
157
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 53, 2009
CÁC TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA SỰ GIA TĂNG NHU CẦU NƯỚC
CẤP ĐÔ THỊ Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Tr
ầ
n Anh Tu
ấ
n, Lê Th
ị
T
ị
nh Chi
Tr
ườ
ng
Đạ
i h
ọ
c Khoa h
ọ
c,
Đạ
i h
ọ
c Hu
ế
TÓM TẮT
Nhu c
ầ
u s
ử
d
ụ
ng n
ướ
c c
ấ
p
đ
ô th
ị
ngày m
ộ
t t
ă
ng cao
ở
t
ỉ
nh Th
ừ
a Thiên Hu
ế
đ
ã gây ra
khá nhi
ề
u tác
độ
ng tiêu c
ự
c nh
ư
làm suy gi
ả
m dòng ch
ả
y ki
ệ
t c
ủ
a sông H
ươ
ng trong mùa hè,
gia t
ă
ng l
ượ
ng n
ướ
c th
ả
i gây ô nhi
ễ
m cho các th
ủ
y v
ự
c, kinh phí
đầ
u t
ư
để
đ
áp
ứ
ng nhu c
ầ
u là
r
ấ
t l
ớ
n,... Do v
ậ
y, vi
ệ
c nghiên c
ứ
u các
ả
nh h
ưở
ng tiêu c
ự
c này là m
ộ
t vi
ệ
c làm c
ầ
n thi
ế
t nh
ằ
m
t
ă
ng c
ườ
ng ý th
ứ
c ti
ế
t ki
ệ
m và s
ử
d
ụ
ng hi
ệ
u qu
ả
n
ướ
c c
ấ
p
đ
ô th
ị
, qua
đ
ó giúp b
ả
o t
ồ
n các
ngu
ồ
n n
ướ
c ng
ọ
t quý hi
ế
m và góp ph
ầ
n b
ả
o v
ệ
môi tr
ườ
ng.
I. Đặt vấn đề
Hiện nay, nhu cầu sử dụng nước cấp đô thị trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế,
đặc biệt là khu vực thành phố Huế, các thị trấn Tứ Hạ và Phú Bài, đang ngày một tăng
cao. Thực tế này đã làm nảy sinh nhiều tác động tiêu cực lên môi trường tự nhiên và
kinh tế - xã hội, gây ra nhiều áp lực lên các nhà quản lý cấp thoát nước trong các hoạt
động đảm bảo chất lượng quy trình xử lý nước cũng như công tác quản lý và cân đối
cung cầu. Vấn đề đặt ra là các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý và các đối
tượng sử dụng nước cần nhận thức được các ảnh hưởng tiêu cực này để từ đó tăng
cường thực hiện các biện pháp tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn nước cấp đô thị.
II. Nội dung
2.1. Các tác động tiêu cực đến môi trường-sinh thái
2.1.1. Nhu cầu sử dụng nước cấp đô thị và dòng chảy môi trường
Ở tỉnh Thừa Thiên Huế, do trữ lượng nước ngầm ít nên việc sử dụng nước cấp
đô thị từ trước đến nay chủ yếu dựa vào nguồn nước do Công ty TNHH Nhà Nước Một
thành viên Xây dựng và Cấp nước Thừa Thiên Huế (COWASU) khai thác từ sông
Hương. Với nguồn lực hiện nay, có thể nói COWASU khó đáp ứng đầy đủ nhu cầu nước
cấp đang ngày một gia tăng, nhất là vào những tháng mùa hè và trong các dịp diễn ra
Festival Huế. Chỉ tính riêng ở thành phố Huế, với mức sử dụng bình quân khoảng 120 -
135 lít/người/ngày, lượng nước cấp đô thị trong những năm qua tăng khá nhanh, cụ thể
là lượng nước cấp trong năm 2008 đã tăng hơn 23% so với năm 2005 (xem thêm chi tiết
ở Bảng 1). Tính đến cuối tháng 6 năm 2009, tổng lượng nước cấp của hệ thống cấp

158
nước đô thị ở tỉnh Thừa Thiên Huế là 105.000 m3/ngày. Nhu cầu này được dự báo sẽ
tăng lên đến 198.379 m3/ngày vào năm 2010 và 333.156 m3/ngày vào năm 2020
(COWASU, 2007).
