
ĐINH QUANG MỸ
THIỀN TRÚC LÂM

DẪN KHỞI
Thiền học, trước hết là một nỗ lực tư duy trên đường tìm kiếm thực tính của thực tại. Nỗ lực đó đặt
người học Thiền ở vào thế sống chết với chính mình trên chiếc cầu nối liền hai bờ Mê và Ngộ. Chính trên
chiếc cầu này, người học Thiền thực hiện một cơn chết lớn, đi vào chỗ quyết định, phá hủy tất cả và thành
tựu tất cả để sống dậy giữa đời trong một phong thái đặc biệt, bằng một nhãn quan "Kiến tính" đến triết
đế, không còn bị trói buộc trong bất cứ một hình thái sai biệt nào của thế giới hiện tượng không ngừng
sinh thành và hoại diệt mà thong dong tự tại như gió thổi, nước trôi. Nơi những con người đã đi qua cầu,
đã trải qua cơn chết lớn này, ta có thể bắt gặp những khuôn mặt lạnh lùng đến tàn nhẫn, những thái độ
đến cao ngạo đến ngông cuồng, những hành động khác thường đến kỳ quặc; những ngôn ngữ hiểm hóc
đến kỳ bí….; hay cũng có thể, ngược lại hoàn toàn những gì vừa nói. Thiền Tông Trung Hoa cung cấp
cho ta khá nhiều dữ kiện cho những hình ảnh loại này. Và Thiền tông Việt Nam cũng không phải là
không có.
Đứng trên lập trường luận lý, dưới cái nhìn của con mắt thịt, những hình ảnh như thế có thể là vô nghĩa
và vô lý. Nhưng đứng trên lập trường "Kiến tính" của Thiền học, ở vào cái thế mặt đối mặt, tâm đối tâm,
những hình ảnh đó phải được nhìn trong sự tác động của nó đối với tâm trí mê ngủ. Ơû đây, chúng trở
thành những đầu đề khá quyến rũ cho nỗ lực tư duy. Chính cái hấp lực khá quyến rủ này đã là động cơ
thức đẩy chúng tôi tìm hiểu nguồn suối Thiền.
Nhưng, một trào lưu tư tưởng không thể thành hình bên ngoài những điều kiện bức bách của đời sống.
Hay nói khác hơn, chính những điều kiện bức bách của đời sống đã là cái yêu cầu chân chính cho một
trào lưu tư tưởng xuất hiện kể từ đó, mở ra những chân trời mới cho khát vọng của con người. Thiềnhọc
dù không hẳn là một trào lưu tư tưởng thuần túy cũng không có ngoại lệ. Huống chi, chủ yếu của Thiền là
đánh thức dậy, dựng đứng dậy cái con người mê ngủ từ bấy lâu nay bằng tất cả mọi phương tiện có thể
được, miển sao thích hợp với cơ cấu tâm lý và vật lý của đối tượng. Như thế, theo những điều kiện của
đời sống, của cơ cấu tâm lý và vật lý của con người Việt Nam và với khát vọng của nó, Thiền học Việt
Nam phải thích hợp với con người ở đây, phải có riêng cho nó những nét độc đáo để giải quyết thỏa đáng
những mâu thuẩn nội tại của con người và cộng đồng dân tộc Việt Nam, để thoả mãn những yêu cầu, khát
vọng của nó. Đây là cái ý thức dẫn đạo cho chúng tôi, trong khi tìm hiểu Thiền, đã chú tâm học hỏi và tìm
hiểu Thiền học Việt Nam
Hẳn nhiên, trên con đường học hỏi và tìm hiểu này, chúng tôi không thể không nghĩ đến, dòng Thiền
Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, những dòng Thiền đã mở ra những chiều hướng khá
đặc biệt cho truyền thống Thiền học Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi đã chọn Thiền học Trúc Lâm Yên
Tử làm đối tượng cho sự học hỏi và tìm hiểu của mình. Điều đó không phải là không có lý do:
-Trước hết, trên phương diện lịch sử, Trúc Lâm Yên Tử là một phái Thiền mà người mở đường cho nó,
Trần Thái Tông vừa là người khai sáng ra triều đại nhà Trần, một triều đại thịnh trị đặc biệt về mọi mặt,
nhất là về đường sáng tạo của tư tưởng và về cái tinh thần Thiền học đặc biệt của nó. Một người vừa là
Thiền sư, vừa là một bậc đế vương, nắm giữ vận mệnh của đất nước, thực là một sự kiện hy hữu torng
lịch sử Thiền học mà chúng ta phải thấy bằng tất cả sự nghiêm cẩn.
