Tho.
2. Đặc điểm của sân khấu Cải Lương:
Sự khác biệt cốt lõi của Cải Lương so với Tuồng hay Chèo nằm ở tính
"mở" và khả năng dung hợp. Nó vừa bảo lưu tính tự sự của sân khấu phương
Đông, vừa tiếp thu kỹ thuật tâm lý kịch của phương
3 | P a g e
Khởi thủy từ phong trào
Đờn ca tài tử (nhạc thính
Phát triển thành lối Ca ra bộ (vừa
ca vừa làm điệu bộ minh họa)
vào khoảng năm 1915-1916.
Hoàn thiện thành kịch hát
chuyên nghiệp trên sân khấu.

2.1. Cấu trúc và kịch bản:
Kịch bản Cải Lương (thường gọi là Tuồng) có cấu trúc phân màn, phân
cảnh rõ rệt, chịu ảnh hưởng từ kịch nói Pháp. Nội dung kịch bản rất đa dạng,
thường được chia thành ba dòng chính:
Tuồng Cổ (hoặc Hồ Quảng): Dựa tích sử Việt Nam hoặc Trung Hoa, đề
cao đạo lý trung - hiếu - tiết - nghĩa ( Ví dụ: Tiếng trống Mê Linh, Câu thơ
yên ngựa).
Tuồng Xã hội (Tâm lý): Phản ánh hiện thực đời sống, mâu thuẫn gia
đình và tình yêu trong bối cảnh đương đại (Ví dụ: Đời cô Lựu, Tô Ánh
Nguyệt).
Tuồng Hương xa/Kiếm hiệp: Những vở diễn mang màu sắc lãng mạn,
hư cấu hoặc vay mượn cốt truyện phương Tây (Ví dụ: Lan và Điệp, Kiếp nào
có yêu nhau).
2.2 Nghệ thuật diễn xuất và ca hát:
Cải Lương là loại hình "Kịch hát" (Musical
Theatre), do đó yếu tố Ca và Diễn phải hòa quyện
tuyệt đối.
Hệ thống bài ca: Xương sống của
âm nhạc Cải Lương là 20 bài bản
Tổ (thuộc các điệu Bắc, Nam, Hạ,
Oán). Tuy nhiên, "vũ khí" lợi hại
nhất chính là bản Dạ Cổ Hoài
Lang (của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu),
sau này phát triển thành bản Vọng
Cổ.
Theo nhà nghiên cứu Đắc Nhẫn: "Không có bài Vọng cổ thì
không thành Cải lương". Sự mùi mẫn, bi ai của Vọng cổ
chính là yếu tố giữ chân khán giả suốt hơn một thế kỷ qua.”
Kỹ thuật diễn xuất: Diễn viên Cải Lương không dùng các động tác cách
điệu, ước lệ triệt để như Hát Bội mà thiên về diễn xuất tâm lý (tả thực).
Người nghệ sĩ phải đạt được chuẩn mực "Thanh - Sắc - Tài - Duyên", biết
cách luyến láy câu hát để bộc lộ nội tâm nhân vật.
2.3 Âm nhạc và trang phục:
*Âm nhạc: Dàn nhạc Cải Lương (Dàn cổ) có tính ngẫu hứng rất cao để
"đỡ" giọng cho nghệ sĩ. Bên cạnh các nhạc cụ dân tộc như Đàn Kìm (dẫn
4 | P a g e
Hình 1: Ảnh chân dung Cao
Văn Lầu.

