
1
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ LUẬT SƯ VỀ BỘ
QUY TẮC VÀ ỨNG XỬ NGHỀ NGHIỆP
LUẬT SƯ VIỆT NAM
(DÀNH CHO HỌC VIÊN)
CHUYÊN GIA: Luật sư Lê Nết - Ủy viên Hội đồng Luật sư toàn quốc
Luật sư Nguyễn Minh Tâm – Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh

2
MỤC LỤC
STT
Nội dung
Tác giả
Trang
1
CHUYÊN ĐỀ 1: Những vấn đề
chung của Quy tắc đạo đức và
ứng xử nghề nghiệp luật sư.
Thực tiễn tại Việt Nam và kinh
nghiệm quốc tế
Luật sư Lê Nết
3-26
2
CHUYÊN ĐỀ 2: Quan hệ của
Luật sư với khách hàng
Luật sư Lê Nết
27-84
3
CHUYÊN ĐỀ 3: Quan hệ đồng
nghiệp của luật sư
Luật sư Nguyễn Minh Tâm
85-125
4
CHUYÊN ĐỀ 4: Quan hệ của
luật sư với các cơ quan tiến
hành tố tụng và các cơ quan nhà
nước khác
Luật sư Nguyễn Minh Tâm
126-143

3
CHUYÊN ĐỀ 1
Những vấn đề chung của Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư.
Thực tiễn tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế
I. Abstract / Bản tóm tắt
Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của
Luật luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ
chức (gọi chung là khách hàng). Để trở thành một luật sư và trong suốt quá trình
hành nghề, bản thân luật sư phải luôn rèn luyện được đức tính độc lập, trung
thực, khách quan, nhiệt tình trong công việc và trách nhiệm. Luật sư có nghĩa vụ
phát huy truyền thống tốt đẹp của nghề luật sư, thường xuyên học tập nâng cao
trình độ chuyên môn, giữ gìn phẩm chất và uy tín nghề nghiệp; thái độ ứng xử
đúng mực, có văn hóa trong hành nghề và lối sống để xứng đáng với sự tin cậy,
tôn trọng của xã hội đối với luật sư và nghề luật sư.
1.1. Mục tiêu:
(i) Giúp các luật sư có cái nhìn tổng quát về vị trí, vai trò của Quy tắc
đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư (gọi tắt là Quy tắc);
(ii) Nâng cao ý thức tự giác của luật sư trong việc chấp hành các nghĩa
vụ đạo đức và ứng xử nghề nghiệp trong hành nghề và trong giao
tiếp xã hội; Giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống
của nghề luật sư, góp phần xây dựng và củng cố sự tin cậy trong xã
hội đối với nghề luật sư ở Việt Nam.
(iii) Xác định vị trí vai trò của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp,
đồng thời nêu cao ý thức trách nhiệm của luật sư trong việc cung
cấp các dịch vụ pháp lý có chất lượng để tạo lập được niềm tin của
khách hàng, cộng đồng, xã hội và của nhà nước.
1.2. Đối tượng sử dụng
Tài liệu được sử dụng cho giảng viên và học viên của lớp bồi dưỡng về
Quy tắc đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam. Bên cạnh đó, có thể
là nguồn tham khảo cho các luật sư đang hành nghề.
1.3. Tóm tắt nội dung chính
Cho đến nay, về mặt khoa học pháp lý, chưa có một định nghĩa chính thức
mang tính chất kinh điển về khái niệm Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư.
Trong nhiều bài viết, tham luận về vấn đề đạo đức nghề nghiệp luật sư, mỗi tác
giả cũng đưa ra quan niệm của mình về vấn đề này bằng cách tiếp cận dưới các
góc độ khác nhau.
Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư đã được Hội đồng luật sư
toàn quốc thông qua cũng không đưa ra một định nghĩa về quy tắc đạo đức nghề