-Sau nữa, trên phương diện tư tưởng và hành trì; Trúc Lâm Yên Tử đã là phái Thiền qui kết, thống hợp
được mọi trào lưu tưởng lưu lộ từ trước và đương thời, làm nổi bật được cái tính chất toàn thể và Nhất
quán trong truyền thống tư tưởng Việt Nam; dung hòa một cách vô cùng tốt đẹp giữa lý tưởng quốc gia
và lý tưởng tôn giáo, giữa đời và đạo, giữa cánhân và tập thể, hay nói cách khác, giữa khát vọng của tâm
linh mình với cái khát vọng chung của tập thể mà đời sống của Trần Thái Tông, người mở đường cũng
như của Tam Tổ đã là những thể hiện viên mãn. Từ đó, Thiền Trúc Lâm thực đã mở ra một con đường
thích hợp cho hậu thế thấy đâu là cái ý nghĩa sống còn của cá nhân trong sự sống còn của tập thể. Đồng
thời, Thiền Trúc Lâm với phương pháp Thiền Bái sám trong khi vẫn không chối bỏ Thiền Công án là một
sắc thái đặc biệt khác, không phải là không đáng nói đến.

Thêm vào đó, trên phương diện tín ngưỡng dân gian và trong lãnh vực văn học, Thiền Trúc Lâm đã có
những đóng góp khá lớn lao để xây dựng một nếp tín ngưỡng dân tộc, một phong thái bút pháp văn học
đặc biệt, thích hợp với cái cảm quan đa diện và nếp sống khốn khó mọi bề của con người Việt Nam.
Trên đây là những đặc trưng của Thiền Trúc Lâm mà chúng tôi cho đó cũng là những đặc trưng của
đạo Phật và còn của tinh thần dân tộc Việt Nam. Sự tìm hiểu về Thiền Trúc Lâm, vì thế là một cố gắng đi
tìm trở lại cái bản sắc đặc biệt của Đạo Phật và của tinh thần dân tộc Việt Nam trong chính cao điểm
thành tựu của nó là Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Hẳn nhiên, đây chỉ là một cố gắng khiêm tốn của một khả
năng giới hạn nhỏ bé. Con đường trước mặt còn chờ đợi nhiều khai phá từ những đầu óc bậc thầy khác
mà chúng tôi tin tưởng sẽ có. Để từ đó, khả dĩ mở ra chân trời giải thoát cho cơn bế tắc khủng hoảng về
tinh thần hiện nay của dân tộc ta.

CHƯONG I. THIỀN TÔNG VIỆ NAM
THIỀN TRÚC LÂM
Trên danh nghĩa, Trúc lâm Yên tử là Thiền tông. Nhưng trong tinh thần, cũng như trên thực sinh tế tu
tập và sự truyền thừa lịch sử của nó, Trúc lâm phải được coi là một phái Thiền đứng ngoài Thiền tông
Trung Hoa. Tất cả ý nghĩa này có thể được tóm tắt trong mấy câu thơ sau đây của Thiền tông Bản Hạnh
(v.t: TTBH)
Bụt truyền tự cổ chí kim
Ai tin giá trị tri âm thiệt thà
Xem Thánh đăng lục giảng ra
Khêu đèn Phật tổ sáng lòa tam thiên
Việt nam thắng cảnh Hoa Yên
Sái tiêu cực lạc Tây Thiên những là
Vĩnh trấn cửu phẩm Di Đà
Phần hương chức Thánh quốc gia thọ trường.
(TTBH, tờ 19a, câu 699-706)
Đoạn thơ này cho chúng ta biết ít nhất là hai nét đặc sắc của Thiền Trúc lâm. Nét thứ nhất, Trúc lâm
vẫn xứng danh như một phái Thiền chính thống, mà truyền thừa tâm ấn được khởi từ đức Thích Ca, rồi
như ngọn đèn được khêu sáng qua nhiều thế hệ, cho đến Việt Nam1. Đó là tất cả ý nghĩa truyền thừa căn
bản theo quan niệm Thiền tông chính thống Trung Hoa. Nét đặc sắc khác, liên hệ đến đường lối hành trì.
Ở đây người ta thấy Trúc lâm đã không đặt nặng sự thực hành công án để đốn ngộ đạo lý Thiền như trong
truyền thống Thiền tông Trung Hoa. Thiền tông Trung Hoa kể từ nhà Minh về sau đã có sự thực hành
công án bằng niệm Phật. Theo đó, niệm Phật vẫn có thể là phương tiện để đốn ngoä2. Trong khi đó, tác
giả của TTBH lại nói đến lý tưởng vãng sanh, mà cấp bực thành tựu là chín phẩm sen vàng nơi cỏi cực
lạc. Nói một cách vắn tắt, phương pháp hành trì của Trúc lâm nghiêng nặng phần tín ngưỡng tôn giáo.
