intTypePromotion=1
ADSENSE

Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:211

9
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp gồm có 6 chương như sau: Chương 1: tổng quan về tài chính doanh nghiệp; chương 2: chi phí, doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp; chương 3: phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp; chương 4: đầu tư của doanh nghiệp; chương 5: quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp; chương 6: quản lý tài sản trong doanh nghiệp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp

  1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1. DOANH NGHIỆP 1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện đƣợc bởi các doanh nghiệp chứ không phải là các cá nhân. Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp: doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi. Đặc điểm của doanh nghiệp: - Là một tổ chức kinh tế. - Là một tổ chức có đủ điều kiện do pháp luật quy định. - Mục đích của doanh nghiệp là thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. 1.1.1.2. Phân loại doanh nghiệp Phân loại doanh nghiệp là việc phân chia doanh nghiệp thành các loại khác nhau tùy thuộc vào từng tiêu thức. Căn cứ vào hình thức sở hữu, mỗi quốc gia thƣờng có những loại hình doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, các loại hình doanh nghiệp gồm có doanh nghiệp tƣ nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Doanh nghiệp tƣ nhân là doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu và chịu trách nhiệm vô hạn đối với tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp. Công ty hợp danh là doanh nghiệp có hai hay nhiều chủ sở hữu; nó có thể là công ty hợp danh trách nhiệm vô hạn hoặc trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công ty. Trong công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn, các thành viên không chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân đối với các khoản nợ của công ty. Công ty cổ phần là hình thức doanh nghiệp đƣợc thành lập theo luật, có nhiều chủ sở hữu (cổ đông) góp vốn bằng hình thức cổ phần. Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp của mình. Công ty trách nhiệm hữu hạn là hình thức kết hợp một số đặc tính của công ty cổ phần và công ty hợp danh. 1
  2. Theo luật doanh nghiệp Việt Nam, các loại hình doanh nghiệp gồm có: Doanh nghiệp Nhà nƣớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên, công ty hợp danh, doanh nghiệp tƣ nhân. Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam đƣợc định nghĩa nhƣ sau: - Doanh nghiệp Nhà nƣớc là doanh nghiệp do Nhà nƣớc làm chủ, đƣợc thành lập và hoạt động bằng vốn của ngân sách Nhà nƣớc. - Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó: vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau đƣợc gọi là cổ phần, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác trừ trƣờng hợp cổ đông nắm giữ cổ phiếu ƣu đãi và cổ đông sáng lập (có quy định riêng). - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp. - Công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên là doanh nghiệp trong đó: thành viên có thể là tổ chức, cá nhân và số lƣợng thành viên không vƣợt quá 50, thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. - Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó: phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài hai thành viên hợp danh có thể có các thành viên góp vốn, thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ của công ty, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. - Doanh nghiệp tƣ nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những ƣu và nhƣợc điểm riêng. Trong phạm vi môn học này, loại hình công ty cổ phần sẽ đƣợc lấy làm điển hình để xem xét, trong khi tài chính của các loại hình doanh nghiệp khác đƣợc xem nhƣ là một sự vận dụng tài chính công ty cổ phần. Loại hình công ty cổ phần đƣợc chọn làm điển hình nghiên cứu vì loại hình doanh nghiệp này đã và đang là loại hình doanh nghiệp chủ yếu ở các nƣớc cũng nhƣ ở Việt Nam. Bên cạnh đó, loại hình doanh nghiệp này có đặc điểm đáng chú ý mà các loại hình doanh nghiệp khác không có là có sự tách rời giữa chủ sở hữu doanh nghiệp và ngƣời điều hành doanh nghiệp. Sự tách rời giữa sở hữu và điều hành có thể tạo ra một số ƣu thế nội dung về tài chính để nghiên cứu hơn so với những loại hình doanh nghiệp khác. 2
  3. 1.1.2. Môi trƣờng hoạt động của doanh nghiệp Để đạt đƣợc mức doanh lợi mong muốn, doanh nghiệp cần phải có những quyết định về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình trao đổi. Mọi quyết định đều phải gắn kết với môi trƣờng xung quanh. Bao quanh doanh nghiệp là một môi trƣờng kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động. - Môi trƣờng vĩ mô: + Môi trƣờng kinh tế + Môi trƣờng chính trị + Môi trƣờng văn hóa – xã hội + Môi trƣờng pháp lý + Môi trƣờng khoa học kỹ thuật và công nghệ - Môi trƣờng ngành: + Áp lực của đối thủ cạnh tranh + Áp lực của khách hàng + Áp lực của nhà cung ứng + Áp lực của sản phẩm thay thế + Áp lực của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn - Môi trƣờng nội bộ doanh nghiệp Muốn phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trƣớc đƣợc sự thay đổi của môi trƣờng để sẵn sàng thích nghi với nó. Trong môi trƣờng đó, quan hệ tài chính doanh