Tiêu chuẩn nào để đánh giá sự an toàn ca
các ngân hàng?
Khủng hoảng tài chính năm 2008 đã chứng minh kể cả khi đáp ng được
những tiêu chun khắt khe về vốn, các ngân hàng cũng không tránh
được đổ vỡ.
Từ trước đến nay, đánh giá rủi ro luôn là phương pháp được các quan
quản lý sử dụng để đo lượng sự vững chãi của các ngân hàng lớn. Trước
tiên, hyêu cầu các nhân viên ngân hàng báo cáo về tính chất rủi ro của các
khoản đầu tư của ngân hàng. Tiếp theo, họ sẽ xét xem liu ngân hàng đó có
đủ vốn để phòng chng rủi ro thua lỗ tiềm ẩn hay không.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã chứng minh rằng
phương pháp này liên tiếp thất bại.
Giống như hầu hết các công ty khác, các ngân hàng tự tài trợ vốn bằng rất
nhiều khoản nbao gồm nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu và cuối cùng là
huy động vốn từ các cổ đông. Trong đó, vốn là phần rất quan trọng đối với
sự tồn tại của ngân hàng. Nếu như khon đầu tư tồi tệ có thể khiến giá trị tài
sản của ngân hàng gim xuống, nguồn vốn cũng sẽ giảm đi 1 lượng tương
tự.
Nếu như nguồn vốn cạn kiệt, ngân hàng s rơi vào tình trng mất thanh
khoản, thậm chí là phá sn hoặc cần đến sự trợ giúp của chính phủ. Đó chính
là lý do sao ngân hàng phi tuân thủ các điều kiện về vốn.
Hiện nay, theo chuẩn Basel II và Basel III được công nhận trên toàn cầu, 1
ngân hàng sđược quyết định là có đủ vốn hay không sau khi xem xét khối
lượng tài sản điều chỉnh theo rủi ro của ngân hàng.
Ví dụ, 1 trái phiếu có mệnh giá 1 nghìn tỷ USD và được xếp hạng AAA s
không được xem xét bởi chắc chắn ngân hàng sẽ thu hồi li được số tiền từ
trái phiếu đó. Bởi vậy, cho dù ngân hàng có tổng tài sản là 2 nghìn tỷ USD,
tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro cũng chỉ có giá trị 1 nghìn tỷ USD. Nếu như
ngân hàng đó có lượng vốn là 100 tỷ USD, tỷ lệ vốn điều chỉnh theo rủi ro
sẽ là 10%.
Thước đo không chính xác
Lịch sử đã chứng minh thước đo này là không chính xác. Hãy lấy Deutsche
Bank là 1 ví dụ. Theo báo cáo, ngân hàng này có tỷ lvốn cấp 1 tính đến
ngày 30/6 là 10,2%. Trong khi đó, tlệ vốn chủ sở hữu đang ở mức gần
2,5% tng tài sản. Top 10 ngân hàng hàng đầu nước Mỹ cũng có tỷ ltương
tự khi khủng hoảng tài chính xảy ra: tỷ lệ vốn trung bình của các ngân hàng
này là 11% trong khi tlvốn chủ sở hữu trên tổng tài sản là 2,8%.
Vậy thì, tiêu chuẩn nào mi là chính xác? Sự thực là, các ngân hàng luôn
mun vay tiền nhiều nhất có thể bởi điều đó sẽ giúp tăng lợi nhuận cho các
cổ đông. Tuy nhiên, điều đó chỉ đúng khi mọi việc diễn ra sn sẻ. Ngược
li, đây sẽ là mối đe dọa lớn đối với hệ thống tài chính và rộng hơn là cả nền
kinh tế.
Nếu như các ngân hàng chịu trách nhiệm đánh giá rủi ro của chính họ, chắc
chắn họ scố gắng hạ thấp rủi ro. Đây chính là những gì đã xy ra đối với
các chứng khoán có tài sản đảm bảo và các công cụ phái sinh trên thị trường
tài chính Mỹ. Điều tương tự cũng xảy ra với các khoản vay bất động sản ở
Ireland và Tây Ban Nha cũng như các khoản nợ quốc gia khổng lồ của toàn
châu Âu.
Không chỉ có vậy, các nhà làm luật cũng không thể xuất sắc n so với các
nhân viên ngân hàng trong quá trình quyết định lượng tài sản điều chỉnh theo
rủi ro. Thứ nhất,c con số bị ảnh hưởng nặng nề bởi các ngân hàng. Th
hai, hệ thống hiện nay không chỉ quá phức tạp và rng lớn mà còn quá d
dàng để sử dụng mánh khóe.
Trên thực tế, không ai có thể tính toán chính xác số tài sn điều chỉnh theo
rủi ro. Chuyên gia pn tích ti các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cũng có th
gặp phải sai sót và điều tương tự cũng có thể xảy ra với các chuyên gia kinh
tế.
Giải pháp là gì?
Hệ thống tài chính cn những luật lệ đơn giản, dễ hiểu và dáp dụng. Thước
đo phù hợp nhất với các tiêu chun này chính là tỷ lệ vốn hữu hình trên tài
sản hữu hình. Tài sn thuế thu nhập hoãn lại là loại tiêu biểu cho tài sản hữu
hình bởi ngân hàng chỉ có thể sử dụng tài sản này để giảm thuế khi chúng
thực sự đang được sử dụng và tạo ra lợi nhuận.
Theo chun Basel III, tỷ lệ vốn hữu hình ti thiểu chỉ là 3,25%. i 1 cách
khác, giá tr tài sn giảm 3,25% có thể “thổi bay” vốn của ngân hàng. Tỷ lệ
này là quá thấp trong bối cảnh hệ thống tài chính ngày càng gặp phải nhiều
rủi ro như hiện nay.
Loại bỏ tiêu chí tài sn điều chỉnh theo rủi ro và ng dần tỷ l vn hữu hình
lên 20% có vẻ sẽ là 1 giải pháp hợp lý. Nhà đầu tư rót tiền vào các ngân
hàng skhông có được lợi nhuận cao hơn trước nhưng chắc chắn sẽ gặp phải
ít rủi ro hơn. Thêm vào đó, chi phí huy động vốn của các ngân hàng cũng
không tăng lên