B
ả
ng 1. Nhu c
ầ
u s
ử
d
ụ
ng n
ướ
c c
ấ
p
đ
ô th
ị
ở
thành ph
ố
Hu
ế
trong nh
ữ
ng n
ă
m qua
N
ă
m
L
ượ
ng n
ướ
c
Th
ươ
ng ph
ẩ
m
(m
3
)
N
ướ
c ph
ụ
c v
ụ
công c
ộ
ng và th
ấ
t
thoát (m
3
)
Yêu c
ầ
u riêng c
ủ
a
nhà máy x
ử
lý
n
ướ
c (m
3
)
T
ổ
ng nhu c
ầ
u
(m
3
)
2005 18.200.000
4.914.000
2.311.400
25.425.400
2006 19.900.000
5.373.000
2.527.300
27.800.300
2007 21.700.000
5.859.000
2.755.900
30.314.900
2008 24.100.000
4.366.000
2.892.000
31.358.000
(Ngu
ồ
n: COWASU, 2009)
Một khi nhu cầu sử dụng nước tăng cao, các nhà máy cấp nước phải nâng công
suất khai thác. Việc gia tăng hoạt động của các bơm thu nước có thể tạo ra các dòng chảy
ngầm gây nên hiện tượng thay đổi địa hình đáy sông và xói lở bờ sông (theo báo cáo của
Viện Tài nguyên, Môi trường và Công nghệ sinh học, Đại học Huế, 2008). Ngoài ra, nước
ở đầu nguồn không kịp thời bổ sung và điều tiết, kết hợp với các hoạt động khai thác cát
sạn trên sông sẽ làm giảm dòng chảy, hạ thấp mực nước sông Hương và gây ra nhiều tác
động có hại lên các hệ sinh thái vùng cửa sông, đầm phá Tam Giang - Cầu Hai,... Trong
giai đoạn hiện nay, dòng chảy kiệt tối thiểu của sông Hương trong mùa hè khá thấp
(khoảng 20m3 s-1) so với lưu lượng sinh thái tối thiểu được ấn định vào khoảng 31m3 s-1
(IUCN, 2005). Mặc dù tỉnh Thừa Thiên Huế đang tiến hành xây dựng các hồ chứa lớn ở
thượng nguồn sông Hương nhằm điều tiết dòng chảy; tuy nhiên theo kế hoạch thì sau năm
2012, các công trình này mới chính thức đi vào hoạt động đồng bộ. Do vậy, việc khai thác
một khối lượng nước lớn không chỉ ảnh hưởng đến dòng chảy kiệt mùa hè của sông
Hương và các hệ sinh thái liên quan mà còn làm phức tạp hóa sự phối kết hợp giữa các cơ
quan quản lý trong tương lai nhằm điều tiết dòng chảy từ các hồ chứa.
2.1.2. Chất thải gây ô nhiễm sông ngòi
Thành phố Huế nói riêng và tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung hiện chưa có hệ
thống xử lý nước thải tập trung nên nước thải chưa qua xử lý đang được đổ thẳng ra các
thủy vực. Tính trung bình, có khoảng 40.000m3 nước thải từ hàng trăm cống thải lớn
nhỏ trực tiếp đổ xuống sông Hương hàng ngày. Do vậy, việc tăng cường sử dụng nước
cấp đô thị sẽ làm gia tăng mức độ ô nhiễm của các con sông như sông Hương, Ngự Hà,
Lợi Nông, Như Ý,… Kết quả quan trắc của Ban Quản lý dự án sông Hương trong giai
đoạn từ tháng 5 đến cuối tháng 9 năm 2008 cho thấy nguồn nước của sông Như Ý và
Đông Ba đã có dấu hiệu ô nhiễm, đặc biệt là sông Như Ý với các thông số phản ánh sự
ô nhiễm chất hữu cơ (BOD5, COD) và chất dinh dưỡng luôn dao động ở mức cao. Hầu
hết các thông số này đều không thỏa mãn QCVN 08 – 2008/BTNMT đối với nguồn chất

159
lượng nước mặt loại A; một số thông số vượt quá nguồn chất lượng nước mặt loại B.