nghiệp đƣợc thể hiện rất phong phú và đa dạng. 1.2. TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.2.1. Khái niệm và bản chất của tài chính doanh nghiệp 1.2.1.1. Khái niệm Tài chính nói chung là hoạt động liên quan đến việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ. Tài chính doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tƣ vào tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra. Qua định nghĩa này có thể thấy tài chính doanh nghiệp liên quan đến ba loại quyết định chính: quyết định đầu tƣ, quyết định nguồn vốn, và quyết định phân phối lợi nhuận nhằm đạt mục tiêu đề ra là tối đa hóa giá trị tài sản cho chủ sở hữu của doanh nghiệp. Cần phân biệt sự khác nhau về chức năng và vai trò của tài chính và kế toán. Trong khi kế toán chú trọng đến việc ghi chép và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh và lập các báo cáo tài chính thì tài chính lại chú trọng đến việc sử dụng các báo cáo tài chính do kế toán lập ra để phân tích và hoạch định xem chuyện gì sẽ xảy ra 3
  4. trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Mặt khác, kế toán chú trọng đến chức năng quản lý tài sản hơn trong khi tài chính chú trọng đến quyết định nên bỏ vốn vào đâu, tìm nguồn vốn ở chỗ nào và phân phối lợi nhuận nhƣ thế nào để duy trì và không ngừng nâng cao giá trị của doanh nghiệp trên thị trƣờng. Sự phân biệt ở đây nhằm thấy rõ sự khác nhau về chức năng của hai bộ phận này nhƣ thế nào khi hoạt động trong cùng một doanh nghiệp. Khi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp không tách khỏi các mối quan hệ với các chủ thể trong nền kinh tế. Do vậy, tài chính doanh nghiệp cũng đƣợc hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm: - Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nƣớc: là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nƣớc, khi Nhà nƣớc góp vốn vào doanh nghiệp. - Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trƣờng tài chính: quan hệ này đƣợc thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị trƣờng tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ƣng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Ngƣợc lại, doanh nghiệp phải trả lãi và vốn vay, lãi cổ phần cho các nhà tài trợ. Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tƣ chứng khoán bằng số tiền tạm thời chƣa sử dụng. - Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trƣờng khác: là những thị trƣờng mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc, thiết bị, nhà xƣởng, tìm kiếm lao động… Thông qua các thị trƣờng này, doanh nghiệp có thể xác định đƣợc nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tƣ, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trƣờng. - Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa cổ đông và ngƣời quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ; giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Các mối quan hệ này đƣợc thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp nhƣ: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tƣ, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí… 1.2.1.2. Bản chất của tài chính doanh nghiệp Biểu hiện bên ngoài của tài chính doanh nghiệp là hiện tƣợng thu vào hoặc chi ra bằng tiền. Biểu hiện bên trong của tài chính doanh nghiệp là sự vận động của nguồn tài chính trong quá trình tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Do vậy, bản chất của tài chính doanh nghiệp là sự vận động của các nguồn lực tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. 4
  5. 1.2.2. Cơ sở của tài chính doanh nghiệp và các dòng tiền 1.2.2.1. Cơ sở của tài chính doanh nghiệp Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có một lƣợng tài sản nhất định đƣợc phản ánh bên tài sản của bảng cân đối kế toán. Nếu toàn bộ tài sản do doanh nghiệp nắm giữ đƣợc đánh giá vào một thời điểm thì sự vận động của chúng – kết quả của quá trình trao đổi – chỉ có thể đƣợc xác định cho một thời kỳ nhất định và đƣợc phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh. Quá trình hoạt động của các doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể về quy trình công nghệ và tính chất hoạt động. Sự khác biệt này phần lớn do đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của từng doanh nghiệp quyết định. Cho dù có sự khác biệt này, ngƣời ta vẫn có thể khái quát những nét chung nhất của các doanh nghiệp bằng hàng hóa dịch vụ đầu vào và hàng hóa dịch vụ đầu ra. Một hàng hóa dịch vụ đầu vào hay yếu tố sản xuất là một hàng hóa hay dịch vụ mà các doanh nghiệp mua sắm để sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ. Các hàng hóa dịch vụ đầu vào đƣợc kết hợp với nhau để tạo ra các hàng hóa dịch vụ đầu ra. Đó là hàng loạt các hàng hóa dịch vụ có ích đƣợc tiêu dùng hoặc đƣợc sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh khác. Nhƣ vậy, trong một thời kỳ nhất định, các doanh nghiệp đã chuyển hóa các hàng hóa dịch vụ đầu vào thành các hàng hóa dịch vụ đầu ra để trao đổi. Mối quan hệ giữa tài sản hiện có và hàng hóa dịch vụ đầu vào, hàng hóa dịch vụ đầu ra (quan hệ giữa bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh) có thể đƣợc mô tả nhƣ sau: Hàng hóa và dịch vụ đầu vào Sản xuất – chuyển hóa Hàng hóa và dịch vụ đầu ra Hình 1.1: Sự chuyển hóa của quá trình sản xuất Mọi quá trình trao đổi đều đƣợc thực hiện thông qua trung gian là tiền. Tiền cho phép doanh nghiệp mua các hàng hóa, dịch vụ cần thiết để tạo ra những hàng hóa dịch vụ phục vụ cho mục đích trao đổi. Khái niệm dòng vật chất và dòng tiền phát sinh từ đó, tức là sự dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ và sự dịch chuyển tiền giữa các đơn vị, tổ chức kinh tế. 5