Động cơ hay bối cảnh của phương pháp này, như đoạn thơ đã trích dẫn nói rõ: “Phần hương chúc Thánh
quốc gia thọ trường”3. Thế thì Thiền Trúc lâm mang một sắc chủ nghĩa quốc gia khá rõ. Và đây không
phải là sự kiện khó hiểu, khi chúng ta biết rằng, tất cả những vị khai sáng ra nó đều là những người có
trách nhiệm trực tiếp với sự tồn vong của quốc gia dân tộc.
Trong hai nét đặc sắc vừa kể, nét thứ nhất xác định với chúng ta rằng, Trúc lâm đích thực là Thiền
tông. Nét thứ hai dành cho Trúc lâm một vị trí địa dư và lịch sử trong truyền thống tư tưởng của dân tộc.
Chương này sẽ trính bày nét thứ nhất. Trước khi trình bày các sự kiện liên hệ, chúng tôi xin dành ít trang
nói về quan niệm truyền thừa của phái Thiền Trúc lâm, để cuối cùng thiết lập một bản Phả Hệ Truyền
Thừa của phái này.
Quan niệm truyền thừa được TTBH giới thuyết khá rõ, qua lời đối đáp của vua Trần Thái Tông và Phù
Vân Quốc sư. Dưới đây là lời của Phù Vân Quốc sư:
Sơn bổn vô Phật làm xong
Phật ở trong lòng, Bụt tại mỗ tâm
Hiện ra nhãn nhĩ thanh âm
Từ mục tương cố chẳng tâm thời gì?
1 Quan niệm này cũng được Hòa thượng Phúc Điền xác nhận trong bài tựa viết cho Đại nam Thiền Uyển Kế đăng lục, bản
trùng san năm Tự Đức thứ 12: "Kế thế Truyền đăng vi hà tự hồ? Tây thủy tổ Ca-diếp, Châu Mục vương chi thời, đông tị tổ Đạt
Ma, Lương Vũ Đế chi thế. Nam sơ tổ Vô Ngôn Thông, Đường Huyền Tông chi đại. Dữ phù Phật chi thọ ký, tổ chi truyền
đăng, quốc chi thanh sử, tộc chi gia phả, kế vãng khai lai, thượng hạ tương thừa, cổ kim bất dị tam gia chi bản giả."
2 Về niệm Phật và thực hành công án của Thiền tông Trung Hoa, có thể đọc trong Thiền Luận bộ trung của Susuki, bản dịch
Việt ngữ của Tuệ Sỹ.
3 Lý tưởng thịnh hóa của Phật đạo và thịnh trị của quốc gia rãi rác nhiều chỗ trong Thiền tông Bản Hạnh. Dẫn thêm một đoạn
khác:
Nước Nam đẹp được bốn bên
Vì có Phật bảo hoàng thiên hộ trì
Đời đời Phật đạo quang huy
Quốc gia đỉnh thịnh cường thì tăng long.

(TTBH, câu 235-238)
Một điểm khá lý thú đối với chúng ta là quan niệm về Thiền của tác giả Đại Chân Viên Giác Thanh
(v.t: VGT). Theo đó, tác giả đã đồng nhất Thiền tông và Thiền đăng. Nhìn từ bên ngoài, danh từ Thiền
đăng, tức ngọn đèn của Thiền, chỉ có thể cho ta cái ấn tượng về lịch sử tiếp nối của tông phái như sự nối
tiếp của ánh đèn. Nhưng ở đây tác giả VGT đi xa hơn nữa, khi ông giải thích:
“Tăng Hải Hòa nói: Trong đời các vị Đế thì coi thiên hạ là của công, không thể riêng cho con cháu mà
tất phải truyền lại cho những bậc Thánh hiền, vì thế mới nảy ra cái thuyết Thiền (tức là chữ thiền có nghĩa
là trao lại). Thiền ấy là tỏ nghĩa cùng trao truyền cho nhau vậy. Hiện nay các vị sư sau tiếp nối vị sư Tổ
trước, thì gọi là thiền sàng. Thiền sàng tức là đem cái giường và chỗ ngồi mà trao lại, cũng như các vị Đế
đem ngôi vua mà trao lại cho nhau vậy. Nhưng sự trao lại ấy không phải là trao lại cái ngôi vị mà chính là
trao lại cái tâm.