Các đợt quan trắc chất lượng nước sông Hương của Viện Tài nguyên, Môi trường và
Công nghệ sinh học, Đại học Huế từ năm 2004 đến 2007 cũng cho thấy nồng độ ôxi hoà
tan (DO) trong nước có xu hướng giảm dần (Hình 1). Đây cũng là một dấu hiệu cho
thấy nước sông Hương đang có chuyển biến xấu về chất lượng.
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
00000000000000
00000000000000
00000000000000
00000000000000
00000000000000
00000000000000
00000000000000
00000000000000
00000000000000
00000000000000
00000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
00000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
0000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
000000000000
6 ,0
6 ,5
7 ,0
7 ,5
T B M ï a k h « M ï a m − a
m g/ l
000000000
000000000
2 0 0 4
000000000
000000000
2 0 0 5
000000000
000000000
2 0 0 6
000000000
000000000
2 0 0 7
Hình 1. Bi
ế
n thiên DO theo th
ờ
i gian quan tr
ắ
c ch
ấ
t l
ượ
ng n
ướ
c sông H
ươ
ng
(Ngu
ồ
n: Vi
ệ
n Tài nguyên, Môi tr
ườ
ng và Công ngh
ệ
sinh h
ọ
c,
Đạ
i h
ọ
c Hu
ế
, 2008)
Trong quá trình xử lý nước, các nhà máy cấp nước đô thị cũng làm phát sinh một
lượng nước thải và bùn thải từ các quá trình thử tải, rửa lọc, thau rửa các bể, tách nước
từ bùn,… Lượng chất thải này không phát sinh liên tục, tuy nhiên nước thải rửa lọc và
nước thải tách ra từ bùn (có chứa các lớp chất trên vỏ vật liệu lọc, bùn cặn,…) có mức
độ nhiễm bẩn khá lớn. Ngoài ra, các nhà máy cấp nước còn sử dụng một lượng lớn hóa
chất keo tụ (PAC) trong quá trình xử lý nước cấp để loại chất rắn lơ lửng. Trong môi
trường, lượng hóa chất này sẽ gây ô nhiễm các nguồn nước và làm gia tăng nguy cơ tích
tụ nhôm hydroxit trong đất gây ô nhiễm đất. Dựa trên các số liệu từ ”Báo cáo đánh giá
tác động môi trường cho xây dựng và mở rộng nhà máy nước Quảng Tế II” của Viện
Tài nguyên Môi trường và Công nghệ sinh học, Đại học Huế, với tổng nhu cầu nước
cấp đô thị ở tỉnh Thừa Thiên Huế vào khoảng 198.379m3 thì tồng lượng bùn thải vào
năm 2010 được ước tính trung bình như sau:
B
ả
ng 2. L
ượ
ng bùn th
ả
i t
ừ
các nhà máy x
ử
lý n
ướ
c c
ấ
p
đ
ô th
ị
vào n
ă
m 2010
Thông số Đơn vị Trung bình Max
Chất rắn lơ lửng
Lượng PAC sử dụng
mg/l
mg/l
75
6,43
150
10,70
Lượng bùn thải bỏ
- Tính theo ngày
- Tính theo năm
Tấn/ngày
Tấn/năm
16,15
5.894,75
31,87
11.632,55

160
Mặc dù lượng bùn thải sẽ được Công ty Môi trường và Công trình Đô thị Huế
thu gom, tuy nhiên một phần nhỏ chất thải vẫn thoát ra môi trường qua hệ thống tiêu
thoát nước của các nhà máy cấp nước và chảy vào các kênh, mương và sau đó chảy ra
các khu vực xung quanh gây nhiều tác động xấu. Về mùa khô, lượng bùn tích tụ sẽ xảy
ra quá trình phân hủy nhanh chóng tạo mùi hôi thối cho khu vực xung quanh. Về mùa
mưa, khi có mưa lớn, lượng bùn sẽ thoát ra khỏi hồ chứa và mương nước rồi tràn vào
khu vực xung quanh gây ảnh hưởng đến sinh hoạt đi lại của người dân.