  6. Nhƣ vậy, tƣơng ứng với dòng vật chất đi vào (hàng hóa, dịch vụ đầu vào) là dòng tiền đi ra; tƣơng ứng với dòng vật chất đi ra (hàng hóa, dịch vụ đầu ra) là dòng tiền đi vào. Quy trình này đƣợc mô tả qua sơ đồ sau Dòng vật chất Dòng tiền đi ra đi vào (xuất quỹ) Sản xuất – chuyển hóa Dòng vật chất Dòng tiền đi vào đi ra (nhập quỹ) Hình 1.2: Quy trình dịch chuyển dòng vật chất và dòng tiền Doanh nghiệp thực hiện hoạt động trao đổi hoặc với thị trƣờng cung cấp hàng hóa dịch vụ đầu vào hoặc với thị trƣờng phân phối, tiêu thụ hàng hóa dịch vụ đầu ra tùy thuộc vào tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các quan hệ tài chính của doanh nghiệp đƣợc phát sinh từ chính quá trình trao đổi đó. Quá trình này quyết định sự vận hành của sản xuất và làm thay đổi cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Phân tích các quan hệ tài chính doanh nghiệp cần dựa trên hai khái niệm cơ bản là dòng và dữ trữ. Dòng chỉ xuất hiện trên cơ sở tích lũy ban đầu những hàng hóa, dịch vụ hoặc tiền trong mỗi doanh nghiệp và nó sẽ làm thay đổi khối lƣợng tài sản tích lũy của doanh nghiệp. Một khối lƣợng tài sản, hàng hóa hoặc tiền đƣợc xác định tại một thời điểm là một khoản dự trữ. Trong khi một khoản dự trữ chỉ có ý nghĩa tại một thời điểm nhất định thì các dòng chỉ đƣợc đo trong một thời kỳ nhất định. Quan hệ giữa dòng và dự trữ là cơ sở nền tảng của tài chính doanh nghiệp. 1.2.2.2. Các dòng tiền a. Dòng tiền đối trọng - Dòng tiền đối trọng trực tiếp Dòng tiền đối trọng trực tiếp là dòng tiền chỉ xuất hiện đối trọng với dòng hàng hóa, dịch vụ. Đây là trƣờng hợp đơn giản nhất trong doanh nghiệp – thanh toán ngay. Tại thời điểm t0, mỗi doanh nghiệp có trong tay những tài sản thực và tiền. Giả sử hoạt động trao đổi diễn ra giữa hai doanh nghiệp A và B tại thời điểm t1. Tại thời điểm này, doanh nghiệp A trao đổi tài sản thực cho doanh nghiệp B (bán hàng cho doanh nghiệp B) để lấy tiền (một dòng vật chất đi từ doanh nghiệp A sang doanh nghiệp B), còn doanh nghiệp B chuyển tiền cho doanh nghiệp A (mua hàng của doanh nghiệp A) để lấy hàng (một dòng tiền đi từ doanh nghiệp B sang doanh nghiệp A). 6
  7. - Dòng tiền đối trọng có kỳ hạn Đây là trƣờng hợp phổ biến nhất trong hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp A bán hàng hóa dịch vụ cho doanh nghiệp B tại thời điểm t1, doanh nghiệp B trả tiền cho doanh nghiệp A tại thời điểm t2. Dòng tiền ở thời điểm t2 tƣơng ƣng với dòng hàng hóa dịch vụ ở thời điểm t1. Trong thời kỳ t1, t2, trạng thái cân bằng dự trữ của mỗi doanh nghiệp bị phá vỡ. Trạng thái cân bằng này đƣợc lập lại thông qua việc tạo ra một tài sản tài chính, tức là quyền sử dụng hợp pháp một trái quyền (quyền đòi nợ) hoặc một khoản nợ. Trong trƣờng hợp này, dự trữ tài sản thực của doanh nghiệp A bị giảm đi, nhƣng đổi lại doanh nghiệp A có một trái quyền đối với doanh nghiệp B trong thời gian t 2 – t1, cho tới lúc dòng tiền xuất hiện ở thời điểm t2. Đối với doanh nghiệp B, việc nắm giữ một tài sản thực đã làm phát sinh một khoản nợ cho đến khi dòng tiền xuất hiện ở thời điểm t2. - Dòng tiền đối trọng đa dạng Để khắc phục sự mất cân đối ngân quỹ, đảm bảo khả năng chi trả thông qua thiết lập ngân quỹ tối ƣu, doanh nghiệp có thể chiết khấu, nhƣợng bán trái quyền cho một tổ chức tài chính trung gian hoặc dùng trái quyền nhƣ một tài sản thế chấp cho một món vay tùy theo những điều kiện cụ thể. Nhƣ vậy, tài sản tài chính có thể làm đối tƣợng giao dịch. b. Dòng tiền độc lập Đây là dòng tiền phát sinh từ các nghiệp vụ tài chính thuần túy: kinh doanh tiền, kinh doanh chứng khoán. Nhƣ vậy, sự ra đời, vận hành và phát triển của doanh nghiệp làm phát sinh một hệ thống các dòng hàng hóa dịch vụ và các dòng tiền, chúng thƣờng xuyên làm thay đổi khối lƣợng, cơ cấu tài sản thực và tài sản tài chính của doanh nghiệp. 1.2.3. Nội dung cơ bản của tài chính doanh nghiệp Công tác quản lý tài chính của một doanh nghiệp thƣờng bao gồm những nội dung chủ yếu sau: 1.2.3.1.Tham gia đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư và kinh doanh Việc xây dựng, đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tƣ và kinh doanh do nhiều bộ phận trong doanh nghiệp cùng phối hợp thực hiện. Trên góc độ tài chính, điều chủ yếu cần phải xem xét là hiệu quả tài chính của dự án tức là cần xem xét, cân nhắc giữa chi phí bỏ ra, rủi ro có thể gặp phải và khả năng thu lợi nhuận khi thực hiện dự án, dùng thƣớc đo tài chính để lựa chọn đƣợc những dự án có mức sinh lời cao. 7