4
nghiệp luật sư. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung của Quy tắc, có thể đưa ra một
định nghĩa chung về Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư như sau:
“Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư là những quy tắc xử sự được
thể hiện dưới hình thức văn bản chứa đựng những quy phạm đạo đức và ứng xử
nghề nghiệp do Hội đồng luật sư toàn quốc ban hành để điều chỉnh hành vi của
các thành viên Liên đoàn luật sư Việt Nam trong quan hệ với các chủ thể có liên
quan khi hoạt động nghề nghiệp và trong giao tiếp xã hội”.
Trong đời sống thường nhật, luật sư tham gia vào các quan hệ xã hội, các
quan hệ nghề nghiệp, trong đó có các quan hệ tố tụng trong các vụ án hình sự,
dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động, hành chính. Trong các quan hệ
tố tụng nêu trên lại diễn ra nhiều loại quan hệ giữa các chủ thể khác như: quan
hệ giữa luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng qua
các giai đoạn tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; quan hệ với khách hàng,
với những người tham gia tố tụng khác, quan hệ với đồng nghiệp, v.v.. Với tư
cách một chủ thể tham gia trong các quan hệ, luật sư có những quyền và nghĩa
vụ nhất định theo quy định của pháp luật. Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp
lý luật sư phải tuân thủ và nếu vi phạm sẽ phải chịu các hình thức xử lý theo các
chế tài đã được luật hóa.
Tuy nhiên, trong các quan hệ nêu trên, vẫn còn có những trường hợp, tình
huống nảy sinh trong thực tiễn giao tiếp không nằm trong phạm vi điều chỉnh
của pháp luật mà thuộc phạm trù đạo đức và ứng xử nghề nghiệp phải được điều
chỉnh bằng các quy định đạo đức tương ứng. Đó là các quy định về căn cứ,
chuẩn mực đã được xác định trong bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp
luật sư. Các quy định này cũng hàm chứa các nghĩa vụ đạo đức mang tính chất
cấm đoán hay bắt buộc luật sư phải tuân thủ hoặc các quy phạm mang tính chất
khuyến khích luật sư áp dụng trong quá trình hành nghề cũng như trong lối
sống, giao tiếp khi tham gia các quan hệ xã hội khác.
1.4. Thực tiễn tại Việt Nam
Đạo đức nghề nghiệp luật sư đặt trong quan hệ với các quy định của pháp
luật hiện nay cũng có những quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, một
khi vi phạm pháp luật thì đồng thời cũng là vi phạm đạo đức, trong đó bao hàm
cả vi phạm về đạo đức nghề nghiệp luật sư. Cũng có những góc nhìn khác, cho
rằng pháp luật và đạo đức là hai phạm trù độc lập, riêng biệt nhau. Do vậy, để
đánh giá một hành vi có vi phạm đạo đức hay không thì phải tìm những quy
phạm đạo đức để làm căn cứ xác định. Không thể lấy quy định của pháp luật để
làm căn cứ xác định một người vi phạm về đạo đức nói chung, hay đạo đức nghề
nghiệp nói riêng.

5
Vi phạm của luật sư trong hành nghề thể hiện với nhiều hình thức. Không
ít trường hợp, Luật sư do ít quan tâm nghiên cứu các quy định về luật sư, không
học tập quán triệt về đạo đức nghề nghiệp Luật sư nên khi hành nghề xảy ra vi
phạm. Luật Luật sư, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam và Bộ Quy tắc đạo đức
là hệ thống các quy định, quy tắc với rất nhiều nội dung khác nhau, bao gồm các
quy phạm cấm đoán, quy phạm bắt buộc, quy phạm tùy nghi chọn lựa ứng xử…
đôi khi các quy tắc cũng khó hiểu, khó nhớ hết. Để hành nghề đúng quy định,
luật sư phải chịu khó nghiên cứu, quán triệt để nắm thật vững tất cả các quy
định, quy tắc này. Thế nhưng, trên thực tế có rất nhiều Luật sư không quan tâm
tìm hiểu, cập nhật nên dẫn đến việc vi phạm trong hành nghề.
Có những Luật sư khi tham gia hoạt động nghề nghiệp, nhận vụ việc từ
khách hàng là những người thân quen, hoặc do tin tưởng quá mức nên chủ quan
không xác lập hợp đồng dịch vụ pháp lý đúng quy định, hoặc thỏa thuận nhận
thêm thù lao do nhiều công việc phát sinh thêm nhưng không ký phụ lục điều
chỉnh thù lao, ghi nhận công việc phát sinh, dẫn đến vi phạm. Xét bản chất,
trong quan hệ này Luật sư bỏ công sức cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách
hàng, việc thực hiện công việc và nhận thù lao là theo thỏa thuận tự nguyện giữa
hai bên. Nhưng do không tuân thủ quy định về ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý
bằng văn bản nên vi phạm.
Có những Luật sư cố ý vi phạm, biết sai nhưng động cơ tư lợi nên vi
phạm. Ví dụ, quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư nghiêm cấm luật
sư “Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng
ngoài khoản thù lao và chi phí đã thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng
dịch vụ pháp lý”. Luật sư nào cũng biết, cũng hiểu về quy định cơ bản này.
Nhưng trên thực tế không ít trường hợp luật sư biết mà vẫn vi phạm do tư lợi cá
nhân.
Một số luật sư lợi dụng mạng xã hội với động cơ, ý đồ xấu, không chính
đáng, đăng tải những nội dung bài viết, hình ảnh, đoạn video có nội dung sai
trái, xâm phạm uy tín, danh dự cá nhân, tổ chức khác, xâm phạm lợi ích cộng
đồng, thậm chí xâm phạm đến an ninh chính trị đất nước. Thời gian qua có
nhiều đơn thư của cá nhân, tổ chức phản ánh về hiện tượng này. Đoàn Luật sư,
Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã xử lý một số trường hợp Luật sư vi phạm về quy
tắc đạo đức nghề nghiệp trong việc sử dụng truyền thông, mạng xã hội.
Trong một số trường hợp, sự ràng buộc cứng nhắc của pháp luật, sự quy
định chưa thật sự hợp lý dẫn đến vi phạm của Luật sư. Ví dụ, vấn đề hứa thưởng
giữa Luật sư với khách hàng hiện nay không được chấp nhận. Từ quy định tại
điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư nói trên, giữa Luật sư, tổ chức hành nghề
Luật sư với khách hàng không được thỏa thuận hứa thưởng. Luật sư thỏa thuận