2.1.3. Vấn đề khai thác nước ngầm
Trước thực trạng các nguồn nước ngọt đang trở nên khan hiếm cùng với sự gia
tăng nhu cầu sử dụng nước thì các nguồn nước ngầm sẽ được khai thác ngày một nhiều
hơn. Việc khai thác nước ngầm quá mức sẽ gây ra một số tác động xấu như làm hạ thấp
mực nước ngầm dẫn đến ô nhiễm nguồn nước ngầm, gây sụt lún đất, xói lở… Thực tế ở
tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian gần đây cho thấy đã xảy ra hiện tượng các tầng
nước ngầm bị đe dọa bởi xâm nhập mặn ở các vùng ven biển. Ngoài ra, các nhà nghiên
cứu của trường Đại học Khoa học, Đại học Huế còn cho biết sự cố sụt lún bề mặt xảy ra
bất ngờ vào ngày 13/12/2007 tại thôn Trung Thượng, xã Thủy Biều, thành phố Huế
cũng có liên quan đến nước ngầm.
Theo thống kê vào cuối năm 2008 của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi
trường Nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế, toàn tỉnh hiện có tổng cộng 29.827 giếng khoan,
27.041 giếng đào. Riêng ở thành phố Huế có 460 giếng khoan và 338 giếng đào tập
trung ở 2 xã Thủy Biều và Hương Long. Khi nhu cầu sử dụng nước và giá nước tăng
cao, người dân cũng như các doanh nghiệp có xu hướng chuyển qua sử dụng nước ngầm
nhiều hơn nhằm chủ động hơn trong các hoạt động sản xuất cũng như sinh hoạt và tiết
kiệm chi phí. Gần đây, một số doanh nghiệp ở khu công nghiệp Phú Bài, Thừa Thiên
Huế cũng đã cố tình khác thác nước ngầm trái phép tại chỗ để phục vụ các nhu cầu về
vệ sinh công nghiệp, làm mát thiết bị… với lý do cho rằng lượng nước cấp cho khu
công nghiệp không đủ và không ổn định.
2.2. Các tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội
2.2.1. Chi phí đầu tư
Căn cứ vào dự báo nhu cầu sử dụng nước cấp đô thị, các mục tiêu thiên niên kỷ
về cung cấp nước sạch và các chỉ tiêu đô thị loại 1 của Bộ Xây dựng, “Quy hoạch tổng
thể hệ thống cấp nước cấp đô thị tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020” đã đưa ra các chỉ
tiêu như sau:
- 74,4% dân số trong tỉnh sẽ tiếp cận được với nước cấp đô thị vào năm 2010 với
tổng lượng nước cấp là 198.379 m3/ngày.
- 92,9% dân số của tỉnh sẽ tiếp cận được với nước cấp đô thị vào năm 2020 với
tổng lượng nước cấp là 333.156 m3/ngày.