  8. 1.2.3.2. Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời các hoạt động của doanh nghiệp Tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn. Tài chính doanh nghiệp phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp ở trong kỳ (bao gồm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn). Tiếp theo, phải tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp. Để đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phƣơng pháp huy động vốn thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều mặt nhƣ: kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc sử dụng mỗi nguồn vốn... 1.2.3.3. Sử dụng có hiệu quả cao số vốn trong tay doanh nghiệp, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp huy động tối đa số vốn trong tay doanh nghiệp (vốn tự có và vốn vay) vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứ đọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng và các khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Thƣờng xuyên tìm biện pháp thiết lập sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán công nợ. 1.2.3.4. Quản lý nợ và thực hiện đúng các cam kết tài chính của doanh nghiệp với Nhà nước, với khách hàng và với người lao động Quản lý nợ là một trong những công tác quản lý tài chính rất quan trọng không chỉ liên quan đến quá trình kinh doanh mà còn liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải vay khi thiếu vốn, nhƣng doanh nghiệp cũng có thể là chủ nợ khi cho vay, bán chịu... Nợ của doanh nghiệp phải bảo đảm thanh toán đúng kỳ hạn. Nợ của khách hàng phải thu hồi đúng hợp đồng để đảm bảo tình hình tài chính lành mạnh. Các nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí, phải thực hiện đúng với luật pháp và các quy định của Nhà nƣớc, không trốn thuế, lậu thuế, dây dƣa nộp thuế chậm. Các cam kết trong hợp đồng lao động nhƣ trả lƣơng, nộp bảo hiểm xã hội, các khoản phúc lợi, khen thƣởng phải thực hiện đúng pháp luật và bảo đảm lợi ích của ngƣời lao động. 8
  9. 1.2.3.5. Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp Thực hiện phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế cũng nhƣ trích lập và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển doanh nghiệp và cải thiện đời sống của công nhân viên trong doanh nghiệp. 1.2.3.6. Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thực hiện tốt việc phân tích tài chính Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép kiểm soát đƣợc tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Mặt khác, cần định kỳ tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp. Qua phân tích, cần đánh giá đƣợc hiệu quả sử dụng vốn và tài sản, những điểm mạnh và điểm yếu trong quản lý và dự báo trƣớc tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó phục vụ đắc lực cho công tác điều chỉnh kinh doanh. 1.2.3.7. Thực hiện tốt việc kế hoạch hoá tài chính Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần đƣợc dự kiến trƣớc thông qua việc lập kế hoạch tài chính. Có kế hoạch tài chính tốt thì doanh nghiệp có thể đƣa ra các quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp. Quá trình thực hiện kế hoạch tài chính cũng có thể chủ động đƣa ra các giải pháp hữu hiệu khi thị trƣờng biến động. 1.2.4. Vai trò của tài chính doanh nghiệp 1.2.4.1. Huy động vốn, đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thƣờng có các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thƣờng xuyên cũng nhƣ cho đầu tƣ phát triển của doanh nghiệp. Vai trò của tài chính doanh nghiệp là xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, lựa chọn các phƣơng pháp và hình thức thích hợp để huy động nguồn vốn từ bên trong và bên ngoài, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp phải chủ động lựa chọn các hình thức và phƣơng pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động thuận lợi với chi phí huy động ở mức thấp. 1.2.4.2. Sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào việc tổ chức sử dụng vốn. Vai trò của tài chính doanh nghiệp là đánh giá và lựa chọn dự án đầu tƣ trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án. Việc huy động vốn kịp thời có ý nghĩa quan trọng, bên cạnh đó, việc huy động tối đa số vốn hiện có của 9
  10. doanh nghiệp vào các hoạt động kinh doanh có thể tránh đƣợc những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt nhu cầu vay vốn và giảm đƣợc khoản tiền trả lãi vay. Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cải tiến sản xuất kinh doanh sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. 1.2.4.3. Công cụ để kiểm soát, chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua tình hình thu chi hàng ngày, tình hình tài chính và các chỉ tiêu tài chính, nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá và kiểm soát đƣợc các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những tồn tại, vƣớng mắc trong kinh doanh, từ đó đƣa ra các quyết định thích hợp. 1.2.5. Mục tiêu của tài chính doanh nghiệp Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau nhƣ: tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi nhuận… Song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. Do một doanh nghiệp phải thuộc về các chủ sở hữu nhất định, chính họ phải thấy giá trị đầu tƣ của họ tăng lên, khi doanh nghiệp đặt ra mục tiêu tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, doanh nghiệp đã tính tới sự biến động của thị trƣờng, các rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Muốn vậy, mọi quyết định tài chính cần chú ý đến khả năng tạo ra giá trị. Mọi quyết định nếu không tạo ra đƣợc giá trị sẽ không làm tăng mà làm giảm giá trị tài sản của chủ sở hữu. Đứng trên góc độ tạo ra giá trị, tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu chính của doanh nghiệp. Mục tiêu này nhằm không ngừng gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu doanh nghiệp. Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đƣợc cụ thể và lƣợng hóa bằng các chỉ tiêu sau: - Tối đa hóa lợi nhuận sau thuế: mục tiêu này chƣa chắc đã làm gia tăng đƣợc giá trị cho cổ đông. Ví dụ: có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách phát hành cổ phiếu để huy động vốn rồi dùng số tiền đó để đầu tƣ vào trái phiếu Chính phủ thu lợi nhuận. Trong trƣờng hợp này, lợi nhuận sẽ tăng lên nhƣng lợi nhuận trên vốn cổ phần giảm vì số lƣợng cổ phiếu phát hành tăng. Do vậy, chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận cần đƣợc bổ sung bằng chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận trên vốn cổ phần. - Tối đa hóa lợi nhuận trên cổ phần (EPS): chỉ tiêu này có thể bổ sung cho chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, chỉ tiêu này vẫn có những hạn chế của nó. Chỉ tiêu này không tính đến yếu tố thời gian của tiền tệ và độ dài thời gian của lợi nhuận kỳ vọng. Ngoài ra, nó chƣa xem xét đến yếu tố rủi ro và không cho phép sử dụng chính sách cổ tức để tác động đến giá trị cổ phiếu trên thị trƣờng do nếu chỉ vì mục tiêu tối đa hóa EPS thì công ty không bao giờ trả cổ tức. 10
  11. - Tối đa hóa giá trị cổ phiếu: đây đƣợc xem nhƣ mục tiêu thích hợp nhất của công ty vì nó chú ý kết hợp nhiều yếu tố nhƣ độ dài thời gian, rủi ro, chính sách cổ tức và những yếu tố khác có ảnh hƣởng đến giá cổ phiếu. Tối đa hóa giá trị tài sản cho chủ sở hữu không có nghĩa là lờ đi các vấn đề thuộc về trách nhiệm xã hội, chẳng hạn nhƣ bảo vệ ngƣời tiêu dùng, trả lƣơng công bằng cho nhân viên, chú ý đến đảm bảo an toàn lao động, đào tạo và nâng cao trình độ cho ngƣời lao động… và đặc biệt là ý thức bảo vệ môi trƣờng. 1.2.6. Nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp Để thực hiện tốt việc quản lý tài chính, trong công tác tổ chức hoạt động tài chính của doanh nghiệp, cần quán triệt một số nguyên tắc cơ bản sau: 1.2.6.1. Tự chủ về tài chính Quyền tự chủ tài chính của doanh nghiệp bao hàm hai nội dung chủ yếu: quyền chi phối của doanh nghiệp đối với tài sản, vốn của mình và trách nhiệm, nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với Nhà nƣớc, khách hàng, ngƣời lao động và các đối tác khác của doanh nghiệp. Đối với từng loại hình doanh nghiệp thì nội dung của quyền tự chủ tài chính có những khía cạnh riêng. Tuy nhiên, vẫn có những điểm chung nhƣ sau: - Ngoài số vốn sở hữu, doanh nghiệp có quyền lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn phù hợp với quy định của pháp luật. - Doanh nghiệp có quyền chủ động sử dụng vốn và tài sản của mình để kinh doanh các ngành, nghề đã đăng ký. - Tự chịu trách nhiệm về các kết quả kinh doanh (lãi ăn, lỗ chịu). - Có nghĩa vụ nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác với Nhà nƣớc theo quy định của pháp luật. - Các thành viên hay chủ sở hữu của doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp theo mức độ mà pháp luật quy định đối với từng loại hình doanh nghiệp. - Doanh nghiệp có quyền quyết định sử dụng phần lợi nhuận thu đƣợc từ kết quả kinh doanh. Ngƣời quản lý cần nắm vững nội dung cụ thể của quyền tự chủ tài chính trong phạm vi doanh nghiệp của mình để phát huy vai trò chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh. 1.2.6.2. Tôn trọng pháp luật Tất cả các doanh nghiệp ở tất cả các quốc gia đều phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh tế diễn ra trong trật tự, công bằng. Cần phải thấy pháp luật, một mặt là sợi dây ràng buộc các doanh nghiệp phải tôn 11
  12. trọng lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, song mặt khác nó cũng là lá chắn bảo vệ các lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đƣợc tự do kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận trong khuôn khổ của pháp luật. Quản lý tài chính phải nắm vững nội dung của pháp luật và hành động theo pháp luật (cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế). 1.2.6.3. Sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là thu đƣợc lợi nhuận. Vì vậy, phải sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả. Khi huy động và sử dụng mỗi đồng vốn vào bất kỳ công việc gì đòi hỏi phải dự tính đƣợc hiệu quả do đồng vốn mang lại. Phải áp dụng mọi biện pháp để đồng vốn không ngừng vận động, không ngừng sinh lời cao nhất. 1.2.6.4. Công khai về tài chính Để bảo vệ lợi ích hợp pháp của những ngƣời có quan hệ với doanh nghiệp (nhà đầu tƣ, ngƣời cho vay, cơ quan giám sát…) pháp luật quy định doanh nghiệp phải công khai một số thông tin về tài chính. Công khai thông tin về tài chính không phải là công khai toàn bộ thông tin về tài chính của doanh nghiệp, mà là công khai những thông tin cần thiết theo yêu cầu của pháp luật. Mức độ, nội dung và hình thức công khai về tài chính đối với từng loại hình doanh nghiệp có những điểm khác nhau tuỳ theo yêu cầu của pháp luật. Những thông tin công khai phải đảm bảo chính xác, đƣợc kiểm toán xác nhận. 1.2.6.5. Giữ chữ tín Giữ chữ tín đƣợc coi là một tiêu chuẩn đạo đức trong cuộc sống hàng ngày và cũng là một tiêu chuẩn đạo đức của nhà kinh doanh, một nguyên tắc cho hoạt động kinh doanh lành mạnh. Giữ chữ tín trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp đƣợc hể hiện ở chỗ tôn trọng và chấp hành kỷ luật thanh toán, thực