“Đức Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ đem cái tâm lượng rộng lớn trao cho chư Phật, rồi chư Phật đều lấy (tờ
61a) tâm ấy là tâm của mình. Câu kệ nói:
Ngàn sông có nước ngàn sông nguyệt
Muôn dặm không mây muôn dặm trời.
(TTBH, câu 661-664)
“Như thế mới gọi là Thiền. Nếu bằng chỉ trao lại cái ngôi vị mà không có cái tâm tinh nhất để trao thì
có cần gì đến vua Nghiêu vua Thuấn.
“Hiện nay nhất thiết các tăng chúng chỉ thấy ngồi lặng tĩnh tâm thì gọi là Thiền Định, và dạy cho Thiền
định tức là an định, như thế thực là mất cái nghĩa chữ Thiền. Mãi đến sau khi đức Đại Thiền sư phát minh
ra nghĩa đó mới hiểu rõ hai chữ Thiền định có nghĩa là đem cái tâm an định mà truyền lại vậy. Gần đây ở
chùa Đại Từ thuộc về Lam sơn, phía bên cạnh có một cái am gọi là am Thụ Thụ (chữ Thụ trên là trao cho,
chữ Thụ dưới là nhận lấy) và bày thứ tự các tượng của các sư Tổ các đời kế tiếp, xem đó dù không biết
cái tâm thụ thụ là như thế nào, song sự trao cho và nhận lấy đó có lẽ đúng với ý nghĩa chữa Thiền1.”
(Nguyên văn: 海和僧曰帝者之世,天下為公,不自私其子孫,而必傳諸賢聖。是以有禪之說。
禪也者遞相傳授之謂也。今後師繼前祖師, 曰禪床曰禪坐; 以創與坐相傳; 亦猶帝者之以位相
禪耳。豈知禪不以位而以心。觀世音菩薩唯以心量之廣大禪諸佛。 諸佛閣以其心為心。 偈云
千江有水千江月
萬里無雲萬里天
這方謂之能禪。 若徒禪之位而無精一之心法以禪之,亦奚取於堯舜況區區床坐能不愧人之尊信
也哉。今我一切僧眾但見靜坐息心謂之禪定,便訓禪定為安定, 大失禪字之義。 自大禪師發明之
後方知禪定者以心之靜定相傳。近見覽山大悲寺旁有授受庵列諸代祖師像,雖不知授受之心為何
如, 然所以相授受者其禪之謂歟
Hải Hòa tăng viết: Để giả chi thế, thiên hạ vi công bất tự tư kỳ tử tôn nhi tất truyền chư Thánh hiền.
Thị dĩ hữu Thiền chi thuyết. Thiền dã giả đệ tương truyền thụ chi vị dã. Kim hậu sư kế tiền Tổ sư, viết
thiền sàng, viết thiền tòa, dĩ sàng dự tọa tương thiền, diệc do Đế giả chi dĩ vị tương thiền nhĩ. Khởi tri
thiền bất dĩ vị nhi dĩ tâm. Quan Thế Âm Bồ Tát duy dĩ tâm lượng chi quảng đại thiền chư Phật. Chư Phật
các dĩ kỳ tâm vi tâm, kệ vân:
Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt,
Vạn lý vô vân vạn lý thiên.
Giá phương vị chi năng thiền. Nhược đồ thiền chi dĩ vị nhi vô tinh nhất chi tâm pháp dĩ thiền chi, diệc
hề thủ ư Nghiêu Thuấn? Huống khu khu sàng tòa năng bất quí nhân chi tôn tín dã tai.
Kim ngã nhất thiết tăng chúng đãn kiến tĩnh tọa tức tâm vị chi thiền định, tiện huấn thiền định vi an
định. Đại thất thiện tự chi nghĩa. Tự Đại Thiền sư phát sinh chi hậu phương tri Thiền định giả, dĩ tâm chi
tĩnh định tương truyền. Cận kiến Lãm sơn Đại bi tự bàng hữu Thụ thụ am, liệt chư đại Tổ sư tượng, tuy
bất tri thụ thụ chi tâm vi hà như nhiên, sở dĩ tương thụ thụ giả kỳ Thiền chi vị dư?)2.
Đoạn văn được trích dẫn rất dài trên đây không những đã cho ta biết tính cách quan trọng về sự truyền
thừa của Thiền, mà còn nói đến cái đặc sắc của Thiền Trúc lâm, khi tác giả coi sự truyền thừa liên tục của
1 Tam Tổ Hành Trạng, bản dịch Việt ngữ của Trần Tuấn Khải, tr. 93-94.
2 Bình giải về “Xu thanh ” 樞聲 thứ 23 của Hải Hòa. Sách đã dẫn (x.c.t.6, Ch I), phần chữ Hán, tờ 60b-61b.