161
Để đạt được các mục tiêu đề ra trên đây, Công ty TNHH Nhà nước một thành
viên Xây dựng và Cấp nước Thừa Thiên Huế đã dự tính cần phải đầu tư 450,302 tỷ
đồng từ năm 2002 đến 2010 và 542,926 tỷ đồng trong giai đoạn 2011-2020. Từ năm
2002 đến nay, công ty bắt đầu trả nợ gốc và lãi đối với khoản vốn vay ODA trên 5 triệu
EUR cho dự án nâng cấp mở rộng hệ thống cấp nước giai đoạn 1996 – 2000 (ước tính
mỗi năm công ty phải trả hơn 10 tỷ đồng nợ gốc và lãi). Đến tháng 9/2007, chênh lệch
về tỷ giá ngoại tệ đã làm phát sinh trên 48 tỷ đồng. Tuy nhiên, công ty mới phân bổ
được 22 tỷ đồng, còn lại 26,1 tỷ đồng vẫn chưa giải quyết được (COWASU, 2008).
Ngoài việc chi phí mở rộng hệ thống cấp nước, tỉnh Thừa Thiên Huế còn phải
đầu tư kinh phí xử lý nước thải do lượng nước thải cũng sẽ gia tăng. Để bảo vệ nguồn
nước sông Hương, thành phố Huế hiện đang triển khai dự án xây dựng hệ thống thoát
nước và xử lý nước thải với tổng mức đầu tư vào khoảng 3.560 tỷ VND. Ngoài ra, khi
các nhà máy nước gia tăng công suất, lượng điện sử dụng trong các nhà máy nước cũng
sẽ tăng lên tương ứng. Hiện nay, ở các nhà máy cấp nước tỉnh Thừa Thiên Huế, chi phí
cho điện năng chiếm bình quân vào khoảng 30% tổng chi phí giá thành sản xuất nước
sạch. Trong thực tế, các nhà quản lý và hoạch định chính sách vẫn ít khi tính đến các
khoản chi phí và tiết kiệm năng lượng điện trong các kế hoạch cung cấp nước. Tuy
nhiên, việc bảo tồn nước và nâng cao hiệu suất sử dụng nước không chỉ giúp tiết kiệm
nước mà còn là tiết kiệm năng lượng, cắt giảm chi phí tiêu thụ điện và giảm thiểu ô
nhiễm từ các nhà máy điện.
2.2.2. Vấn đề công bằng trong cung cấp và sử dụng nước sạch
Nhu cầu sử dụng nước cấp đô thị ngày càng tăng cao sẽ làm nảy sinh một vấn đề
đạo lý cần được quan tâm: đó là tình trạng bất bình đẳng trong việc sử dụng nguồn nước
sạch. Trong thực tế, nguồn nước khan hiếm và giá nước tăng cao sẽ làm cho người
nghèo ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn nước sạch. Ở tỉnh Thừa Thiên Huế, hiện vẫn
còn nhiều vùng chưa được cấp nước sạch. Năm 2008, số phường/xã được tiếp cận với
nước cấp đô thị là 90/152, tương ứng với khoảng 54% dân số trên toàn tỉnh. Ước tính từ
năm 2003 đến nay, COWASU đã huy động đầu tư trên 60 tỷ đồng nhằm thực hiện
chương trình đầu tư nước sạch về nông thôn. Nhờ vậy, tổng số hộ dùng nước cấp đô thị
ở vùng nông thôn được nâng lên 48.500 hộ, chiếm 40% số hộ dân sử dụng nước cấp đô
thị trên toàn tỉnh. Nếu xét về mặt xã hội, việc đầu tư cấp nước về nông thôn đã mang lại
ý nghĩa rất lớn. Tuy nhiên, về mặt kinh tế, do lượng nước thất thoát lớn, lượng nước sử
dụng lại ít trong khi tỷ suất đầu tư cao nên doanh thu từ khu vực nông thôn không hiệu
quả để duy trì các hoạt động tái đầu tư (COWASU, 2008). Vì vậy, nếu nhu cầu sử dụng
nước ở thành phố Huế được giảm xuống thông qua các giải pháp tiết kiệm và sử dụng
hiệu quả nguồn nước cấp đô thị thì COWASU sẽ có thêm nhiều nguồn lực nhằm phân
bổ nước cấp đô thị cho các khu vực vùng sâu vùng xa của tỉnh nhà.