hiện đúng và đầy đủ các trách nhiệm và nghĩa vụ tài chính đã cam kết với Nhà nƣớc, với những ngƣời có quan hệ với doanh nghiệp, với ngƣời lao động trong doanh nghiệp, với ngƣời cung cấp, với khách hàng và vơi các chủ nợ... Để thực hiện tốt nguyên tắc này, doanh nghiệp phải thƣờng xuyên kiểm soát đƣợc tình hình nợ và áp dụng các biện pháp thích hợp để đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, tổ chức tốt các nguồn tài chính để thực hiện các hợp đồng kinh tế đã ký kết với khách hàng. 1.2.6.6. Hạn chế, phòng ngừa rủi ro Hoạt động kinh doanh thƣờng gắn liền với những rủi ro. Nguyên tắc phòng ngừa, hạn chế rủi ro đƣợc thể hiện ở chỗ: đánh giá, lƣợng định khả năng thu lợi nhuận và khả năng rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải để lựa chọn cách thức huy động và đầu tƣ 12
  13. vốn một cách thích hợp; chủ động đề ra các biện pháp nhằm phòng ngừa, phân tán và hạn chế rủi ro nhƣ đa dạng hoá danh mục đầu tƣ, mua bảo hiểm tài sản, hoặc trích lập các khoản dự phòng nếu khả năng xảy ra tổn thất. 1.2.7. Bộ máy quản lý tài chính doanh nghiệp Quản lý tài chính là hoạt động có tầm quan trọng số một trong hoạt động của doanh nghiệp. Quản lý tài chính thƣờng thuộc về nhà lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp nhƣ Phó tổng giám đốc thứ nhất hoặc Giám đốc tài chính. Đôi khi, chính Tổng giám đốc làm nhiệm vụ của nhà quản lý tài chính. Trong các doanh nghiệp lớn, các quyết định quan trọng về tài chính thƣờng do một ủy ban đƣa ra. Trong khi tại các doanh nghiệp nhỏ, chính chủ nhân – tổng giám đốc đảm nhận quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Bên cạnh đó là cả một bộ máy – phòng, ban tài chính với kế toán trƣởng, kế toán viên, thủ quỹ - phục vụ nhằm cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định một cách chính xác và kịp thời, giúp giám đốc tài chính điều hành chung hoạt động tài chính doanh nghiệp. Phòng, ban tài chính có nhiệm vụ: - Trên cơ sở luật và chế độ quản lý tài chính theo quy định của nhà nƣớc, xây dựng chế độ quản lý tài chính thích hợp với doanh nghiệp cụ thể. - Lập kế hoạch tài chính đồng thời và thống nhất với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Tổ chức thanh toán kịp thời, đầy đủ, đúng hạn và đúng chế độ các khoản nợ và đôn đốc thu nợ. - Tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp và kiểm tra tài chính. - Tham gia xây dựng giá bán và thiết lập các hợp đồng kinh tế với khách hàng. 13
  14. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Tài chính doanh nghiệp là gì? Doanh nghiệp có những mối quan hệ tài chính chủ yếu gì? Trình bày bản chất của tài chính doanh nghiệp. 2. Trình bày sự khác biệt, ƣu điểm và nhƣợc điểm của các loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp tƣ nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. 3. Trình bày cơ sở nền tảng của hoạt động tài chính doanh nghiệp. 4. Trình bày sự khác biệt về chức năng và nhiệm vụ giữa kế toán và tài chính trong một công ty. 5. Trình bày và cho ví dụ minh họa các mục tiêu của tài chính doanh nghiệp. 6. Trình bày các nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp. Liên hệ thực tiễn Việt Nam. 7. Căn cứ vào những nội dung dƣới đây, tìm hiểu những nhân tố ảnh hƣởng tới tổ chức quản lý tài chính của doanh nghiệp tại Việt Nam. Tài chính là công cụ quan trọng để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Vì vậy việc tổ chức quản lý tài chính trong các doanh nghiệp đều dựa trên những cơ sở chung nhất. Tuy nhiên, mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau, điều kiện kinh doanh khác nhau, môi trƣờng kinh tế - xã hội khác nhau thì việc tổ chức quản lý tài chính cũng khác nhau. Sau đây là một số nhân tố chủ yếu ảnh hƣởng tới việc tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp. Nhân tố loại hình doanh nghiệp Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) từ năm 2006, trở thành một nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng với nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau. Hiện nay, ở nƣớc ta theo pháp lý có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau đây: - Công ty trách nhiệm hữu hạn. - Công ty cổ phần. - Công ty hợp danh. - Doanh nghiệp tƣ nhân. - Nhóm công ty (công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế...). - Hợp tác xã. Các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, doanh nghiệp Nhà nƣớc cũng đƣợc tổ chức theo từng loại hình doanh nghiệp cụ thể là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần... Loại hình tổ chức doanh nghiệp ảnh hƣởng rất nhiều tới việc tổ chức quản lý doanh nghiệp, trƣớc hết là ảnh hƣởng tới 2 vấn đề tài chính chủ yếu là: 14
  15. - Phƣơng thức tạo lập vốn và huy động vốn, chuyển nhƣợng vốn. - Phƣơng thức phân phối lợi nhuận. Sau đây sẽ xem xét việc tổ chức quản lý tài chính trong một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu. Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Có hai loại công ty trách nhiệm hữu hạn là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên. - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (chủ sở hữu công ty), chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty (trách nhiệm hữu hạn). Nhƣ vậy, một tổ chức hoặc một cá nhân có thể bỏ vốn để thành lập loại hình công ty này và trở thành chủ sở hữu của công ty. Cũng vì vậy nên chủ sở hữu có quyền quyết định tới việc quản trị và kinh doanh của công ty. Đặc thù về tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với Công ty TNHH một thành viên (1) Tạo lập vốn khi thành - Chủ sở hữu cấp vốn, đầu tƣ vốn để hình thành vốn lập công ty và khi hoạt điều lệ. động: - Đƣợc quyền huy động vốn để hoạt động theo quy định của pháp luật (không đƣợc phát hành cổ phiếu) (2) Chuyển nhƣợng vốn, - Chủ sở hữu có quyền rút vốn bằng cách chuyển rút vốn: nhƣợng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của Công ty cho tổ chức, cá nhân khác (trƣờng hợp chuyển nhƣợng một phần sẽ trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 2 thành viên trở lên). - Nếu rút vốn bằng hình thức khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới về nghĩa vụ tài sản và công nợ của công ty. (3) Phân phối lợi nhuận: - Chủ sở hữu quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau thuế sau khi hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác. - Không đƣợc rút lợi nhuận khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mặc dù có thể do một cá nhân làm chủ sở hữu nhƣng chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản 15
  16. khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty (trách nhiệm hữu hạn) chứ không phải chịu trách nhiệm vô hạn nhƣ doanh nghiệp tƣ nhân. - Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: là doanh nghiệp do các thành viên là tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu, nhƣng số thành viên không quá 50. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp của mình (trách nhiệm hữu hạn). Đặc thù về tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với Công ty TNHH hai thành viên trở lên (1) Tạo lập vốn khi thành lập - Thành viên góp vốn bằng tiền hoặc tài sản theo cam công ty và khi hoạt động: kết để hình thành vốn điều lệ. - Thành viên đƣợc ƣu tiên góp thêm vốn khi công ty tăng vốn điều lệ - Đƣợc quyền huy động vốn để hoạt động theo quy định của pháp luật (trừ việc phát hành cổ phiếu) (2) Chuyển nhƣợng vốn, rút - Thành viên đƣợc chuyển nhƣợng một phần hoặc vốn: toàn bộ vốn góp cho công ty nếu thành viên đó không tán thành các quyết định của hội đồng thành viên liên quan tới điều lệ, tổ chức... của công ty. Nếu công ty không mua lại thì đƣợc bán cho thành viên khác hoặc ngƣời khác không phải là thành viên. - Chuyển nhƣợng một phần hoặc toàn bộ vốn góp của mỗi thành viên theo nguyên tắc: + Chào bán cho nội bộ thành viên trƣớc. + Còn thừa mới chào bán ra ngoài công ty. + Đƣợc dùng để trả nợ, chủ nợ có thể trở thành thành viên hoặc bán lại (bên trong trƣớc, bên ngoài sau). - Thành viên đƣợc quyền cho, tặng, chuyển quyền thừa kế phần vốn góp. - Thành viên không đƣợc rút vốn đã góp mà chỉ đƣợc chuyển nhƣợng cho, tặng, chuyển quyền thừa kế và các trƣờng hợp giảm vốn điều lệ theo quy định của công ty. (3) Phân phối lợi nhuận, xử - Hội đồng thành viên đƣợc quyền chia lợi nhuận cho lý lỗ: các thành viên theo tỷ lệ góp khi có lãi và đã hoàn thành nghĩa vụ thuế, tài chính, đồng thời vẫn đảm 16
  17. bảo thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn trả sau khi chia lợi nhuận. - Đƣợc quyền trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế. - Nếu lỗ, hội đồng thành viên phải phê duyệt phƣơng án xử lý lỗ. Công ty cổ phần Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: - Vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. - Cổ đông (ngƣời sở hữu cổ phiếu) có thể là tổ chức, cá nhân và số lƣợng cổ đông tối thiểu là 3, tối đa không hạn chế (trừ khi các luật chuyên ngành có quy định khác). - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp (trách nhiệm hữu hạn). Nhƣ vậy, công ty cổ phần có thể có các cổ đông sở hữu số lƣợng cổ phiếu khác nhau nhƣng cổ đông cũng chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về nghĩa vụ tài chính. Trong công ty cổ phần, cần phân biệt các khái niệm đặc thù sau đây: - Cổ phần là các phần bằng nhau đƣợc chia ra từ vốn điều lệ. Ví dụ: một công ty cổ phần có vốn điều lệ do các cổ đông góp là 500 triệu đồng, mỗi cổ phần trị giá là 10.000 đồng thì số lƣợng cổ phần là 500.000.000đ/10.000đ bằng 50.000 cổ phần. - Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phiếu phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Giá trị ban đầu của mỗi cổ phiếu gọi là mệnh giá cổ phiếu. - Cổ đông là ngƣời sở hữu ít nhất một cổ phiếu đã phát hành của công ty cổ phần. Ngƣời sở hữu cổ phiếu phổ thông gọi là cổ đông phổ thông. Ngƣời sở hữu cổ phiếu ƣu đãi (cổ phiếu ƣu đãi biểu quyết, cổ phiếu ƣu đãi cổ tức, cổ phiếu ƣu đãi hoàn lại, cổ phiếu ƣu đãi khác) gọi là cổ đông ƣu đãi. - Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng đƣợc trả cho mỗi cổ phiếu bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài chính. Đặc thù về tài chính của công ty cổ phần Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với công ty cổ phần (1) Tạo lập vốn khi thành lập - Khi thành lập công ty: phải xác định vốn điều lệ và công ty và khi hoạt động: số lƣợng cổ phiếu phát hành để ngƣời mua cổ phiếu mua. Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% tổng số cổ phiếu chào bán. - Khi tăng vốn điều lệ: phát hành thêm cổ phiếu để bán bên trong và ngoài công ty. 17
  18. - Khi chuyển đổi từ loại hình doanh nghiệp khác sang công ty cổ phần thì phải xác định giá trị doanh nghiệp cũ để tính thành vốn điều lệ của công ty cổ phần và để tính mức sở hữu của các cổ đông cũ, cổ đông mới. - Đƣợc quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn hoạt động theo quy định của pháp luật, đƣợc vay của các tổ chức tín dụng. (2) Chuyển nhƣợng vốn: a. Cổ phiếu phổ thông - Đƣợc tự do chuyển nhƣợng. b. Cổ phiếu ƣu đãi biểu - Không đƣợc chuyển nhƣợng. Nhƣng sau 3 năm kể quyết (cổ phiếu có số phiếu từ khi đƣợc đăng ký kinh doanh thì cổ phiếu ƣu đãi biểu quyết nhiều hơn cổ biểu quyết của cổ đông sáng lập phải chuyển đổi phiếu phổ thông): thành cổ phiếu phổ thông. Riêng cổ phiếu phổ thông của cổ đông sáng lập thì đƣợc tự do chuyển nhƣợng trong 3 năm nói trên cho cổ đông sáng lập khác. Nếu chuyển cho cổ đông khác thì phải đƣợc Đại hội cổ đông chấp nhận c. Cổ phiếu ƣu đãi cổ tức (cổ - Đƣợc tự do chuyển nhƣợng. phiếu đƣợc trả cổ tức cao hơn cổ phiếu phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm, không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh): d. Cổ phiếu ƣu đãi hoàn lại - Đƣợc tự do chuyển nhƣợng. (cổ phiếu đƣợc công ty hoàn - Đƣợc công ty mua lại nếu chủ sở hữu yêu cầu bất lại vốn): cứ lúc nào hoặc hoàn lại vốn theo điều kiện đã ghi trên cổ phiếu ƣu đãi hoàn lại. (3) Phân phối lợi nhuận: - Đại hội cổ đông quyết định việc phân phối cổ tức, trích lập các quỹ của công ty, bù đắp đủ lỗ trƣớc đó sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác đồng thời vẫn đảm bảo khả năng thanh toán nợ đến hạn. 18
  19. Công ty hợp danh Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: - Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dƣới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. - Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty (trách nhiệm vô hạn). - Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (trách nhiệm hữu hạn). Nhƣ vậy, bản chất của công ty hợp danh là công ty trách nhiệm vô hạn, chính vì vậy luật pháp hạn chế việc huy động vốn trong thị trƣờng dƣới hình thức phát hành các chứng khoán (công cụ nợ). Đặc thù về tài chính của công ty hợp danh Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với công ty hợp danh (1) Tạo lập vốn khi thành lập - Khi thành lập công ty, các thành viên hợp danh và công ty và khi hoạt động: thành viên góp vốn phải góp vốn đủ theo cam kết. Vốn góp có thể bằng tiền hoặc tài sản khác và tài sản phải chuyển quyền sở hữu cho công ty. Có thể tiếp nhận thêm thành viên mới sau khi đã hoạt động. - Đƣợc quyền huy động vốn cho kinh doanh (vay của các tổ chức tín dụng) nhƣng không đƣợc phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. (2) Chuyển nhƣợng vốn, rút - Thành viên hợp danh không đƣợc chuyển nhƣợng vốn: một phần hoặc toàn bộ vốn góp tại công ty cho ngƣời khác nếu không đƣợc sự chấp thuận của các thành viên còn lại. - Thành viên hợp danh có thể rút vốn khỏi công ty nếu đƣợc Hội đồng thành viên chấp thuận và phải thông báo trƣớc ít nhất 6 tháng. - Thành viên góp vốn đƣợc quyền chuyển nhƣợng phần vốn góp cho ngƣời khác. (3) Phân phối lợi nhuận: Hội đồng thành viên (Hội đồng của tất cả thành viên) quyết định việc phân phối lợi nhuận, bao gồm tổng số lợi nhuận sau thuế đƣợc chia và số lợi nhuận đƣợc chia cho mỗi thành viên theo tỷ lệ vốn góp hoặc theo quy định trong Điều lệ công ty. 19
  20. Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tƣ nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Thực chất doanh nghiệp tƣ nhân chỉ do một cá nhân làm chủ nên phải chịu trách nhiệm vô hạn về nghĩa vụ tài sản, nợ nần của công ty trong quá trình kinh doanh. Pháp luật hiện hành cũng quy định mỗi cá nhân chỉ đƣợc thành lập một doanh nghiệp tƣ nhân. Đặc thù về tài chính của doanh nghiệp tƣ nhân Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với doanh nghiệp tƣ nhân (1) Tạo lập vốn khi thành lập - Vốn điều lệ do chủ doanh nghiệp đăng ký, bao gồm công ty và khi hoạt động: tiền, tài sản. Nếu là tài sản khác ngoài tiền, vàng thì chủ doanh nghiệp phải kê khai rõ loại tài sản và giá trị còn lại của tài sản. - Chủ doanh nghiệp có quyền đăng ký hoặc giảm vốn đầu tƣ trong quá trình kinh doanh, nhƣng nếu giảm vốn xuống thấp hơn vốn đầu tƣ đã đăng ký thì phải đăng ký lại trƣớc khi giảm vốn. - Vì là công ty trách nhiệm vô hạn nhƣ công ty hợp danh nên doanh nghiệp tƣ nhân không đƣợc huy động vốn bằng cách phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. (2) Chuyển nhƣợng vốn, rút - Chủ doanh nghiệp tƣ nhân có quyền cho thuê toàn vốn: bộ doanh nghiệp của mình nhƣng vẫn phải chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật với tƣ cách là chủ sở hữu doanh nghiệp. - Chủ doanh nghiệp tƣ nhân cũng có quyền bán doanh nghiệp cho ngƣời khác nhƣng phải thông báo đầy đủ nghĩa vụ tài chính chƣa hoàn thành cho cơ quan đăng ký kinh doanh trƣớc khi chuyển giao doanh nghiệp cho ngƣời mua. (3) Phân phối lợi nhuận: Chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau thuế. Nhóm công ty Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối liên hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trƣờng và các dịch vụ kinh doanh khác. Nhóm công ty có thể là các hình thức: công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế hoặc các hình thức 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2